“Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn. Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh (hay ngôn ngữ – đối tượng)” – Roland Barthes.

4. Các thể tài phê bình

Thăng Long-Hà Nội, một không gian cho những cấu tứ thơ văn

Lại Nguyên Ân

Tôi thường nghe người chung quanh nói điều này, vừa như khẳng định, vừa như đòi cắt nghĩa: Làm sao mà nhiều bài hát hay về Hà Nội đến thế, hơn hẳn các địa danh khác trong nước?

Làm sao ư? Điều này tưởng dễ cắt nghĩa, vậy mà cũng chẳng dễ chút nào. Từ thời là thành Tống Bình, thành Đại La, rồi trở thành kinh đô Thăng Long của nhà Lý nhà Trần, Đông Đô của nhà Lê, đất Hà Nội đã là trung tâm đời sống chính trị, xã hội và văn hoá của Đại Việt. Ngay khi Hà Nội chỉ còn là cố đô trong suốt triều Nguyễn, tại miền Bắc cũng không có một trung tâm thứ hai nào ngoài Hà Nội. Những ai muốn lập công, lập thân, lập danh, trước sau đều phải lần lượt đến mảnh đất này thử tài, thử chí, thử vận may. Dấu chân các danh tài, danh sĩ, thời này qua thời khác, ngày nọ nối ngày kia, dẫm chồng lên nhau trên đất Thăng Long-Hà Nội. Mọi cảnh quan nơi đây đều được nhìn kỹ, nhìn lâu, nhìn nhiều hơn ở mọi nơi khác. Các địa danh từ chỗ là những ký hiệu địa lý thuần tuý, khi đi vào ký ức, dần dần tích luỹ vào mình những hàm nghĩa tinh thần, trở thành ký hiệu về những không gian huyền thoại truyền kỳ, hoặc chí ít cũng 1à không gian trữ tình, không gian kỷ niệm…Cảnh rừng cây rậm rạp và mặt nước mênh mông vùng Hồ Tây thời Lý-Trần đã khơi nên những huyền thoại về vũng Trâu Vàng, đầm Xác Cáo. Sương mù dày đặc trên hồ trở thành đồng loã với âm mưu thanh trừng Tiến sĩ Lê Văn Thịnh trong truyền thuyết về viên quan hoá hổ dọa vua. Đến thời Lê, sinh hoạt của con người đã tiến sát tới mép hồ ở nhiều phía, khiến Thánh mẫu Liễu Hạnh xuất hiện nơi đây trong những dáng vẻ đã khá gần với thế gian, như một kỳ nữ cùng ngâm vịnh trên du thuyền với các danh sĩ, như một nữ chủ quán bí ẩn hấp dẫn khách văn chương. Đọc tiếp

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một nhà nghiên cứu văn học tài hoa, uyên bác

 LTS:  Sau bài viết của TS. Đặng Thị Hảo, theo yêu cầu của bạn đọc, kỳ này Phê bình văn học xin tiếp tục đăng bài đề dẫn của GS Vũ Khiêu – người lãnh đạo lâu năm của Ủy ban Khoa học xã hội (trong đó có Viện Văn học) và là một trong những người chịu trách nhiệm  thẩm định đầu tiên công trình Văn học Cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật – nêu một vài nhận định khái quát về tác giả: GS. Nguyễn Huệ Chi.

