“Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn. Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh (hay ngôn ngữ – đối tượng)” – Roland Barthes.

Tag: Đào Tuấn Ảnh

Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại

Đào Tuấn Ảnh

Ba thập niên vừa qua thuật ngữ hậu hiện đại (posmodernism) thường xuất hiện trong các công trình nghiên cứu và phê bình văn hoá nghệ thuật thế giới. Cuối năm 1998,  ở Mỹ, riêng tại các thư viện lớn thống kê được 3579 cuốn sách với đầu đề  có từ “postmodernism’ và 2666 cuốn có từ “posmodern”. Trong số sách bán trên thị trường có 421 cuốn về posmodernism và 833 cuốn về posmodern (1) .

 Ở Nga, từ cuối 1980  tới năm 1995, riêng trong lĩnh vực văn hoá đã có khoảng hơn 40 đầu sách về lĩnh vực này(2)  . Ngoài ra,  người Nga đã dịch hầu hết các công trình nghiên cứu cơ bản về hậu hiện đại của các nhà triết học, văn hoá học, lí luận văn học có uy tín ở phương Tây. Đọc tiếp

Về sự tiến triển của văn học*

(Tặng Boris Eikhenbaum)

Iu.n. Tynianov

 1. Trong một loạt các bộ môn văn hoá, tình cảnh của lịch sử văn học  tiếp tục giống như tình cảnh một nước thuộc địa. Một mặt, ở mức độ đáng kể, nó bị phương pháp nghiên cứu tâm lí  cá nhân xâm chiếm (đặc biệt ở phương Tây) và vấn đề văn học bị thay bằng vấn đề tâm lí tác giả một cách sai lạc[1], còn vấn đề về sự tiến triển văn học – bằng vấn đề về nguồn gốc các hiện tượng văn học. Mặt khác, quan niệm nhân quả sơ lược về dãy văn học[2]đã tách bản thân văn học ra khỏi vị trí từ đó nó được quan sát. Vị trí đó bao giờ cũng là những lĩnh vực xã hội[3] chủ yếu và luôn tiếp biến. Việc thiết lập một hệ thống văn học khép kín và xem xét sự tiến hoá bên trong nó thường vấp phải các hiện tượng văn hoá, đời sống hiểu theo nghĩa rộng và các hiện tượng xã hội, hiển nhiên dẫn tới sự phiến diện. Thuyết giá trị trong khoa học về văn học gây tác hại cho việc nghiên cứu những hiện tượng chính yếu, nhưng là những hiện tượng đơn lẻ, khiến lịch sử văn học giống như “lịch sử của các đại soái văn chương”. Ngược lại, sự loại bỏ mù quáng “lịch sử các đại soái”, tuy gây  hứng thú cho việc nghiên cứu văn học đại chúng, nhưng lại làm cho phương pháp nghiên cứu loại văn học này cùng tính chất, ý nghĩa của nó thiếu  mất ý thức lí luận rõ ràng.

Cuối cùng, mối liên hệ giữa lịch sử văn học với đời sống văn học đương đại sinh động -  vốn có lợi và cần thiết đối với khoa học – hoá ra không phải bao giờ cũng cần thiết và có lợi đối với nền văn học đang phát triển, vì các đại diện của nó sẵn sàng coi lịch sử văn học chỉ là những chuẩn mực và những quy luật này nọ của truyền thống đã được thiết lập,  lẫn lộn “tính lịch sử” của hiện tượng văn học với “quan điểm lịch sử” trong nghiên cứu nó. Hậu quả cuối cùng là sự xuất hiện khuynh hướng nghiên cứu những hiện tượng riêng lẻ và những quy luật tạo ra chúng bên ngoài bình diện lịch sử (sự huỷ bỏ lịch sử văn học). Đọc tiếp