“Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn. Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh (hay ngôn ngữ – đối tượng)” – Roland Barthes.

9. Diễn ngôn (văn học)

Diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học hiện đại

V.I. Chiupa

Lời người dịch: Giờ đây “diễn ngôn” đã trở thành khái niệm của khoa học liên ngành và khoa học đa ngành. Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của thuật ngữ “diễn ngôn”, tôi nhận thấy: nếu các học giả Âu – Mĩ có công hoàn thiện thuật ngữ này như một phạm trù của ngôn ngữ học và xã hội học, thì M.M. Bakhtin và các nhà nghiên cứu Nga lại đặt nền móng để xây dựng khái niệm ấy thành một phạm trù của thi pháp học và tu từ học hiện đại. Về phương diện này, không thể không kể tới những đóng góp to lớn của hai Giáo sư Ngữ văn học nổi tiếng từng có dịp giảng dạy tại khoa Ngữ Văn Đại học sư phạm Hà Nội: Natan Davidovich Tamarchenko và Valeri Igorovich Chiupa.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc ba bài viết của V.I. Chiupa: Diễn ngôn. Thẩm quyền diễn ngôn. Hình thái diễn ngôn. Ba bài viết này được rút từ cuốn: Thi pháp học: từ điển các thuật ngữ và khái niệm bức thiết do N.D. Tamarchenko chủ biên. Nhan đề “Diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học” do chúng tôi tự đặt. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Các lý thuyết diễn ngôn hiện đại: Kinh nghiệm phân loại

                                                            O.F. Rusakova

Suốt cả thế kỉ XX, các khoa học nhân văn bị hiện tượng ngôn ngữ hút hồn. Nói theo Richard Rorty, “ngôn ngữ chiêu mộ thế giới” và, tất nhiên, tri thức đáng tin cậy nhất về thế giới đã được mã hoá trong ngôn ngữ. Nghiên cứu ngôn ngữ là chìa khoá để nghiên cứu con người và thế giới. Định đề này được ghi nhớ như là cơ sở phương pháp luận của các khoa học xã hội khác nhau và được trao cho danh hiệu “bước ngoặt ngôn ngữ học”. Từ cuối những năm 1960, trước tiên, nhờ hệ thống thuật ngữ và tư tưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại và kí hiệu học đượcanh 1 quảng bá rộng rãi trong giới học thuật, “bước ngoặt ngôn ngữ học” biến thành “bước ngoặt diễn ngôn”.

Sự thâm nhập mạnh mẽ của phân tích – diễn ngôn vào khoa học nhân văn và chính trị – xã hội học không thể không dẫn tới sự bùng nổ dữ dội của các lí thuyết diễn ngôn khác nhau, nền móng của những lí thuyết này là các quan niệm về thế giới và phương pháp luận cụ thể trong việc giải thích bản thân khái niệm diễn ngôn, là những truyền thống nghiên cứu khác nhau, là phương thức giải thích và mô tả các thực tiễn diễn ngôn cùng cấu trúc và chức năng của chúng. Đọc tiếp

Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay

Trần Đình Sử

Thời gian gần đây khái niệm diễn ngôn đã xuất hiện rất nhiều trong các bài nghiên cứu đủ loại, nhiều đến mức không sao có thể định nghĩa thông suốt hết. Đã có rất nhiều định nghĩa về diễn ngôn, theo các góc độ khác nhau, ngôn ngữ, văn hóa, song về lí luận văn hoc thì còn rất ít.… Nhiều định nghĩa được đưa ra trong cuốn sách Diễn ngôn học ở Nga năm 2006, hoàn toàn không thấy vấn đề văn học.[1] Nhiều nhà khoa học xác nhận đó là khái niệm còn bỏ ngỏ, mỗi người nghiên cứu sử dụng theo cách hiểu riêng, nhưng phần nhiều đi theo ngữ học và văn hóa học. Vì thế, mặc dù văn học rất hấp dẫn, trong bài viết này tôi muốn lưu ý đến diễn ngôn trong nghiên cứu văn học. 