Phê bình văn học Đọc tiếp

Quan niệm nghệ thuật và “Triết lý sáng tác” của Edgar Allan Poe

Hoàng Kim Oanh

1.Mở đầu 

Giới nghiên cứu lâu nay vẫn cho Edgar Poe là một nhà thơ chủ trương  “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, là “lý thuyết gia” đầu tiên của thi phái này. Có lẽ bởi sáng tác của ông không quan tâm đến những vấn đề chính trị, xã hội, mà chỉ hướng về nội tâm con người. Và có thể bởi Poe quá chú trọng đến hình thức nghệ thuật sáng tác. Thực ra vấn đề này không phải không có những tranh cãi, phủ định, xuất phát từ nhiều điểm nhìn khác nhau. Có người cho rằng sáng tác của ông có ý đồ kỹ thuật quá đậm, nhà thơ chỉ là một “thợ văn” hơn là một thiên tài nghệ thuật đích thực. Thậm chí còn đánh giá tác phẩm của ôngchỉ là những mảnh ráp nối từ cuộc đời ông”, “chỉ là sản phẩm của một kẻ loạn thần kinh, đầu óc bệnh hoạn, thiếu thăng bằng (Baym Nina, 1989,1355). Thế nhưng, ngày nay, đã có nhiều bài báo, công trình đặt lại vấn đề này, thậm chí còn đề cao “nhà thơ điên” Edgar Allan Poe là “thiên tài bí ẩn, kì lạ nhất” của văn học Mỹ và thế giới, người để lại nhiều ảnh hưởng nhất ở các nền văn học Đông – Tây thế kỉ XIX đến nay. Bài viết này tập trung tìm hiểu quan niệm thẩm mỹ độc đáo của Poe về Cái Đẹp và những cách tân độc đáo của ông trong việc sáng tạo ra “triết lý” sáng tác thơ, thiết lập các nguyên tắc thẩm mỹ trong truyện ngắn, để lại nhiều dấu ấn trong nghệ thuật sáng tác văn chương Việt Nam.

2. Quan niệm nghệ thuật về Cái Đẹp của Edgar Allan Poe    Đọc tiếp

Phê bình dịch thuật Việt Nam đang ở đâu?

Nguyễn Duy Bình

Ở đâu và ở thời nào cũng thế, có dịch thuật là có phê bình dịch thuật. Nhưng thế nào là phê bình dịch thuật đúng nghĩa? Có chăng những sự biến chuyển về cách đánh giá dịch thuật? Phê bình dịch thuật có theo kịp hoạt động dịch văn học vốn đang trong giai đoạn phát triển rầm rộ, đặc biệt với sự bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng?

  Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Về sự phân biệt thi pháp học và lí luận văn học

Trần Đình Sử

 

1. Nêu vấn đề phân biệt và xác lập quan hệ giữa thi pháp học với lí luận văn học trong thời đại ngày nay đối với một số người là việc làm có vẻ ngược đời. Bởi thời đại nay, theo một số quan niệm nào đó là thời đại “giải cấu trúc”, hoài nghi đại tự sự,  không còn chủ quan, khách quan, nội dung, hình thức, thời đại tháo tung mọi ranh giới, xoá nhoà mọi đường biên, thời đại của xuyên môn, liên ngành, liên văn bản. Bản thân ranh giới của văn học cũng thay đổi, tính văn học bị lung lay, đặc trưng văn học bị biến động, ranh giới của lí luận văn học, do đó cũng đang bị mở rộng, dịch chuyển. Có ý kiến nêu có thể không cần “lí luận văn học” nữa, chỉ cần “lí luận” (lí thuyết khoa học nhân văn) nói chung là đủ. Ấy vậy mà nêu vấn đề phân biệt nhằm tạo các ranh giới, phân môn biệt loại có vẻ như đi ngược trào lưu. Theo tôi hiểu hai hướng đó không hề mâu thuẫn nhau, bởi giải cấu trúc là môt lối tư duy mới, nhưng không có nghĩa là thủ tiêu cấu trúc mà chỉ là thay đổi quan niệm về cấu trúc. Nếu chỉ giản đơn là thủ tiêu cấu trúc thì sẽ thủ tiêu luôn Saussure, Jakobson, Lotman và bao nhiêu nhà cấu trúc chủ nghĩa khác nữa. Lúc đó thì sẽ không còn gì, không có cả văn hoá, bởi vì văn hoá suy cho cùng cũng là cấu trúc, là trật tự của con người để vượt qua cái hỗn độn, hỗn mang, là cái đối với con người là vô cấu trúc. Trong suốt quá trình văn hoá, con người không ngừng tạo ra cấu trúc rồi phá bỏ cấu trúc cũ, đổi thay cấu trúc, nói cách khác là giải cấu trúc và tái cấu trúc luôn song hành với nhau để thích ứng với quan niệm trật tự mới. Lí luận văn học, thi pháp học cũng như vậy.

2.Thực tế hiện nay trong nhiều công trình khoa học trên thế giới thuật ngữ thi pháp học và lí luận văn học đang có một quá trinh tách nhập rất phức tạp.  Sự phân biệt, xâm nhập ấy thể hiện ở mấy biểu hiện sau. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Chung quanh khái niệm “mô thức” của Northrop Frye

 Phạm Quang Trung

Trong tay tôi có 4 tư liệu liên quan đến chủ đề, gồm:

(1) Mục II – Lý luận phê bình văn học “cổ mẫu thần thoại”, trong Chương 11 – Tâm phân học, Tập Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, Phương Lựu, Nxb Văn học, H. 2001.

