“Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn. Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh (hay ngôn ngữ – đối tượng)” – Roland Barthes.

8. Tư tưởng – triết học – văn hóa

Làng xã Việt Nam và ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội Việt Nam hiện đại (phần 1/2)

LTS: Trên con đường “đến hiện đại từ truyền thống”, GS Trần Đình Hượu (1926 – 1995) – một trong các học giả hàng đầu ở Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ XX, đã có nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc, mà nổi lên là nghiên cứu về Nho giáo, về vai trò của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng và văn hóa Việt Nam.  Http://phebinhvanhoc.com.vn trân trọng giới thiệu một công trình nghiên cứu của GS Trần Đình Hượu, với tư cách một bài giảng, trình bày tại Viện nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật Việt Nam năm 1991. Hai mươi mốt năm đã trôi qua, song thiết nghĩ, nhiều nội dung của công trình này vẫn còn ý nghĩa thời sự của chúng…      

* Đọc tiếp

Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp (phần 3/3)

Phan Ngọc

         Quá trình giải thể cấu trúc

Mặc dầu thời gian dài chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa Pháp chỉ sáu mươi năm, có thể nói văn hóa Việt Nam đã thay đổi rõ rệt hơn thời gian dài tiếp xúc với văn hóa Hán trên hai nghìn năm. Xét về bề mặt, mọi mặt của văn hóa Việt Nam trước đây đều mang hình thức Trung Quốc, song văn hóa Trung Quốc không tạo nên được một sự thay đổi về hệ tư tưởng. Đó là vì Việt Nam và Trung Quốc đều là biểu hiện cùng một phương thức sản xuất gọi là phương thức sản xuất châu Á, đều là những biểu hiện của nền kinh tế cống nạp. Có sự khác nhau về trình độ, nhưng không khác nhau về bản chất. Dưới một chế độ như vậy, người dân chỉ có quyền hưởng dụng, không có quyền sở hữu, quyền sở hữu là quyền của nhà vua về danh nghĩa, nhưng thực ra là để phục vụ bộ máy quan liêu. Kết quả, không thực sự có giai cấp, nên mọi người chỉ cần thi đỗ là làm quan, và mội người làm quan thì cả họ được nhờ, và ngược lại một người phạm tội, cả họ bị trị tội.

Cũng vậy, không có hàng hóa theo nghĩa đen của chữ này, tức là một vật mà mọi người phải mua với một giá như nhau. Cũng không có pháp luật, theo nghĩa là những qui định chung áp dụng như nhau cho mọi người, khách quan. Ở đây, tục lệ gần như thay thế pháp luật, và pháp luật chỉ chú trọng đến hình luật, tức là những qui định về sự vi phạm tục lệ, mà hầu như không có dân luật, khi quyền lợi một người thay đổi theo cương vị trong tôn ti, trong đó có vai trò của lí lịch là cực kì quan trọng. Ở một xã hội như vậy, tôn ti là tất cả, chứ không phải là tài năng, sức lao động. Tôn ti cai trị biểu hiện thành bổng lộc, những đặc quyền theo cấp bậc. Tiền lương thực tế không đáng kể, mà sự hưởng thụ là dựa trên bổng lộc. Toàn bộ bộ máy nông thôn sống đơn thuần bằng bổng lộc, mà không có lương. Dân phải nộp cả thuế lẫn tô. Tô và thuế là được qui định chung cho từng làng rồi sau đó bộ máy hào lí qui định phần đóng góp của từng hộ. Lễ là then chốt, cái chìa khóa làm xã hội này vận hành. Người ra phải học nó từ nhỏ và phải suốt đời theo nó. Mục đích của lễ là củng cố tôn ti bằng một hình thức đẹp, đôi khi có vẻ dân chủ. Do đó, có họp làng, cúng tế, khao vọng, lễ hội. Dĩ nhiên, đã có sự thay đổi khi triều đại Nguyễn thay thế triều đại Lê, khi ông quan này thay ông quan khác. Nhưng các nguyên lý làm kỉ cương cho xã hội không hề thay đổi. Chính vì vậy sự tiếp thu văn hóa Hán, xét cho cùng chỉ là cấp những hình thức mới, có thể đẹp mắt hơn, nhưng không xảy ra hiện tượng cấu trúc hóa lại văn hóa cũ, trước hết bằng cách giải thể cái cấu trúc cũ, tổ chức nó lại theo một kiểu mới. Khi tiếp xúc với Pháp, dần dần diễn ra một sự giải thể cấu trúc. Quá trình này cho đến năm 1945 vẫn chưa trọn vẹn, nhưng điều cơ bản đã xuất hiện. Việt Nam, từng bước một, rời khỏi phương thức sản xuất châu Á để nhập vào guồng máy chung của thế giới. Đọc tiếp

Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp (phần 2/3)

                                                                   Phan Ngọc

Ba xu hướng phê phán Nho giáo (tiếp theo)

Các biếm họa của Phong hóa, Ngày nay đã tung ra ba điển hình quen thuộc với nhân dân trong những năm 1930 – 1934 không kém gì các nhân vật của Nguyễn Du, đó là: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh, cùng các nhân vật của xã hội mới đại diện cho lớp người thân Pháp. Nhóm Tự lực Văn đoàn, có lẽ vì nhìn xã hội theo con mắt tư sản, nên đối với họ, nông thôn chỉ là chốn quê mùa, dốt nát, là xứ sở để bọn Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh hoành hành, nơi tập trung mọi hủ tục: khao vọng, xôi thịt, đút lót, tệ ăn trên ngồi trốc, ma chay, đình đám. Còn thái độ đối với nông dân tuy có khác nhau từ chỗ là kẻ chỉ biết chịu đựng, mất hết nhân cách như ở Nhất Linh (trong Chàng nông phu) đến những còn người tốt, hiền lành, nhưng bất lực (trong Thạch Lam), nhưng điều không thấy là phẩm chất cao quí của người lao động, điều mà Xô-viết Nghệ Tĩnh lẽ ra phải là một bài học. Đối với xã hội thành thị, hai tờ báo công kích tệ tham ô, chế độ nghị gật, sự xu nịnh Pháp, nhưng không đả động đến phương diện kinh tế là mặt kìm hãm sự hình thành của nền kinh tế tư sản dân tộc.

Xu hướng này có những mặt tích cực. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp (phần 1/3)*

LTS: Cuối thế kỷ 19, người Pháp đã xâm chiếm xong toàn bộ Việt Nam và lập tức xây dựng chế độ thuộc địa dưới các hình thức khác nhau ở ba miền. Từ đó, xét về văn hóa, người Việt Nam đã không chỉ tiếp xúc với văn hóa Pháp qua những thương nhân hay nhà truyền giáo, mà bắt đầu phải chung sống với văn hóa ấy trong các tình huống khác nhau, có thể là cưỡng bức, tự phát hoặc tự giác. Từ đó, một quá trình tiếp biến văn hóa đã diễn ra và làm thay đổi cơ bản rất nhiều quan niệm, thói quen, tập quán, đặc biệt là phương thức tư duy,… để rồi, văn hóa Việt Nam đã bước sang một thời kỳ mới mà nhiều dấu ấn còn nguyên vẹn tới hôm nay. Được sự đồng ý của PGS. Phan Ngọc, http://phebinhvanhoc.com.vn  trích đăng một phần từ công trình nghiên cứu của ông về tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp, qua đó góp phần lý giải một số căn nguyên của sự thay đổi mà dường như tới hôm nay, nhiều người trong chúng ta vẫn chưa thấu đáo…

                                                                                  Phan Ngọc Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Quan niệm của thông diễn học về văn hoá