1. Diễn ngôn là gì? Đọc tiếp

Ngôn ngữ trong hoạt động

R.Jakobson

“Rồi thì con chim nói: “Chẳng bao giờ nữa”-  Edgar Allan Poe

Mới đây, trên một chuyến tàu lửa, tôi đã nghe được những mẩu đàm thoại. Một người đàn ông nói với một thiếu phụ: “Người ta vừa cho diễn Con Quạ trên đài. Một bản ghi âm xưa lắm do một diễn viên của Luân Đôn qua đời cách đây đã lâu. Thật tiếc là em không được nghe cách diễn tấu của anh ta về cái từ “Chẳng bao giờ nữa””. Không phải bức thông điệp bằng lời ấy nhằm gửi đến cho tôi. Tuy vậy tôi đã tiếp nhận nó. Sau đó tôi đã ghi lại bằng văn bản, lúc đầu dưới hình thức chép tay, sau đó bằng chữ in máy. Và thế là nó được sát nhập vào một tập hợp mới: đó là thông điệp của tôi nhằm gửi đến độc giả tiềm hữu của những trang sách này[1].

Người đàn ông không quen biết kia đã nhờ đến một câu dẫn trong văn chương để – theo khả năng có thật – phản chiếu một trạng thái tình cảm của bản thân muốn chia sẻ với người phụ nữ đang chuyện trò. Anh ta dựa vào một cách đọc – theo anh nói – đã được phát đi trên sóng. Một diễn viên người Anh ngày nay không còn sống nữa, từ đầu đã là người phát (émetteur) của bức thông điệp “cho người muốn nghe nó”. Người diễn viên ấy, về phần mình, chỉ có tái hiện lại (reproduit) một thông điệp văn chương của Edgar Poe, viết vào năm 1845. Nhưng nhà thơ người Mỹ này, về phía ông ta, đã nói lên nhân danh “một người tình thương xót về cái chết của người yêu”. Có thể đó cũng là nhằm đến bản thân nhà thơ; cũng lại có thể nhằm đến một nhân vật khác, một người có thật hay tưởng tượng. Bên trong sự độc thoại này, từ “Jamais-plus” (Chẳng-bao-giờ-nữa) đã được gán cho con chim biết nói; và về sau các giả thuyết được tạo ra làm cho “cái từ duy nhất ấy” mà Con quạ đã phát lên, nó đã phải lấy ở “một vị Chủ khốn khổ nào đó” mà những lời than vãn quen thuộc của ông ta có chứa đựng cả “cái điệp khúc não ruột này”[2]. Như vậy là cũng từ cái ấy, nó đã lần lượt phục vụ cho “người chủ” giả định, cho con quạ, cho người tình, cho nhà thơ, cho diễn viên, cho đài phát thanh, cho người đàn ông xa lạ trên tàu, và cuối cùng, cho tác giả của Sáu Bài học này. “Người Chủ” đã phát âm to, theo cách tập duyệt (de facon répétitive), cái câu khuyết được xây dựng bằng chỉ một từ từng ám ảnh cuộc độc thoại nội tâm, từ “Jamais-plus” (Chẳng-bao-giờ-nữa). Con chim đã mô phỏng lại chuỗi âm thanh tạo nên từ ấy. Người tình đã ghi lại nó trong kí ức. Và sau đó kể lại vai trò do con Quạ đảm nhận bằng cách nêu lên nguồn gốc có thể có của nó. Nhà thơ đã ký giữ nó (consigner) bằng văn bản và xuất bản câu chuyện của người tình. Nhưng, thực tế, chính nhà thơ là người đã sáng tạo ra những vai khác nhau, vai người tình, vai con quạ, vai người chủ. Còn diễn viên đã đọc nó (với giọng nhỏ nhẹ), sau đó đọc thuộc (réciter), trong lúc ghi âm, cách nói do nhà thơ giao cho người tình, bao gồm cả từ “chẳng-bao-giờ-nữa” mà người tình gán cho con quạ. Đài phát thanh lại còn chọn lọc cách ghi âm và phát đi. Người đàn ông xa lạ trên tàu kia đã nghe được buổi phát. Anh ta nhớ lại và đã dẫn lại bức thông điệp bằng cách thêm vào nguồn gốc của nó. Và nhà ngôn ngữ học đã ghi lại lời dẫn ấy, xây dựng lại đầy đủ những bước trung gian, trừ phi người nầy không sáng tạo lại hoàn toàn các vai, vai của người đàn ông xa lạ, vai của người phát sóng, vai của diễn viên. Ở đây có cả một loạt người phát và người nhận, mang cả tính hiện thực lẫn hư cấu, mà phần lớn chỉ làm các việc tiếp sức (fonction de relais) giản đơn và tự bằng lòng dẫn lại một thông điệp duy nhất, ít ra đối với một trong số họ, đã biết đến nó từ lâu. Vài người trong số những người tham dự vào sự giao tiếp này là sống tách biệt nhau trong thời gian và trong không gian. Và trên những kẽ hở ấy (brèches), nhiều chiếc cầu đã được thiết lập bằng nhiều phương tiện ghi chép và truyền đạt khác nhau. Trên toàn thể, lớp người tham gia này là một bằng chứng điển hình về tính phức tạp của quá trình giao tiếp. Nó rất khác với sơ đồ thông thường, trong đó mạch của lời nói được trình bày bằng đồ thị (graphiquement) trong các sách giáo khoa: A và B nói chuyện với nhau mặt đối mặt, như thể có một dòng (fil) tưởng tượng đi từ bộ não của A, chuyển từ cửa miệng của y đến tận tai và bộ não của B, sau đó, từ cửa miệng của B trở về tai và não bộ của A. Đọc tiếp