(2) Northrop Frye, Thi Nguyên – 100 nhà lý luận phê bình văn học thế kỷ XX – Viện Thông tin Khoa học Xã hội, H. 2002. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Tiếp cận Diễn Ngôn: Cấu trúc nhị nguyên luận F.de Saussure và Ngôn quyển đối thoại luận của M.Bakhtin

                                                                                   Lê Thời Tân

1.Hai thuật ngữ “kết cấu” và “cấu trúc” trong nghiên cứu Diễn Ngôn hiện nay

Có cách hiểu cho rằng tiếp cận ngôn ngữ học đối với diễn ngôn là xem diễn ngôn đối lập với văn bản như ngôn ngữ học cấu trúc luận đã đối lập lời nóingôn ngữ (tách lời nói khỏi dòng chảy cá nhân khó lòng theo bám để tiện nghiên cứu cái ao chung ngôn ngữ). Đây đó xuất hiện cách nói “phân tích cấu trúc diễn ngôn”.[1] Vậy mà theo chúng tôi về logic một khi đã coi diễn ngôn là lời nói thì ngôn ngữ học cấu trúc luận thực sự không làm việc với nó. F.de Saussure từng nói sự phân biệt ngôn ngữlời nói tạo nên ngã ba đầu tiên trong công việc kiến lập lí luận hoạt động ngôn ngữ. Không thể tiến lên đồng thời trên hai lối rẽ từ ngã ba đó, F.de Saussure chỉ bước đường ngôn ngữ học cấu trúc luận (tuy trước lúc khởi bước đường mình ông cũng đã dự kiến viễn cảnh lối rẽ đường bên kia với cái tên “ngôn ngữ học lời nói”). Ông đã đi trọn đường mình và cũng từng dự kiến chân trời mới của khoa kí hiệu học. F.de Saussure nói ngôn ngữ học mà ông xây dựng sẽ chỉ là một bộ phận của một sémiologie général.[2] F.de Saussure nêu những dự kiến đó một cách hiển ngôn trong Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương. Không hiểu sao lại có những luồng ý kiến bàn tới hạn chế hay mặt tiêu cực của ông là đã tự “đóng khung” vào việc chỉ nghiên cứu nội tại ngôn ngữ, làm cho mọi hướng nghiên cứu mở rộng của ngôn ngữ học đi vào ngõ cụt! Thực ra vấn đề nếu có nêu nên là: nếu còn tiếp tục cái hùng tâm tráng khí cấu trúc luận đó thì ông sẽ phát triển ra sao phương pháp của mình vào cái sự-thể mà xưa kia do logic nhị nguyên sau khi lưỡng phân ông chỉ làm việc với một nửa của lưỡng phân – nửa ngôn ngữ  đó? Hoặc giả chúng ta phải thấy lại rằng sự-thể lời-nói này sau đó phải chăng đã được tiếp cận trở lại trong hoạt động tạm gọi chung là “nghiên cứu diễn ngôn”. Và hoạt động này cũng không đơn giản chỉ là làm việc vẻn vẹn với “lời nói” vừa vặn trong thế lưỡng phân của F.de Saussure? Các câu hỏi cốt lõi tiếp theo có thể là: Làm sao để có thể đặt vấn đề “cấu trúc hóa” kiểu nhị nguyên luận Saussure đối với sự thể diễn ngôn đa dạng tột độ và luôn tùy biến dính chặt vào chủ thể bản ngữ?[3]  Chủ-khách thể sẽ tự/được/bị phân tách luân chuyển hoán đổi thế nào trong vũ trụ diễn ngôn? “Diễn ngôn học” (nếu có thể liều gọi được như vậy) có còn chẳng hạn sẽ như ngôn ngữ học F.de Saussure cũng “chỉ chấp nhận một quan điểm duy nhất – quan điểm của người bản ngữ”?[4] Nếu phải như thế thì nó sẽ làm thế nào? Và sự đa dạng vô cùng và tột độ của thực tiễn diễn ngôn có ngăn cản được cái ý hướng cấu trúc hóa trừu tượng cao độ đối với nó? Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Về khủng hoảng của phê bình văn học