Rui Sampaio

Tóm tắt: Heidegger, người sáng lập của hệ hình thông diễn (hermeneutic paradigm), bác bỏ lối tường thuật truyền thống về hoạt động văn hóa như là một cuộc tìm tòi các nền tảng có giá trị phổ quát cho hoạt động và tri thức của con người. Công trình chính của ông, Sein und Zeit Hữu thể và Thời gian (1927), khai triển một tri thức học tổng thể, theo đó toàn bộ nghĩa đều phụ thuộc vào bối cảnh và thường xuyên được dự kiến từ một chân trời, một viễn cảnh hay một bối cảnh đặc thù của khả giác (intelligibility). Kết quả là một sự phê phán mạnh mẽ nhằm chống lại cái lý tưởng về tính khách quan (the ideal of objectivity). Gadamer chia sẻ với Heidegger các suy tư thông diễn học (the hermeneutic reflections) được khai triển trong Sein und Zeit và sự phê phán về tính khách quan, mô tả hoạt động văn hóa như là một tiến trình vô tận của “các hòa nhập những chân trời” (“fusions of horizons”). Một mặt, đây là một tiếng vang của thuyết chỉnh thể Heidegger, tức là, của luận đề rằng toàn bộ nghĩa phụ thuộc vào một ngữ cảnh diễn giải đặc thù. Nhưng mặt khác, quan niệm này là một toan tính đối đầu với tính tương đối của đời sống con người và né tránh những nguy cơ của một chủ nghĩa tương đối triệt để. Thực vậy, thông qua một tiến trình tự do, vô tận và không thể đoán trước được về “các hòa nhập những chân trời”, chân trời đích thân của chúng ta dần dần được rộng mở và loại bỏ những thành kiến xuyên tạc của nó khiến cho tiến trình giáo dục [Bildung] chủ yếu là sự gia bội (multiplication) này của các kinh nghiệm thông diễn. Do đó, Gadamer đã thành công khi trình bày một lý thuyết văn hóa phi quy nguyên luận (non-foundationalist) và phi mục đích luận (non-teleological).

Văn hóa ứng xử từ Foucault đến Deleuze

Phan Quang Anh

 

1. Đôi điều về ứng xử

Một cộng đồng, là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường, thường có cùng mối quan tâm chung. Trong cộng đồng, cầu nối giữa các thành viên được hiểu như các kế hoạch, niềm tin, mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều kiện khác có thể có, cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng. Mọi nhịp cầu đều phải được thực hiện qua các hình thức truyền đạt và thu nhận tín hiệu bởi một hình thức mà Karl Marx đã nhận định như một thể thức động của tư duy ngôn ngữ (1), dưới cả hai hình thức chính thống là ngôn bản và văn bản, cũng như sự trợ giúp từ các hệ thống giao tiếp phi ngôn từ khác. Sự trao đổi này giúp con người khai triển bản thân về nhân cách và mở rộng vòng xoáy quan hệ theo những cung sóng lan tỏa ngày càng rộng hơn, tùy thuộc vào lượng và chất môi cảnh mà con người cụ thể được đặt vào hay tự mình tiến vào.

Tuy vậy, mọi hình thức trao đổi theo Freud (2), đều cần có sự uốn nắn của những hình thái đạo đức hoặc luân lý thành các mô thức ứng xử phù hợp để giúp cho hành vi trao đổi có mẫu số chung được chấp nhận bởi cộng đồng. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Căn tính văn hóa, ảo tưởng và hậu quả

Nicolas Journet

Tác phẩm Mớ bòng bong tộc người (L’Imbroglio ethnique) đã tiến hành một sự phê phán triệt để đối với các hệ tư tưởng theo thuyết khác biệt, còn tạp chíTìm hiểu (Comprendre) thì đi tìm một câu trả lời hiện đại cho những yêu sách văn hóa của các nhóm thiểu số (1).