Quan niệm Marxist phương Tây về phê phán hệ tư tưởng và ứng dụng của nó vào phê bình văn học

Ronald Strickland 

(Phê bình văn học): Trước những ngày diễn ra Hội nghị Viết văn trẻ lần thứ VIII (9/2011), nhận lời mời cộng tác của Tạp chí VHNN, chúng tôi đã tổ chức chuyên đề “Diễn ngôn và diễn ngôn văn học” với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước, đặc biệt là các dịch giả, nhà nghiên cứu văn học trẻ. Nhưng rất tiếc, vì những lý do nào đó, nhiều bài vở trong chuyên đề này bị gác lại so với dự kiến phê duyệt ban đầu. Dù đã cố gắng, song từ đó đến giờ, chúng tôi vẫn chưa có điều kiện thuận lợi để tiếp tục giới thiệu với đồng nghiệp, bạn đọc “cụm công trình” có ý nghĩa này. Nay thấy Tạp chí Nhà văn đã công bố một trong những bài thuộc chuyên đề đó –  ”Quan niệm Marxist phương Tây về phê phán hệ tư tưởng và ứng dụng của nó vào phê bình văn học” do nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập dịch, chúng tôi xin phép dịch giả được giới thiệu lại với bạn đọc http://phebinhvanhoc.com.vn

Lời người dịch: Chủ nghĩa Hậu hiện đại chịu ảnh hưởng sâu đậm của Chủ nghĩa Marx, điều này có thể thấy rất rõ ở trường hợp khái niệm “diễn ngôn”. Nhưng không có gì đáng ngạc nhiên ở đây. Khái niệm “diễn ngôn”, theo cách hiểu của chúng ta ngày nay, lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm của các nhà tư tưởng Marxist Liên Xô (như Bakhtin, Voloshinov, Medvedev…) trước khi được phát triển và hoàn thiện, dưới những tên gọi khác nhau, bởi các tác giả tiền – 1968 và hậu – 1968 như Barthes, Althusser, Foucault, Derrida… mà đa số là những trí thức cánh tả, một số thực sự là Marxist. Vì thế, bài viết sâu sắc của GS. Ronald Strickland (Hoa Kỳ) không chỉ là một tổng quan phê phán quan niệm Marxist phương Tây về “Hệ tư tưởng” và “Chủ thể”, mà còn là một khảo sát bối cảnh tư tưởng, trong đó “Diễn ngôn” có được những đột phá vào cuối thế kỷ XX. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Một số vấn đề về lý luận diễn ngôn hậu thực dân (phần cuối)