Theodor Wiesengrund Adorno

Lời dịch giả: Theodor Wiesengrund Adorno (1903 – 1969) nhà triết học, xã hội học và lí luận âm nhạc Đức gốc Do Thái, cùng Max Horkheimer (1895-1973) sáng lập Viện nghiên cứu xã hội (Institut für Sozialforschung) tại Frankfurt, chiếc nôi của “Trường phái Frankfurt” (Frankfurter Schule) trong lĩnh vực xã hội học và triết học xã hội với những đại diện tiêu biểu khác như Herbert Marcuse (1898-1979) và Jürgen Habermas (1929). Vai trò của ông trong đời sống tinh thần ở phương Tây và đặc biệt ở Đức không thể đánh giá hết. Ngoài những thành tựu của “Lí thuyết phê phán” (Kritische Theorie) và ảnh hưởng nền tảng đối với phong trào cánh tả và phong trào sinh viên những năm sáu mươi, nhất là bằng những luận chiến chống lại trường phái Heidegger (1889-1976), ông còn để lại dấu ấn sâu đậm trong văn học và âm nhạc, đặc biệt qua những nghiên cứu về nhà phê bình văn học Walter Benjamin (1892-1940) và với tư cách “cố vấn âm nhạc” cho Thomas Mann (1875-1955) trong tiểu thuyết “Doktor Faustus” (1947).

Những tác phẩm chính của Adorno đều do Suhrkamp-Verlag Frankfurt xuất bản:
Philosophie der neuen Musik (1958)
Minima Moralia, Reflexionen aus dem beschädigten Leben (1965)
Dissonanzen, Musik in der verwalteten Welt (1963)
Noten zur Literatur 1-3 (Bibliothek Suhrkamp Band 47, 71, 146)
Eingriffe, Neun kritische Modelle (edition suhrkamp Band 10)
Jargon der Eigentlichkeit, Zur deutschen Ideologie (edition suhrkamp Band 91)
Negative Dialektik (1966) Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Văn học trong thời đại tiêu dùng

Tưởng Thuật Trác

Có phải hiện nay văn học đang đối mặt với thời đại tiêu dùng hay không? Nhiều người còn hoài nghi vấn đề này. Thậm chí có người còn phủ định sự có mặt của thời đại tiêu dùng trong khi miền Đông và miền Tây Trung Quốc đang có sự không cân bằng và tất cả đều đang xây dựng một xã hội khá giả.

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Xã hội học văn học ở Pháp

                                                    Phương Thủy(*) – Phương Ngọc(**)

                                                        

Ngay từ tên gọi, xã hội học văn học đã khiến chúng ta có thể nhận thấy mối liên quan giữa văn học với xã hội nói chung. Như chúng ta biết, mối quan hệ này đã có từ rất lâu đời, được đề cập đến từ thời cổ đại với Aristote, Platon…rồi kéo dài trong lịch sử. Nhưng nói đến xã hội học văn học với tư cách một lĩnh vực trong nghiên cứu khoa học văn học thì phải lấy mốc thế kỷ XIX, đặc biệt phát triển trong suốt thế kỷ XX. Trong phạm vi bài này chúng tôi xin giới hạn vấn đề trong một không gian là xã hội học văn học ở Pháp với thời gian về cơ bản trong thế kỷ XX. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Nguyễn Huệ Chi và những dấu ấn khoa học sau hơn nửa thế kỷ nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam

Đặng Thị Hảo

LTS: Mới đây, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vừa cho ra mắt cuốn Văn học Cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật – một tinh tuyển các bài viết trong vòng 50 năm nghiên cứu của chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực văn học Cổ cận đại Việt Nam: Giáo sư Nguyễn Huệ Chi.

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam

Nguyễn Văn Dân

1. Trên bình diện thế giới

Lịch sử thế giới cho thấy các trào lưu hiện đại chủ nghĩa đã có vai trò không nhỏ cho sự phát triển của văn học nghệ thuật nhân loại. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, văn học nghệ thuật thế giới đã phát triển rất phong phú và đa dạng, chính là nhờ có công đóng góp của các chủ nghĩa hiện đại. Ở nhiều nước, thơ ca và tiểu thuyết đương đại đã mang một bộ mặt mới. Thơ tự do phát triển mạnh hơn bao giờ hết. Tiểu thuyết không còn quay lại với mô hình của tiểu thuyết hiện thực cổ điển. Trong nghệ thuật tạo hình, không ít người cho đến nay vẫn say mê sáng tác theo phong cách của chủ nghĩa biểu hiện, siêu thực, vị lai và lập thể… Còn Phong cách quốc tế trong kiến trúc thì vẫn đang lan rộng ra toàn thế giới. Có thể nói, di sản của các chủ nghĩa hiện đại vẫn không mất đi chỗ đứng của chúng và đang được phát huy giá trị một cách tối đa.

