Phạm Quốc Lộc
Mấy đứa trẻ nhếch nhác, chìa tay, lẩm nhẩm điều gì đó không thể hiểu được. Chúng nói tiếng gì? Có phải chúng đang nói, hay đang ca hát, hay đang đọc một câu thần chú trong truyện cổ tích? Đoàn khách du lịch lũ lượt bước qua, chúng nó vẫn nhìn, vẫn chìa tay. Đồi núi Sapa thật đẹp, đường đến bản Tả Van quanh co trong thung lũng thơ mộng, mây nhấm nhá đỉnh núi, ụt ịt mấy con heo cắp nách nhâm nhi cỏ xanh. Trong cái đám du lịch loi nhoi ấy, có cả Pháp, Mỹ, Đức, Việt Kiều, Việt Nam. Đối với những đứa trẻ đang chìa tay, chắc chúng chỉ phân biệt được tây với ta, nội với ngoại mà thôi, mà cũng chỉ là qua hình dáng. Đối với chúng, những đứa trẻ dân tộc thiểu số ấy, quốc tịch là gì nhỉ? Chúng có biết chúng là người Việt Nam khi chúng không biết tiếng Việt? Chúng có biết tôi là người Việt không? Tôi vẫn đang nói tiếng Việt với chúng đấy thôi. Mây, núi, heo, gà, tưởng chừng quen thuộc, tưởng chừng liền mạch, núi liền núi, sông liền sông trong cái dáng cong cong hình chữ S. Tất cả chợt vỡ òa, như lão già trong truyện ngắn “War” của Luigi Pirandello.[1] Diễn ngôn chợt đứt đoạn, phơi bày sự thật bị che giấu. Diễn ngôn liền mạch, vượt thời gian và không gian, tạo một ảo giác về tính nhất quán và nguyên thể của mọi tồn tại. Một chiếc áo dài, biểu tượng của (phụ nữ) Việt Nam[2], vẫn hay được cho là một giải pháp hòa hợp dân tộc, đại diện cho cả ba miền. Việt Nam chỉ có ba miền, bắc, trung, nam. Vậy thôi sao? Những bé gái trong bản làng Sapa được ai đại diện, được đại diện bằng gì, khi chúng nói tiếng của chúng, mặc trang phục của chúng? Xem chừng không nên dễ dàng thỏa mãn với phép quy ghép, gom gộp địa lý và con người thành vùng miền. Miền bắc không phải chỉ có Hà Nội, miền nam không phải chỉ có Sài Gòn. Chìm lấp bên dưới tà áo dài, bên dưới diễn ngôn ba miền là những sự thể mà khi nhận ra, ta bỗng thấy ta xa lạ với chính ta, với chính cái mà ta đã tưởng chừng quen thuộc, tưởng chừng đã thấm vào xương máu. Ôi chiếc áo dài, một loại đại tự sự, được dựng thành phim hoành tráng, để toàn dân tộc úp mặt vào “tung bay tà áo tung bay,” tha thướt, dịu dàng, hay bền bỉ như trong phim Áo lụa Hà Đông, mà quên rằng không phải phụ nữ Việt Nam nào cũng mặc áo dài. Đại tự sự vẫn thường cố tình xao lãng tiểu tiết, để đại tự sự luôn là một nhất thể vinh quang, toàn năng. Thân thể của những con người tiểu nhược dĩ nhiên không được khoác tà áo đại tự sự, tà áo bay cao, bay xa, bay đẹp, bay không mỏi cánh trong những cuộc thi hoa hậu quốc tế. Bên dưới tà áo ấy, không có thân thể những phụ nữ H’Mong. Tà áo bay ngang mặt họ, che lấp mặt họ, để họ như thể là những người không mặt, faceless people.
Có ai đã một lần, một lần thôi, lần mò bên dưới tấm áo thướt tha đó, để ngửi, để sờ, để nắn bóp, để phanh phui, để giải phẫu xem thân thể đó làm bằng gì, có bằng xương bằng thịt, hay bằng một thứ khác? Dưới chiếc áo dài lộng lẫy Thùy Lâm mặc trong cuộc thi hoa hậu không còn là thân thể của Thùy Lâm nữa. Nó không còn là thân thể của xương thịt, mà là của diễn ngôn, diễn ngôn da thịt, cũng mịn màng, trơn tru.[3] Diễn ngôn da thịt đó trong suốt, không một chút sần sùi của khác biệt, kể cả khác biệt về giới tính, như thể hơn 80 triệu con người Việt Nam có cùng một thân thể. Thân thể trong suốt đó là một thân thể bất dịch,untranslated. [4] Đọc tiếp
PHẢN HỒI, BÌNH LUẬN MỚI