Benita Parry

Điều kiện thúc đẩy hình thành sự phân tích của Fanon là, sản sinh trong một loại diễn ngôn đối lập của đấu tranh chính trị, và ngay từ đầu đã nhớ lại quá khứ trong quá trình kháng nghị sự đầu hàng nhục nhã của kẻ thực dân, cùng với sự thay thế hiến thân truyền thống của người bị đô hộ cổ đại đã loại bỏ hệ thống tri thức của chủ nghĩa thực dân:

Giai cấp tư sản của chủ nghĩa thực dân… trên thực tế đã ăn sâu vào trong tinh thần của phần tử trí thức của người bị đô hộ, cho dù người có thể sẽ phạm đủ các loại sai lầm, nhưng thuộc tính bản chất vĩnh viễn không thay đổi: đương nhiên điều muốn nói ở đây là thuộc tính bản chất của phương Tây. Phần tử tri thức bị đô hộ tiếp nhận tư tưởng quan trọng đúng lúc, ở trong phần sâu thẳm trí óc anh ta, bạn luôn có thể phát hiện ra một người lính tuần tra đầy tinh thần cảnh giác, bảo vệ căn cơ của Hi lạp – La ting mọi thời điểm. Bây giờ, sự tình như vậy đã phát sinh, trong đấu tranh giải phóng, khi thành phần tri thức bị đô hộ một lần nữa tiếp xúc với nhân dân, người lính kiểm tra hành vi con người này liền biến thành cát bụi. Toàn bộ giá trị của Địa Trung Hải, thắng lợi của hoàn mĩ – của cá thể nhân loại đều biến thành đồ cổ nhỏ bé vô hình vô sắc, không sinh mệnh. Tất cả những diễn giảng dường như đều là sưu tập của ngôn từ đã chết; những giá trị cơ hồ khiến linh hồn thăng hoa đó rõ ràng là vô giá trị, chỉ vì chúng không có quan hệ gì với tất cả xung đột cụ thể mà con người tận dồn sức vào. (Những người bất hạnh trên trái đất. pp 37-38) Đọc tiếp

Một số vấn đề về lý luận diễn ngôn hậu thực dân (phần 1)

Benita Parry

I

Hiện nay có nhiều kế hoạch nhằm xác lập một mô hình nghiên cứu mới thay thế mô hình nghiên cứu cũ. Trong bài viết liên quan đến vấn đề này, Edward đã phát hiện ra điểm giống nhau trong các kế hoạch đó là: đều xuất phát từ mô hình lí luận mới, khách thể tri thức mới khác hẳn hoặc ít nhất là trên căn bản cải biến tiêu chuẩn quy phạm đang thịnh hành, xuất phát từ ý thức đời thường, từ ngoại diên, từ các phạm trù đối lập. Những kế hoạch này xuất hiện “đều nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế và chính trị”. Phương châm đối thoại, đa nguyên hóa trong phê bình đương đại được coi trọng nhằm tạo điều kiện cho khuyh hướng phủ nhận kế thừa truyền thống, khuynh hướng khác lạ ít có sức phá hủy đối với trật tự đã định hình ra đời.

Trong Xóa bỏ khoa học của chủ nghĩa đế quốc, khi phê phán chủ nghĩa phương Đông, Eward đã làm phong phú và mở rộng phân tích diễn ngôn thực dân, bản thân nó được sinh ra ở lối viết phá vỡ tính quy phạm của lí luận văn học, của phụ nữ trong thế giới bóc lột, của người da đen và của những người chống lại chủ nghĩa đế quốc, và ở nơi hội tụ ba điểm hoài nghi của chủ nghĩa hậu thực dân đối với kinh điển văn học phương Tây. Đọc tiếp

Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn

Nguyễn Thị Ngọc Minh

1.  Sự phức tạp của khái niệm và những khó khăn trong chuyển ngữ

Trong cuốn Discourse, tác giả Sara Mills cho rằng diễn ngôn là thuật ngữ “có phạm vi nghĩa khả hữu rộng nhất so với bất cứ thuật ngữ nào khác thuộc lí luận văn học và văn hóa”[1].