Lĩnh vực âm nhạc cũng có sự biến đổi bởi tác động của phong trào tiên phong. Trong lĩnh vực nhạc nhẹ, tốc độ và nhịp điệu mạnh đang trở thành đặc trưng của các bài ca, làm xuất hiện những loại hình nhạc nhẹ mới như nhạc pop, nhạc rock… Còn trong lĩnh vực khí nhạc, trường phái âm nhạc phi điệu thức [tiếng Anh: “atonality”], xuất hiện từ đầu thế kỷ XX với tư cách là một trường phái âm nhạc trong phong trào tiên phong, với đại diện là Arnold Schoenberg, Anton von Webern và Alban Berg, Igor Stravinsky, Bela Bartok, Iannis Xenakis… vẫn tiếp tục có ảnh hưởng trong âm nhạc của nhiều nước. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Nhà văn trước mặt trái của toàn cầu hóa

(PBVH): “Nhà văn phải nói về sự thật, về những điều đang xảy ra quanh mình mà xã hội quan tâm. Tuy nhiên, những gì mà nhà văn thể hiện trên trang giấy không nên là một sự thật sống sượng phi nghệ thuật. Họ phải sáng tạo, phải “bịa”, nhưng sao cho người đọc vẫn cảm thấy đó là sự thật. Để làm được điều này, nhà văn phải khó tính, khó tính lắm, với chính bản thân mình. Nhà văn phải rèn cho mình tính chính xác, khả năng phân tích, lập luận và gạn lọc những gì tinh tuý nhất, đại diện nhất của cuộc sống thực tại để đưa lên trang viết. Nhà văn phải đi sâu vào cuộc sống, sống cùng cuộc sống khổ cực của người dân, họ vừa phải là một nhà chính trị, một nhà trí thức, một người công nhân, một người nông dân “nông dân” hơn ai hết. Sở dĩ tôi thấy nhà văn phải hiểu biết và sống nhiều cuộc sống như vậy là vì có như thế họ mới đề cập được chính xác và thuyết phục về những gì toàn xã hội quan tâm”.

Arundhati Roy Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Sách mới: Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật

Sự lãng quên chủ nghĩa hiện đại và nhầm lẫn giữa hiện đại với hậu hiện đại sẽ có nguy cơ làm rối loạn hệ thống lý luận văn nghệ, rối loạn các giá trị đã được thiết lập của chủ nghĩa hiện đại, rối loạn các tiêu chí đánh giá tác phẩm văn học nghệ thuật đương đại, rối loạn các tiêu chí tiếp nhận văn học nghệ thuật của người thưởng ngoạn. Vì thế, việc nhận thức lại chủ nghĩa hiện đại và giải quyết vấn đề “tồn tại hay không tồn tại chủ nghĩa hậu hiện đại” sẽ góp phần tái lập lại trật tự của các hệ thống kiến thức trong xã hội thông tin, tạo cơ sở để con người đi vào xã hội tri thức, một xã hội đề cao vai trò của tri thức, nhưng không phải là những tri thức nhằm mục đích thao túng và chi phối con người, mà chúng luôn phải là sản phẩm của con người và phục vụ con người. Đó cũng là mục đích nhân văn của tự do sáng tạo trong khoa học, đồng thời cũng là mục đích của cuốn chuyên luận mới xuất bản của PGS.TS. Nguyễn Văn Dân (Nxb. KHXH, 2013, 348 trang; khổ: 14,5 x 20,5 cm).

  Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

“Diễn Ngôn”: Xung quanh chuyện từ dùng và thuật ngữ đối ứng

     Lê Thời Tân 

Thông báo Hội thảo “Lý thuyết diễn ngôn và những ứng dụng vào nghiên cứu văn học sử Việt Nam” và các bài viết tập hợp theo từ khóa “diễn ngôn” trên http://phebinhvanhoc.com.vn tạo cơ hội cho chúng tôi lưu tâm tìm hiểu học hỏi về lí thuyết này. Trong quá trình đọc hiểu một số bài viết của các tác giả chúng tôi có chú ý riêng đến hai bài viết  “MICHEL FOUCAULT: Thuật ngữ DIỄN NGÔN và các QUY TẮC liên quan quyền lực trong diễn ngôn” [1] (Diệp Quang Ban) và “Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn”[2] (Nguyễn Thị Ngọc Minh). Ý tưởng góp lời lạm bàn câu chuyện “từ dùng và thuật ngữ đối ứng trong nghiên cứu Diễn Ngôn” này chính là đã nảy sinh ngay khi chúng tôi đọc phần đầu tiên của hai công trình vừa kể.

Xin được đề cập đến bài viết của GS Diệp Quang Ban. Chúng tôi đặc biệt chú ý đến đoạn sau trong bài viết “Từ diễn ngôn ở Việt Nam được dùng để dịch từ discourse xuất hiện khá vững chắc vào khoảng hơn mười lăm năm trở lại đây, chủ yếu ứng với giai đoạn kết thúc của cái gọi là Ngữ pháp văn bản (Text Grammar) thời ấy. Trong diễn ngôn, như đã rõ, tiếng “văn” đã được đổi thành tiếng “ngôn” cũng do ở Việt Nam ngành quan tâm đến nó từ thuở ấy là ngôn ngữ học (không phải văn học).” Đoạn văn này có kèm một chú thích như sau: “Năm 1997, khi dịch quyển Discourse Analysis của David Nunan, tôi (với tư cách người hiệu đính, và là người cùng dịch dưới hiệu Trúc Thanh) đã dùng Phân tích Diễn ngôn, thay cho từ Diễn văn, vì nghĩ rằng ở đây bàn về ngôn ngữ học hơn là văn học. Tuy nhiên chúng tôi không biết được rằng trước đó đã có ai dùng từ diễn ngôn để dịch discourse hay chưa. Chúng tôi rất cảm ơn ai mách hộ cho việc này!” Nếu quả thực trước đó chưa từng có ai “dùng từ diễn ngôn để dịch discourse” thì tương lai khi soạn bộ sách kiểu “tri thức khảo cổ học” rất có thể phải ghi nhận công lao định danh thuật ngữ cho ông. Xin lưu ý, đoạn dẫn trên chính là phần kết cho mục “1.2 Các từ diễn văn/diễn từdiễn ngôn ở Việt Nam” của bài viết. Trước đó tại phần mở đầu cho mục này giáo sư viết: Đọc tiếp

Trường hợp Nguyễn Du: Văn học trung đại từ chủ nghĩa dân bản đến chủ nghĩa nhân bản (Về ý nghĩa hiện đại của Nguyễn Du)

Trần Nho Thìn

Lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều cho thấy mỗi thời đại, mỗi thế hệ lại tìm thấy ở tác phẩm này một vấn đề nổi bật, phù hợp với thời đại mình. Các nhà nho trong thế kỉ XIX tâm đắc với thuyết tài mệnh tương đố. Đầu thế kỉ XX, những trí thức Tây học muốn xây dựng một nền quốc văn mới đã tìm thấy ở tiếng Việt văn học của Truyện Kiều sự cổ vũ to lớn. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tinh thần phê phán các thế lực phong kiến chà đạp thân phận con người của Nguyễn Du lại góp phần thôi thúc những người cách mạng chiến đấu xoá sạch các thế lực phong kiến, đế quốc, mang lại tự do, cơm no áo ấm cho con người. Còn ngày nay, đất nước ta đang có bước chuyển mình vĩ đại trên con đường phát triển, hiện đại hoá. Những vấn đề về áp bức, bóc lột đã lùi vào quá khứ. Vấn đề cơm áo của nhân dân đã được cách mạng giải quyết về căn bản. Trong bối cảnh mới đó, quan niệm nhân bản của Nguyễn Du lại nổi bật lên như một vấn đề có ý nghĩa thời sự hơn cả.Nhận thức về con người là một vấn đề có tính lịch sử. Nhận thức này đã diễn ra trong văn học trung đại như là một quá trình quan sát con người, lúc đầu từ góc độ con người “thần dân”, như là đối tượng thuần túy của hoạt động chính trị, cuối cùng đi đến chỗ nhìn nhận con người như là một đối tượng của chủ nghĩa nhân bản, con người “tự nó”. Nguyễn Du là trường hợp điển hình nhất cho chặng cuối, là người đánh dấu sự hoàn thiện của ý thức về con người nhân bản. Nhìn lại Nguyễn Du cũng là dịp chúng ta ngày nay duyệt xét lại cách quan niệm lâu nay của chúng ta về “chủ nghĩa nhân đạo”, xem xét lại không chỉ bản thân khái niệm “chủ nghĩa nhân đạo” mà cả nội hàm của nó. Một sự xem xét như thế thực sự có ý nghĩa cấp bách về nhiều phương diện, từ phương diện khoa học thuần tuý đến lĩnh vực quản lý văn hoá xã hội mang tính chất ứng dụng.