Tộc người, dân tộc, căn tính, tất cả các thuật ngữ ấy nói chung đang trở lại mạnh mẽ trong từ vựng chính trị những năm gần đây. Nhờ có các phong trào xã hội, các cuộc chiến tranh và những tác phẩm mô tả chúng, các thuật ngữ ấy làm sống lại một vấn đề vừa xã hội học, vừa chính trị và triết học mà người ta tưởng đã xa lạ với tính hiện đại: vấn đề bản chất văn hóa của ranh giới chia cắt các cộng đồng người. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Hiệu ứng “thủ quyển” trên Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ

 

Nguyễn Nam

Sự kiện Trúc Lâm Đại sĩ Trần Nhân Tông xuống núi năm 1304 theo lời thỉnh cầu của con là vua Trần Anh Tông để truyền tâm giới Bồ tát cho nhà vua và triều thần, nhằm tăng cường ý thức lợi lạc cho muôn dân của triều đình được miêu tả trong cuộn thư-họa Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ do họa sư đời Nguyên Trần Giám Như hoàn thành năm 1363.  Trong khi bản gốc hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Liêu Ninh, việc một bản phục chế bằng kỹ thuật cao của tác phẩm này đã được mua với giá cao bất thường (1.8 triệu USD) tại một cuộc đấu giá ở Bắc Kinh tháng 4/2012 đã góp phần tái khẳng định giá trị lịch sử và nghệ thuật độc đáo của nó.[1]  Tuy nhiều vấn đề liên quan đến cuộn thư-họa đã được thảo luận trong chuyên luận Bóng hình để lại,[2] những đặc trưng nghệ thuật “thủ quyển” hình thành nên bố cục và phương thức thể hiện của họa phẩm tiếc thay vẫn chưa được giới thiệu đầy đủ.  Tiếp tục tìm hiểu nghệ thuật đặc sắc của loại hình “thủ quyển” để qua đó diễn giải họa cảnh, “đọc” ra thêm những tầng nghĩa ẩn sau nét vẽ là mục đích của bài viết này.

Thủ quyển: Tự sự, khai hợp và động họa Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Triết lí kiểu phụ nữ

Umberto Eco

Một khẳng định triết học trước đây – đàn ông thì có khả năng tư duy về cái vô hạn, còn đàn bà thì mang lại ý nghĩa cho cái hữu hạn – có thể đọc theo nhiều cách: chẳng hạn, vì đàn ông không biết sinh con, nên họ phải tự an ủi bằng các nghịch lí của Zenon. Nhưng trên cơ sở của các sự khẳng định như thế có loan truyền một ý tuởng cho rằng lịch sử (ít ra cho đến thế kỉ 20) đã sinh ra cho chúng ta các nhà thơ nữ lỗi lạc, các nhà kể truyện nữ kiệt xuất và các nhà khoa học nữ trong nhiều bộ môn, mà không sinh ra các nhà triết học và các nhà toán học nữ.

Từ các cách nhìn méo mó như thế đã từ lâu hình thành sự tin tưởng rằng phụ nữ không hợp với hội hoạ, trừ các tên tuổi quen thuộc như Rosalba Carriera [1] hoặc Artemisia Gentileschi [2] . Đương nhiên, khi hội hoạ còn là tranh tường nhà thờ, việc trèo lên một giàn vẽ với một chiếc váy hẳn không là một chuyện tao nhã, và cũng chẳng phải phần việc của phụ nữ là điều khiển một xưởng vẽ với 30 người đang học nghề, thế nhưng khi người ta vừa có thể thực hành hội hoạ trên các giá vẽ thì các nữ hoạ sĩ lập tức xuất hiện. Như thể qua cách nào đó bảo rằng người Do Thái giỏi về nhiều ngành nghệ thuật nhưng không giỏi về hội hoạ, cho tới khi một Chagall xuất hiện. Văn hoá Do Thái quả thực thịnh hành về thính giác mà không thịnh hành về thị giác và tính thần thánh chẳng nên biểu hiện qua hình ảnh, nhưng có một nền sản xuất thị giác rõ ràng là thú vị trong nhiều văn bản chép tay Do Thái. Vấn đề là ở chỗ, ở các thế kỉ khi nghệ thuật tượng hình nằm trong tay Nhà Thờ thì khó mà một nguời Do Thái được khuyến khích vẽ Đức Mẹ và Thánh giá, cũng như khó mà ngạc nhiên khi chẳng có nguời Do Thái nào trở thành Giáo Hoàng. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Cấu trúc thần thoại

Claude Lévi-Strauss, nhà nhân học Pháp nổi tiếng với những công trình uyên bác như Cấu trúc cơ bản của quan hệ thân tộc (1949), Tư duy mông muội (1962), Cái Sống và cái Chín (1964), Chí tuyến buồn(1955)… đã qua đời vào ngày 30 tháng 10 năm 2009.