Theo tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, nhà ngôn ngữ học người Bỉ E.Buysen là người đầu tiên sử dụng discourse như một khái niệm chuyên môn trong tác phẩm Hoạt động nói năng và văn bản (1943)[2]. Từ những năm sáu mươi của thế kỉ XX, nghiên cứu diễn ngôn (hay còn gọi là phân tích diễn ngôn) trở thành một trào lưu khoa học phát triển rầm rộ ở châu Âu và diễn ngôn trở thành một khái niệm trung tâm, được lưu hành rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn. Sau thời kì thống trị của cấu trúc luận, nó lại xuất hiện với những hàm nghĩa mới trong các công trình nghiên cứu hậu cấu trúc và giải cấu trúc của M.Foucault, J.Derrida, R.Barthes… Ngày nay, diễn ngôn trở thành một thuật ngữ quan trọng trong các công trình nghiên cứu của các trường phái Phân tích diễn ngôn phê phán, chủ nghĩa Hậu hiện đại, chủ nghĩa Thuộc địa và Hậu thuộc địa, Lý luận nữ quyền, chủ nghĩa Tân duy sử… Trải qua quá trình phát triển lâu dài, diễn ngôn liên tục được sử dụng trong những bối cảnh mới và được bồi đắp thêm những nét nghĩa mới. Điều này khiến cho nghĩa gốc của nó trở nên nhòe mờ, những nét nghĩa khái quát bị che khuất, và các nét nghĩa thứ sinh lại đan bện chồng chéo, khó phân tách. Đọc tiếp

Bản chất xã hội thẩm mỹ của ngôn từ văn học

Trần Đình Sử

Văn học là nghệ thuật ngôn từ, nhưng cho đến nay trong hầu hết các tài liệu l‎í luận văn học ở Việt Nam đều chỉ hiểu ngôn từ như một phương tiện biểu đạt, một công cụ bề ngoài, chưa đi sâu tìm hiểu bản chất xã hội, thẩm mĩ của nó, và do đó cũng chưa đi đến hiểu rõ bản chất của ngôn từ văn học.

Có nhiều nguyên nhân tạo thành tình trạng đó. Một là truyền thống xem văn học là sự phản ánh các hiện tượng hiện thực vào ý thức bằng hình tượng, ngôn từ chỉ là phương tiện bề ngoài. Định nghĩa của L.I.Timôpheev về hình tượng văn học không nói đến yếu tố ngôn từ (1). Khái niệm ngôn từ của G.N.Pospêlov đưa ra vào những năm 70 chỉ thuần túy là phương tiện biểu đạt (2). Mặt khác, các nhà l‎ý luận hình thức Nga, phê bình mới Anh, Mỹ và chủ nghĩa cấu trúc lần đầu tiên chú trọng đến vai trò đặc biệt của chất liệu ngôn từ, một yếu tố mà lí luận văn học và mĩ học truyền thống thường xem nhẹ, song họ lại có ảo tưởng chỉ xác lập đặc trưng văn học bằng cấu trúc thuần túy ngôn từ, bằng đi tìm “tính văn học”, “chất văn học” trong ngôn từ. Đó lại là một phiến diện nữa. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Dịch và đại tự sự