Trong hoàn cảnh của một xã hội nông nghiệp, lệ thuộc nhiều vào tự nhiên, thiên tai địch họa thường xuyên đe dọa, năng suất lao động thấp kém, cộng với ách áp bức bóc lột của địa chủ và quan lại, cộng với nạn ngoại xâm, cộng với những cuộc nội chiến tàn khốc, v.v… người dân xưa thường xuyên phải sống trong cảnh đói cơm rách áo, giặc giã tàn phá. Đại để chúng ta có thể mường tượng như thế cái bối cảnh xã hội điển hình  trong đó đã ra đời và truyền bá các hệ tư tưởng triết học- tôn giáo- chính trị- đạo đức như Nho- Phật- Lão Trang. Trong một bối cảnh đại để như đã nói, tất nhiên điều khiến các nhà tư tưởng phải quan tâm nhất chính là làm sao để người dân được yên ổn, có cơm ăn áo mặc, có nhà ở, làm sao để cứu người dân thường trước nạn bạo hành của các thế lực thống trị. Dễ hiểu là các nhà nho đã nêu lên những vấn đề tựu trung nhằm giải quyết những nhu cầu tồn tại vật chất tối thiểu cho con người. Hướng tư tưởng của họ không nhằm vào các khía cạnh kỹ thuật của vấn đề mà tập trung vào mô hình tổ chức xã hội. Do đó, tư tưởng “thân dân”, lấy dân làm gốc của nước đã xuất hiện từ trước công nguyên và được các nhà tư tưởng nho giáo tiếp tục vận dụng cho mãi đến tận đầu thế kỷ XX. Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên (Dân duy bang bản, bản cố bang ninh- Thượng thư, Ngũ tử chi ca). Làm cho gốc nước vững thực ra trước hết là lo cho dân no đủ, là chế độ “dưỡng dân”, “huệ dân”, “bảo dân”, “trọng dân”, coi ý dân là ý trời thì cũng là lo cho nguyện vọng được ăn no mặc ấm. Mạnh Tử đã khái quát thực chất của học thuyết dân bản này qua phép “ chế dân chi sản” (lập định chế về tài sản của dân) qua hai khái niệm “hằng sản” và “hằng tâm”. Để cho người dân có “hằng tâm” (tâm đạo đức- chỉ sự tuân phục, không nổi loạn chống lại triều đình) thì người cầm quyền phải có chính sách sao cho người dân có được “hằng sản” (tài sản cố định vừa đủ) trên nuôi được cha mẹ, dưới nuôi được vợ con. Các nhà tư tưởng cổ đại cũng không quên cảnh báo nguy cơ triều đại bị lật đổ nếu không quan tâm đến dân. Tuân Tử: “Dân như thủy, quân như chu; thủy khả tái chu, dã khả phúc chu” (Dân như nước, vua như thuyền; dân có thể chở thuyền mà cũng có thể lật thuyền). Nguyễn Trãi: “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (làm lật thuyền mới biết dân như nước). Nói cách khác, mục đích đem lại cơm no áo ấm, sự yên ổn cho người dân đã là một động lực quan trọng thúc đẩy sự ra đời các học thuyết này. Các học thuyết có thể có những cách trình bày khác nhau về phương pháp, song đều gặp nhau ở mục tiêu tối hậu nhằm tiến tới xây dựng một xã hội trật tự, thái bình thịnh trị, người dân được yên lành, no ấm (tất nhiên ai cũng biết là không cần lo hão cho kẻ cầm quyền). Kết quả là trong cái nhìn của các học thuyết truyền thống, con người bị lược qui về thân phận thần dân, con người như là đối tượng của chính trị. Không có con người với nghĩa là con người bản thể, con người được xem xét bên ngoài ngữ cảnh chính trị xã hội. Văn học trung đại Việt Nam đậm màu sắc chính trị xã hội ngay cả khi bàn về con người. Đó là mặt mạnh của văn học trung đại nhưng mặt hạn chế cũng nằm ngay ở đặc điểm này. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