Sinh ra tại Bruxelles, thủ đô Bỉ, trong một gia đình Pháp gốc Do Thái, có cha là họa sĩ vẽ chân dung đã bị phá sản khi nhiếp ảnh ra đời, Lévi-Strauss đã lớn lên ở Pháp. Ông học luật và triết, nhưng tốt nghiệp ngành triết năm 1931 tại đại học Sorbonne ở Paris. Năm 1935 ông gia nhập Đoàn văn hóa Pháp đến Braxin. Đọc tiếp

Đàn bà có phải là người?

Catharine A. MacKinnon 

Catharine A. Mackinnon (7/10/1946) là một luật sư, giáo viên, nhà văn, và nhà hoạt động xã hội về những đề xuất bình đẳng tính dục trong gia đình và trên trường quốc tế. Bà hiện là Giáo sư Luật tước hiệu Elizabeth A. Long tại Đại học Michigan và là Cố vấn Giới tính Đặc biệt cho Công tố viên của Toà án Hình sự Quốc tế. Mấy chục quyển sách của bà xuất bản trong nhiều thứ tiếng, bao gồm: Quấy nhiễu tính dục đối với đàn bà lao động/ Sexual Harassment of Working Women (1979), Chủ nghĩa nữ quyền không biến cải/ Feminism Unmodified (1987), Hướng về một lí thuyết nữ quyền của nhà nước/ Toward a Feminist Theory of the State (1989), Chỉ ngôn từ thôi/ Only Words (1993), Những cuộc đời đàn bà những luật lệ đàn ông/ Women’s Lives, Men’s Laws (2005), Đàn bà có phải là người?/ Are Women Human? (2006), và giáo trình chuyên đề  Bình đẳng tính dục/ Sex Equality (2001 – 2007).

Bà quan niệm sự lạm dụng tính dục vi phạm những quyền về bình đẳng. Bà đã đi tiên phong trong chủ trương pháp lí xem việc quấy nhiễu tính dục là sự kì thị về tính dục và, cùng với Andrea Dworkin, sự nhìn nhận về những tai hại của dâm thư như là những vi phạm về dân quyền. Lối tiếp cận của bà với sự bình đẳng phần lớn đã được chấp nhận ở Canada và những nơi khác. Đứng đại diện cho những người đàn bà sống sót ở Bosnia sau những tàn khốc về tính dục của Serbia, Catharine A. Mackinnon thiết lập được sự nhìn nhận của pháp luật về cưỡng bức như là một hành vi diệt chủng và chiến thắng với việc đồng cố vấn cho một bản án được xử trị giá 745 triệu đô la. Hiện nay bà làm việc với tổ chức Bình đẳng ngay bây giờ (Equality Now), một tổ chức phi chính phủ quốc tế nêu cao sự bình đẳng tính dục khắp thế giới, và với tổ chức Liên minh chống sự buôn bán về đàn bà (Coalition Against Trafficking in Women) Đọc tiếp

Nữ quyền giống như cái từ đụ làm đám người lịch sự tròn xoe mắt

Laurie Penny

 

 Từ “nữ quyền” có gì mà khiến người ta sợ đến thế? Trong mấy tháng gần đây, khi tôi đi quanh thế giới để nói chuyện về việc chống lại chủ nghĩa tư bản và đòi quyền cho phụ nữ, tôi đã có vô số lần nghe cùng một chuyện: đàn ông bảo tôi: “Tôi không phải là một nhà nữ quyền (a feminist), tôi là một nhà bình quyền (an equalist).” Hoặc những phụ nữ trẻ, giải thích rằng dù tin vào quyền việc bình đẳng thì lương phải bình đẳng, dù chống bạo hành tính dục, dù tin vào quyền của một người đàn bà có mọi tự do mà đàn ông được hưởng hàng bao thế kỉ nay, họ không phải là những nhà nữ quyền. Họ là thứ gì khác, thứ gì rất giống một nhà nữ quyền nhưng không bao hàm việc phải nói ngay từ đó ra.