Phạm Quốc Lộc

Mấy đứa trẻ nhếch nhác, chìa tay, lẩm nhẩm điều gì đó không thể hiểu được. Chúng nói tiếng gì? Có phải chúng đang nói, hay đang ca hát, hay đang đọc một câu thần chú trong truyện cổ tích? Đoàn khách du lịch lũ lượt bước qua, chúng nó vẫn nhìn, vẫn chìa tay. Đồi núi Sapa thật đẹp, đường đến bản Tả Van quanh co trong thung lũng thơ mộng, mây nhấm nhá đỉnh núi, ụt ịt mấy con heo cắp nách nhâm nhi cỏ xanh. Trong cái đám du lịch loi nhoi ấy, có cả Pháp, Mỹ, Đức, Việt Kiều, Việt Nam. Đối với những đứa trẻ đang chìa tay, chắc chúng chỉ phân biệt được tây với ta, nội với ngoại mà thôi, mà cũng chỉ là qua hình dáng. Đối với chúng, những đứa trẻ dân tộc thiểu số ấy, quốc tịch là gì nhỉ? Chúng có biết chúng là người Việt Nam khi chúng không biết tiếng Việt? Chúng có biết tôi là người Việt không? Tôi vẫn đang nói tiếng Việt với chúng đấy thôi. Mây, núi, heo, gà, tưởng chừng quen thuộc, tưởng chừng liền mạch, núi liền núi, sông liền sông trong cái dáng cong cong hình chữ S. Tất cả chợt vỡ òa, như lão già trong truyện ngắn “War” của Luigi Pirandello.[1] Diễn ngôn chợt đứt đoạn, phơi bày sự thật bị che giấu. Diễn ngôn liền mạch, vượt thời gian và không gian, tạo một ảo giác về tính nhất quán và nguyên thể của mọi tồn tại. Một chiếc áo dài, biểu tượng của (phụ nữ) Việt Nam[2], vẫn hay được cho là một giải pháp hòa hợp dân tộc, đại diện cho cả ba miền. Việt Nam chỉ có ba miền, bắc, trung, nam. Vậy thôi sao? Những bé gái trong bản làng Sapa được ai đại diện, được đại diện bằng gì, khi chúng nói tiếng của chúng, mặc trang phục của chúng? Xem chừng không nên dễ dàng thỏa mãn với phép quy ghép, gom gộp địa lý và con người thành vùng miền. Miền bắc không phải chỉ có Hà Nội, miền nam không phải chỉ có Sài Gòn. Chìm lấp bên dưới tà áo dài, bên dưới diễn ngôn ba miền là những sự thể mà khi nhận ra, ta bỗng thấy ta xa lạ với chính ta, với chính cái mà ta đã tưởng chừng quen thuộc, tưởng chừng đã thấm vào xương máu. Ôi chiếc áo dài, một loại đại tự sự, được dựng thành phim hoành tráng, để toàn dân tộc úp mặt vào “tung bay tà áo tung bay,” tha thướt, dịu dàng, hay bền bỉ như trong phim Áo lụa Hà Đông, mà quên rằng không phải phụ nữ Việt Nam nào cũng mặc áo dài. Đại tự sự vẫn thường cố tình xao lãng tiểu tiết, để đại tự sự luôn là một nhất thể vinh quang, toàn năng. Thân thể của những con người tiểu nhược dĩ nhiên không được khoác tà áo đại tự sự, tà áo bay cao, bay xa, bay đẹp, bay không mỏi cánh trong những cuộc thi hoa hậu quốc tế. Bên dưới tà áo ấy, không có thân thể những phụ nữ H’Mong. Tà áo bay ngang mặt họ, che lấp mặt họ, để họ như thể là những người không mặt, faceless people.

Có ai đã một lần, một lần thôi, lần mò bên dưới tấm áo thướt tha đó, để ngửi, để sờ, để nắn bóp, để phanh phui, để giải phẫu xem thân thể đó làm bằng gì, có bằng xương bằng thịt, hay bằng một thứ khác? Dưới chiếc áo dài lộng lẫy Thùy Lâm mặc trong cuộc thi hoa hậu không còn là thân thể của Thùy Lâm nữa. Nó không còn là thân thể của xương thịt, mà là của diễn ngôn, diễn ngôn da thịt, cũng mịn màng, trơn tru.[3] Diễn ngôn da thịt đó trong suốt, không một chút sần sùi của khác biệt, kể cả khác biệt về giới tính, như thể hơn 80 triệu con người Việt Nam có cùng một thân thể. Thân thể trong suốt đó là một thân thể bất dịch,untranslated. [4] Đọc tiếp