1. Tin tức - sự kiện | Điểm báo

Những điều chưa biết về học giả Nguyễn Văn Vĩnh

LTS: Sau một thời gian dài bị phủ lấp dưới những định kiến, đến hôm nay, cái tên Nguyễn Văn Vĩnh đã bước ra ánh sáng với tư cách một học giả...

2. Lý thuyết phê bình

Trung tâm và Ngoại biên: Từ hệ hình cấu trúc luận đến hệ hình hậu cấu trúc luận

Lê Nguyên Long “There is no way out of the game of culture; and one’s only chance of objectifying t...

3. Lịch sử phê bình

Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam

Nguyễn Văn Dân 1. Trên bình diện thế giới Lịch sử thế giới cho thấy các trào lưu hiện đại chủ nghĩa đã có vai trò không nhỏ cho sự phát ...

4. Các thể tài phê bình

Thăng Long-Hà Nội, một không gian cho những cấu tứ thơ văn

Lại Nguyên Ân Tôi thường nghe người chung quanh nói điều này, vừa như khẳng định, vừa như đòi cắt nghĩa: Làm sao mà nhiều bài hát hay về Hà...

5. Chân dung phê bình

Nguyễn Huệ Chi và những dấu ấn khoa học sau hơn nửa thế kỷ nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam

Đặng Thị Hảo LTS: Mới đây, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vừa cho ra mắt cuốn Văn học Cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa đến các mã n...

6.Những vấn đề hiện thời của phê bình

TS. Nguyễn Thị Từ Huy: “chọn bài dựa trên chất lượng chứ không dựa trên các loại chức danh hay chức vụ hay sự nổi tiếng”

Nhân dịp website tròn một tuổi, chúng tôi kiểm điểm lại những việc đã làm, trên cơ sở những ý kiến bàn thảo thẳng thắn về tình hình sáng t...

7. Thiết chế xã hội của văn học

Nhân ngày thơ Việt Nam, nhớ lại một bản thảo bị mất

Lại Nguyên Ân Trong những thông báo về việc tổ chức Ngày Thơ Việt Nam năm nay, 2013, thấy có nói trong ngày này cũng sẽ kỷ niệm 70 năm Hội ...

8. Tư tưởng - triết học - văn hóa

Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp (phần 2/3)

                                                                   Phan Ngọc Ba xu hướng phê phán Nho giáo (tiếp theo) Các biếm họa của Ph...

9. Diễn ngôn (văn học)

Diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học hiện đại

V.I. Chiupa Lời người dịch: Giờ đây “diễn ngôn” đã trở thành khái niệm của khoa học liên ngành và khoa học đa ngành. Theo dõi quá trình hìn...

10.Giới thiệu tác phẩm

Màu tự do của đất (giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012)

Nhà thơ Trần Quang Quý quê Thanh Thủy, Phú Thọ. Hiện công tác tại Nxb. Hội Nhà văn. Tác phẩm chính: Viết tặng em trong ngôi nhà chật(thơ,...

11. Hồ sơ văn học

Chứng từ Thanh Tâm Tuyền (1 và 2)

Thanh Tâm Tuyền là một trong những nhà thơ tiên phong đổi mới tư duy thơ, một nhà thơ lớn có bóng bao trùm một miền thơ rộng của thế kỉ XX. ...

12. Ebooks và chuyên đề

Cây bút, đời người (Tập chân dung văn học,Nxb. Hội Nhà văn, 2005)

Mục lục  Lời dẫn                                                                        - Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại trong thơ        ...

13.Văn học nhà trường

Đây thôn Vĩ Dạ từ hình ảnh đến biểu tượng

Lê Thị Hồ Quang 1. Rõ ràng là có một thế giới thiên nhiên rất thực đã và đang tồn tại trong Đây thôn Vĩ Dạ. Đó Là một thế giới của ''vườn...