“Nữ quyền” giống như từ đụ thực sự sẽ làm đám người lịch sự tròn xoe mắt. Thốt ra từ đó ngụ ý bạn có thể có những đòi hỏi không thể được đáp ứng bằng cách đợi chờ lịch sự một người đàn ông nào đó phụ trách sẽ tạo ra thế giới này công bằng hơn một tí. Nó là một từ gợi ra bất mãn, thậm chí giận dữ – và nếu có điều gì người ta giả thiết một cô gái ngoan không nên như vậy, thì đó là chẳng nên giận dữ. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Tình bạn lãng mạn và tình yêu đồng tính nữ

Lillian Faderman* 

 

Tình bạn lãng mạn say mê giữa đàn bà là một định chế xã hội được bao dung, được nhìn nhận rộng rãi trước thế kỉ … [hai mươi]. Thực sự, đàn bà được mong đợi tìm ra những tâm hồn đồng điệu và kết gắn bền chặt. Xã hội thừa nhận rằng trong khi một người đàn bà không thể tin cậy đàn ông bên ngoài gia đình chị, chị có thể tìm một người phụ nữ khác cho những bảo bọc cảm xúc và không sợ phản bội. Nếu một người đàn bà thuộc thời đại trước không cư xử với người bạn thân thiết … [đầy cảm xúc], chị hẳn còn bị coi là lạnh lùng một cách kì lạ nữa. Nhưng quan hệ của chị với một người phụ nữ khác vượt quá những trao đổi thân ái như thế. Thật không lạ lùng nếu một người đàn bà tìm trong tình bạn lãng mạn của chị trung tâm của đời mình, hoàn toàn tách biệt khỏi những yêu cầu của hôn nhân và gia đình nếu không thay thế những thứ đó. Tuy nhiên, khi vai trò của những người đàn bà trong xã hội bắt đầu thay đổi – khi những gì đàn bà làm cần phải được coi là nghiêm túc vì họ đạt được một số quyền lực khiến họ ra những con người trưởng thành – quan điểm của xã hội về tình bạn lãng mạn đã thay đổi.

Tình yêu giữa đàn bà – những quan hệ về mặt cảm tính (emotionally) không hề khác với những tình bạn lãng mạn của những thời đại trước – đã trở thành cái ác hoặc bệnh hoạn. Không chỉ là đàn ông bây giờ đã thấy động lực tính dục của phụ nữ một cách thực tế hơn. Nhiều quan hệ mà họ đã kết án chẳng dính líu gì mấy đến sự biểu lộ tính dục. Đúng hơn là tình yêu giữa đàn bà, kết đôi với sự tự do đang hiện xuất của họ, có thể quan niệm được là mang lại sự lật nhào của dục tính khác phái (dị tính) – điều này có nghĩa là không chỉ tính dục giữa đàn đàn ông và đàn bà mà còn là văn hoá phụ quyền, sự thống trị của nam giới, và sự quỵ luỵ của nữ giới. Biết được cái nhìn của xã hội về tình yêu giữa đàn bà, những phụ nữ bị bó buộc phải dồn nén cảm xúc tự nhiên; họ được dạy nhìn nhận đàn bà chỉ như những địch thủ và đàn ông như những đối tượng yêu đương khả dĩ duy nhất, hoặc họ bị bó buộc phải xem chính mình như “đồng tính nữ” (lesbian), điều này có nghĩa rằng họ bị “lệch lạc” hoặc về đạo đức hoặc về cảm xúc. Những gì đã là đáng yêu và nuôi dưỡng trong tình yêu giữa đàn bà, những gì đàn bà ở những thế kỉ trước biết rành, trở thành một trong những bí mật được giấu kín nhất của chế độ phụ quyền. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Đàn bà Mĩ đang thay đổi Phật giáo ra sao