Diễn ngôn tính dục trong “The diary of Shinjuku thief” của Nagisa Oshima

Ngô Thị Thanh

1. Đặt vấn đề

Nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, vào thập niên 60 chủ đề tính dục nổi lên mạnh mẽ trên hầu khắp thế giới ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau như văn học, điện ảnh…. Trên thực tế, tính dục là mối quan tâm muôn thuở của con người bởi lẽ nó là thứ cảm giác tồn tại từ trong bản thể. Nỗi xấu hổ của Adam và Eva sau khi ăn trái cấm là nỗi xấu hổ tính dục, cảm giác giới tính và bản sắc. Nhưng đồng thời nỗi xấu hổ ấy lại trở thành tội tổ tông theo Kinh thánh bởi từ đây con người sẽ không thể nào thoát khỏi khát khao dục vọng mù quáng, nỗi ám ảnh về nó với tư cách một cá nhân. Chưa bao giờ trong lịch sử khoa học, văn hoá, tư tưởng đề tài tính dục lại không được bàn tới như là hạt nhân của ý thức hệ. Phạm trù “tính dục” (sexuality) tồn tại ở tầng vỉa sâu nhất của đời sống và trong nó luôn luôn lưu chảy những dòng diễn ngôn sôi động, nhộn nhịp.

Từ thế kỉ 19, khoa học kĩ thuật phát triển mạnh mẽ thì vấn đề tính dục không chỉ được tìm hiểu dưới góc độ tôn giáo, đạo đức mà còn được mổ xẻ bằng con mắt sinh học thực chứng nhằm hợp pháp hoá (cơ cấu hoá) tính dục trong đời sống hàng ngày. Nó tạo tiền đề cho cuộc cách mạng văn hoá nổi lên mạnh mẽ vào thập niên 60 với xu hướng chính trị hoá mỹ học, khi thế hệ thanh niên dùng tính dục làm phương tiện thực hiện mong muốn thiết lập trật tự thế giới mới. Chẳng hạn nữ quyền luận (feminism) biến tính dục trở thành sức mạnh chủ yếu công kích chế độ gia trưởng thấm đẫm trong mọi mặt của đời sống. Việc khoa học tìm ra những cách thức can thiệp vào sinh đẻ đã khiến trào lưu nữ quyền có nhiều thay đổi. Nó tạo ra vết rạn nứt, xung đột: một mặt vẫn có những nhà nữ quyền luận tiếp tục ý kiến đây là một bước tiến cho tự do của phụ nữ nhưng mặt khác nổi lên những người cho rằng sự thay đổi đó thực chất duy trì quan niệm phụ hệ coi phụ nữ như đối tượng/ nô lệ tình dục: “sự hiện diện của việc kiểm soát sinh nở đã dịch chuyển cán cân quyền lực tình dục đến nỗi họ không còn nguyên cớ nào để nói không với những mời gọi nài nỉ của đàn ông lẫn việc thuyết phục đàn ông cam kết những thuật ngữ cũ càng trong thoả thuận tình dục, tiến hành tình dục vì thân tình, trung thành, và hỗ trợ kinh tế” (1, tr 25). Nói cách khác nó đẩy phụ nữ rơi vào tình thế trơ trọi, yếm thế giữa xã hội gia trưởng. Vì thế trong “Giới tính thứ hai” (The second sex), Simone de Beauvoir đòi hỏi một thứ tình dục tự trị (sexual autonomy), và ủng hộ lựa chọn đồng tính nữ (lesbianism) như đấu tranh cho tự do. Đọc tiếp

Về một diễn ngôn tính dục trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam (từ đầu thế kỉ XX đến 1945)

 Trần Văn Toàn

1.Đặt vấn đề.

Khi các trường phái như Phê bình mới (New Criticism) hay Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism) xuất hiện người ta cho rằng có thể giải quyết những vấn đề của văn học chỉ thuần túy dựa trên những yếu tố nội tại của văn bản mà không cần đến bất kỳ một sự tham chiếu nào khác từ những nhân tố bên ngoài. Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ của xã hội học văn học mà một nhánh quan trọng của nó là nghiên cứu tiếp nhận cũng như sự ra đời của các trường phái chú giải học/thông diễn học (hermeneutics), phái tính (gender), nữ quyền luận (feminism), chủ nghĩa lịch sử[1]… đã cho thấy sự cần thiết phải đặt văn học trong một bối cảnh rộng lớn hơn của những vấn đề văn hóa và xã hội. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

1. Tin tức - sự kiện | Điểm báo

Những điều chưa biết về học giả Nguyễn Văn Vĩnh

LTS: Sau một thời gian dài bị phủ lấp dưới những định kiến, đến hôm nay, cái tên Nguyễn Văn Vĩnh đã bước ra ánh sáng với tư cách một học giả...

