Trần Nho Thìn
Lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều cho thấy mỗi thời đại, mỗi thế hệ lại tìm thấy ở tác phẩm này một vấn đề nổi bật, phù hợp với thời đại mình. Các nhà nho trong thế kỉ XIX tâm đắc với thuyết tài mệnh tương đố. Đầu thế kỉ XX, những trí thức Tây học muốn xây dựng một nền quốc văn mới đã tìm thấy ở tiếng Việt văn học của Truyện Kiều sự cổ vũ to lớn. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tinh thần phê phán các thế lực phong kiến chà đạp thân phận con người của Nguyễn Du lại góp phần thôi thúc những người cách mạng chiến đấu xoá sạch các thế lực phong kiến, đế quốc, mang lại tự do, cơm no áo ấm cho con người. Còn ngày nay, đất nước ta đang có bước chuyển mình vĩ đại trên con đường phát triển, hiện đại hoá. Những vấn đề về áp bức, bóc lột đã lùi vào quá khứ. Vấn đề cơm áo của nhân dân đã được cách mạng giải quyết về căn bản. Trong bối cảnh mới đó, quan niệm nhân bản của Nguyễn Du lại nổi bật lên như một vấn đề có ý nghĩa thời sự hơn cả.Nhận thức về con người là một vấn đề có tính lịch sử. Nhận thức này đã diễn ra trong văn học trung đại như là một quá trình quan sát con người, lúc đầu từ góc độ con người “thần dân”, như là đối tượng thuần túy của hoạt động chính trị, cuối cùng đi đến chỗ nhìn nhận con người như là một đối tượng của chủ nghĩa nhân bản, con người “tự nó”. Nguyễn Du là trường hợp điển hình nhất cho chặng cuối, là người đánh dấu sự hoàn thiện của ý thức về con người nhân bản. Nhìn lại Nguyễn Du cũng là dịp chúng ta ngày nay duyệt xét lại cách quan niệm lâu nay của chúng ta về “chủ nghĩa nhân đạo”, xem xét lại không chỉ bản thân khái niệm “chủ nghĩa nhân đạo” mà cả nội hàm của nó. Một sự xem xét như thế thực sự có ý nghĩa cấp bách về nhiều phương diện, từ phương diện khoa học thuần tuý đến lĩnh vực quản lý văn hoá xã hội mang tính chất ứng dụng.
Trong hoàn cảnh của một xã hội nông nghiệp, lệ thuộc nhiều vào tự nhiên, thiên tai địch họa thường xuyên đe dọa, năng suất lao động thấp kém, cộng với ách áp bức bóc lột của địa chủ và quan lại, cộng với nạn ngoại xâm, cộng với những cuộc nội chiến tàn khốc, v.v… người dân xưa thường xuyên phải sống trong cảnh đói cơm rách áo, giặc giã tàn phá. Đại để chúng ta có thể mường tượng như thế cái bối cảnh xã hội điển hình trong đó đã ra đời và truyền bá các hệ tư tưởng triết học- tôn giáo- chính trị- đạo đức như Nho- Phật- Lão Trang. Trong một bối cảnh đại để như đã nói, tất nhiên điều khiến các nhà tư tưởng phải quan tâm nhất chính là làm sao để người dân được yên ổn, có cơm ăn áo mặc, có nhà ở, làm sao để cứu người dân thường trước nạn bạo hành của các thế lực thống trị. Dễ hiểu là các nhà nho đã nêu lên những vấn đề tựu trung nhằm giải quyết những nhu cầu tồn tại vật chất tối thiểu cho con người. Hướng tư tưởng của họ không nhằm vào các khía cạnh kỹ thuật của vấn đề mà tập trung vào mô hình tổ chức xã hội. Do đó, tư tưởng “thân dân”, lấy dân làm gốc của nước đã xuất hiện từ trước công nguyên và được các nhà tư tưởng nho giáo tiếp tục vận dụng cho mãi đến tận đầu thế kỷ XX. Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên (Dân duy bang bản, bản cố bang ninh- Thượng thư, Ngũ tử chi ca). Làm cho gốc nước vững thực ra trước hết là lo cho dân no đủ, là chế độ “dưỡng dân”, “huệ dân”, “bảo dân”, “trọng dân”, coi ý dân là ý trời thì cũng là lo cho nguyện vọng được ăn no mặc ấm. Mạnh Tử đã khái quát thực chất của học thuyết dân bản này qua phép “ chế dân chi sản” (lập định chế về tài sản của dân) qua hai khái niệm “hằng sản” và “hằng tâm”. Để cho người dân có “hằng tâm” (tâm đạo đức- chỉ sự tuân phục, không nổi loạn chống lại triều đình) thì người cầm quyền phải có chính sách sao cho người dân có được “hằng sản” (tài sản cố định vừa đủ) trên nuôi được cha mẹ, dưới nuôi được vợ con. Các nhà tư tưởng cổ đại cũng không quên cảnh báo nguy cơ triều đại bị lật đổ nếu không quan tâm đến dân. Tuân Tử: “Dân như thủy, quân như chu; thủy khả tái chu, dã khả phúc chu” (Dân như nước, vua như thuyền; dân có thể chở thuyền mà cũng có thể lật thuyền). Nguyễn Trãi: “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (làm lật thuyền mới biết dân như nước). Nói cách khác, mục đích đem lại cơm no áo ấm, sự yên ổn cho người dân đã là một động lực quan trọng thúc đẩy sự ra đời các học thuyết này. Các học thuyết có thể có những cách trình bày khác nhau về phương pháp, song đều gặp nhau ở mục tiêu tối hậu nhằm tiến tới xây dựng một xã hội trật tự, thái bình thịnh trị, người dân được yên lành, no ấm (tất nhiên ai cũng biết là không cần lo hão cho kẻ cầm quyền). Kết quả là trong cái nhìn của các học thuyết truyền thống, con người bị lược qui về thân phận thần dân, con người như là đối tượng của chính trị. Không có con người với nghĩa là con người bản thể, con người được xem xét bên ngoài ngữ cảnh chính trị xã hội. Văn học trung đại Việt Nam đậm màu sắc chính trị xã hội ngay cả khi bàn về con người. Đó là mặt mạnh của văn học trung đại nhưng mặt hạn chế cũng nằm ngay ở đặc điểm này. Đọc tiếp
PHẢN HỒI, BÌNH LUẬN MỚI