Rita M. Gross *

 

Đàn bà Mĩ đang tách Phật giáo khỏi quá khứ phụ quyền của nó, tham gia một cách tin tưởng như những người thực hành, thuyết giảng, và lãnh đạo trong đạo Phật. Rita M. Gross, một trong những nhà tư tưởng nữ quyền hàng đầu của Phật giáo nói rằng: công việc này chưa hoàn tất nhưng vai trò của nữ Phật tử Mĩ trước nay chưa từng có và hẳn làm thay đổi Phật giáo mãi mãi.

Sự đa dạng của chủ nghĩa nữ quyền và những đóng góp vào sự bình đẳng giới

Judith Lorber

Judith Lorber, sinh năm 1931, là giáo sư hưu giảng các môn Xã hội học và Phụ nữ học tại Trung tâm Tốt nghiệp thuộc Đại học Thành phố New York và Học viện Brooklyn. Bà là nhà lí thuyết nền tảng của kiến thiết xã hội về giới tính và đóng một vai trò then chốt trong việc tạo dựng và chuyển hoá ngành giới tính học. Gần đây bà lên tiếng kêu gọi việc phải phân định thế giới xã hội. Kể từ đầu thập niên 1970 bà đã tích cực hoạt động trong Hiệp hội những nhà Khoa học Xã hội vì Phụ nữ trong xã hội. Bà khai triển và giảng dạy một số những giảng khoá đầu tiên về xã hội học giới tính, phụ nữ học, và lí thuyết nữ quyền tại những trường kể trên nơi bà đã là Điếu hợp viên đầu tiên về Chương trình chứng nhận về Phụ nữ học từ 1988 đến 1991. Năm 1992 – 1993 bà là Chủ tịch phân bộ Tính dục và Giới tính của Hiệp hội Hoa Kì về Tiêu chuẩn và được Tặng thượng Jessie Bernard năm 1996 “để nhìn nhận công cuộc hàn lâm đã mở rộng những chân trời của xã hội học để bao gồm trọn vẹn vai trò của phụ nữ trong xã hội” của bà.

* Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Lược sử nữ quyền Hoa Kì

Nicholas Davidson

Hoa Kì đã từng biết hai làn sóng về nữ quyền, cách nhau năm mươi năm, trong thời gian đó hầu như không ai muốn nhận là theo nữ quyền. Làn sóng đầu tiên bắt đầu từ nửa sau thế kỉ 19 đến hết Thế chiến I và việc hội nhập quyền phụ nữ đầu phiếu vào Hiến pháp năm 1920. Làn sóng thứ hai bắt đầu năm 1969 như một trong nhiều đám cháy rừng bừng bừng trong xã hội của thập kỉ sáu mươi và vẫn tiếp tục tới nay. Trong mỗi trường hợp, sự khai sinh trí tuệ của phong trào này đi trước việc gieo rắc những ý tưởng của nó và sự hình thành những nhóm áp lực chính trị hữu hiệu bằng một số năm.

Nữ quyền trong thế kỉ 19 là một phó sản [sản phẩm bất ngờ] của chủ trương bài nô [bãi bỏ chế độ nô lệ]. Giai cấp trung lưu, da trắng, chủ yếu là phụ nữ miền Bắc Hoa kì khi tham gia những chiến dịch chống lại việc nô lệ hoá những người da đen miền Nam đã thấy rằng khả năng tham gia vào những sự kiện công cộng bị eo hẹp bởi những hạn chế áp đặt lên giới tính. Cùng với vài nhà lãnh đạo nam giới bài nô, hai trong những người phụ nữ bài nô này thảo ra một “Bản tuyên ngôn Tình tự” (Declaration of Sentiments) mô phỏng Bản Tuyên ngôn Độc lập. Nó được lấy làm niên đại khai sinh cho nữ quyền Hoa Kì từ việc công bố của bản tuyên ngôn này trong cái năm nhiều sự kiện 1848 [sự ra đời bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của Marx và Engels, và nhiều cuộc cách mạng chính trị, xã hội ở châu Âu]. Đọc tiếp

1. Tin tức - sự kiện | Điểm báo

Những điều chưa biết về học giả Nguyễn Văn Vĩnh

LTS: Sau một thời gian dài bị phủ lấp dưới những định kiến, đến hôm nay, cái tên Nguyễn Văn Vĩnh đã bước ra ánh sáng với tư cách một học giả...