2. Lý thuyết phê bình

Trung tâm và Ngoại biên: Từ hệ hình cấu trúc luận đến hệ hình hậu cấu trúc luận

Lê Nguyên Long “There is no way out of the game of culture; and one’s only chance of objectifying t...

3. Lịch sử phê bình

Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam

Nguyễn Văn Dân 1. Trên bình diện thế giới Lịch sử thế giới cho thấy các trào lưu hiện đại chủ nghĩa đã có vai trò không nhỏ cho sự phát ...

4. Các thể tài phê bình

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một nhà nghiên cứu văn học tài hoa, uyên bác

 LTS:  Sau bài viết của TS. Đặng Thị Hảo, theo yêu cầu của bạn đọc, kỳ này Phê bình văn học xin tiếp tục đăng bài đề dẫn của GS Vũ Khiêu – n...

5. Chân dung phê bình

Nguyễn Huệ Chi và những dấu ấn khoa học sau hơn nửa thế kỷ nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam

Đặng Thị Hảo LTS: Mới đây, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vừa cho ra mắt cuốn Văn học Cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa đến các mã n...

6.Những vấn đề hiện thời của phê bình

TS. Nguyễn Thị Từ Huy: “chọn bài dựa trên chất lượng chứ không dựa trên các loại chức danh hay chức vụ hay sự nổi tiếng”

Nhân dịp website tròn một tuổi, chúng tôi kiểm điểm lại những việc đã làm, trên cơ sở những ý kiến bàn thảo thẳng thắn về tình hình sáng t...

7. Thiết chế xã hội của văn học

Nhân ngày thơ Việt Nam, nhớ lại một bản thảo bị mất

Lại Nguyên Ân Trong những thông báo về việc tổ chức Ngày Thơ Việt Nam năm nay, 2013, thấy có nói trong ngày này cũng sẽ kỷ niệm 70 năm Hội ...

8. Tư tưởng - triết học - văn hóa

Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp (phần 2/3)

                                                                   Phan Ngọc Ba xu hướng phê phán Nho giáo (tiếp theo) Các biếm họa của Ph...

9. Diễn ngôn (văn học)

Diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học hiện đại

V.I. Chiupa Lời người dịch: Giờ đây “diễn ngôn” đã trở thành khái niệm của khoa học liên ngành và khoa học đa ngành. Theo dõi quá trình hìn...

10.Giới thiệu tác phẩm

Màu tự do của đất (giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012)

Nhà thơ Trần Quang Quý quê Thanh Thủy, Phú Thọ. Hiện công tác tại Nxb. Hội Nhà văn. Tác phẩm chính: Viết tặng em trong ngôi nhà chật(thơ,...

11. Hồ sơ văn học

Chứng từ Thanh Tâm Tuyền (1 và 2)

Thanh Tâm Tuyền là một trong những nhà thơ tiên phong đổi mới tư duy thơ, một nhà thơ lớn có bóng bao trùm một miền thơ rộng của thế kỉ XX. ...

12. Ebooks và chuyên đề

Ebook: Độ không của lối viết

ĐỘ KHÔNG CỦA LỐI VIẾT Roland Barthes. Độ không của lối viết (phần 1) Roland Barthes. Độ không của lối viết (phần 2) Roland Bar...

13.Văn học nhà trường

Đây thôn Vĩ Dạ từ hình ảnh đến biểu tượng

Lê Thị Hồ Quang 1. Rõ ràng là có một thế giới thiên nhiên rất thực đã và đang tồn tại trong Đây thôn Vĩ Dạ. Đó Là một thế giới của ''vườn...