2. Lý thuyết phê bình

Trung tâm và Ngoại biên: Từ hệ hình cấu trúc luận đến hệ hình hậu cấu trúc luận

Lê Nguyên Long “There is no way out of the game of culture; and one’s only chance of objectifying t...

3. Lịch sử phê bình

Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam

Nguyễn Văn Dân 1. Trên bình diện thế giới Lịch sử thế giới cho thấy các trào lưu hiện đại chủ nghĩa đã có vai trò không nhỏ cho sự phát ...

4. Các thể tài phê bình

Khởi đi từ ngữ học của Greimas

  Phạm Quang Trung   Ta thường đề cao vai trò của của ngôn ngữ đối với văn chương như một loại phương tiện đặc trưng biểu hiện một lĩnh ...

5. Chân dung phê bình

Nguyễn Huệ Chi và những dấu ấn khoa học sau hơn nửa thế kỷ nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam

Đặng Thị Hảo LTS: Mới đây, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vừa cho ra mắt cuốn Văn học Cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa đến các mã n...

6.Những vấn đề hiện thời của phê bình

TS. Nguyễn Thị Từ Huy: “chọn bài dựa trên chất lượng chứ không dựa trên các loại chức danh hay chức vụ hay sự nổi tiếng”

Nhân dịp website tròn một tuổi, chúng tôi kiểm điểm lại những việc đã làm, trên cơ sở những ý kiến bàn thảo thẳng thắn về tình hình sáng t...

7. Thiết chế xã hội của văn học

Nhân ngày thơ Việt Nam, nhớ lại một bản thảo bị mất

Lại Nguyên Ân Trong những thông báo về việc tổ chức Ngày Thơ Việt Nam năm nay, 2013, thấy có nói trong ngày này cũng sẽ kỷ niệm 70 năm Hội ...

8. Tư tưởng - triết học - văn hóa

Làng xã Việt Nam và ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội Việt Nam hiện đại (phần 1/2)

LTS: Trên con đường “đến hiện đại từ truyền thống”, GS Trần Đình Hượu (1926 - 1995) - một trong các học giả hàng đầu ở Việt Nam trong nửa cu...

9. Diễn ngôn (văn học)

Diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học hiện đại

V.I. Chiupa Lời người dịch: Giờ đây “diễn ngôn” đã trở thành khái niệm của khoa học liên ngành và khoa học đa ngành. Theo dõi quá trình hìn...

10.Giới thiệu tác phẩm

Màu tự do của đất (giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012)

Nhà thơ Trần Quang Quý quê Thanh Thủy, Phú Thọ. Hiện công tác tại Nxb. Hội Nhà văn. Tác phẩm chính: Viết tặng em trong ngôi nhà chật(thơ,...

11. Hồ sơ văn học

Chứng từ Thanh Tâm Tuyền (1 và 2)

Thanh Tâm Tuyền là một trong những nhà thơ tiên phong đổi mới tư duy thơ, một nhà thơ lớn có bóng bao trùm một miền thơ rộng của thế kỉ XX. ...

12. Ebooks và chuyên đề

Cây bút, đời người (Tập chân dung văn học,Nxb. Hội Nhà văn, 2005)

Mục lục  Lời dẫn                                                                        - Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại trong thơ        ...

13.Văn học nhà trường

Đây thôn Vĩ Dạ từ hình ảnh đến biểu tượng

Lê Thị Hồ Quang 1. Rõ ràng là có một thế giới thiên nhiên rất thực đã và đang tồn tại trong Đây thôn Vĩ Dạ. Đó Là một thế giới của ''vườn...