“Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn. Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh (hay ngôn ngữ – đối tượng)” – Roland Barthes.

Tag: Lý luận văn học

Về sự phân biệt thi pháp học và lí luận văn học

Trần Đình Sử

 

1. Nêu vấn đề phân biệt và xác lập quan hệ giữa thi pháp học với lí luận văn học trong thời đại ngày nay đối với một số người là việc làm có vẻ ngược đời. Bởi thời đại nay, theo một số quan niệm nào đó là thời đại “giải cấu trúc”, hoài nghi đại tự sự,  không còn chủ quan, khách quan, nội dung, hình thức, thời đại tháo tung mọi ranh giới, xoá nhoà mọi đường biên, thời đại của xuyên môn, liên ngành, liên văn bản. Bản thân ranh giới của văn học cũng thay đổi, tính văn học bị lung lay, đặc trưng văn học bị biến động, ranh giới của lí luận văn học, do đó cũng đang bị mở rộng, dịch chuyển. Có ý kiến nêu có thể không cần “lí luận văn học” nữa, chỉ cần “lí luận” (lí thuyết khoa học nhân văn) nói chung là đủ. Ấy vậy mà nêu vấn đề phân biệt nhằm tạo các ranh giới, phân môn biệt loại có vẻ như đi ngược trào lưu. Theo tôi hiểu hai hướng đó không hề mâu thuẫn nhau, bởi giải cấu trúc là môt lối tư duy mới, nhưng không có nghĩa là thủ tiêu cấu trúc mà chỉ là thay đổi quan niệm về cấu trúc. Nếu chỉ giản đơn là thủ tiêu cấu trúc thì sẽ thủ tiêu luôn Saussure, Jakobson, Lotman và bao nhiêu nhà cấu trúc chủ nghĩa khác nữa. Lúc đó thì sẽ không còn gì, không có cả văn hoá, bởi vì văn hoá suy cho cùng cũng là cấu trúc, là trật tự của con người để vượt qua cái hỗn độn, hỗn mang, là cái đối với con người là vô cấu trúc. Trong suốt quá trình văn hoá, con người không ngừng tạo ra cấu trúc rồi phá bỏ cấu trúc cũ, đổi thay cấu trúc, nói cách khác là giải cấu trúc và tái cấu trúc luôn song hành với nhau để thích ứng với quan niệm trật tự mới. Lí luận văn học, thi pháp học cũng như vậy.

2.Thực tế hiện nay trong nhiều công trình khoa học trên thế giới thuật ngữ thi pháp học và lí luận văn học đang có một quá trinh tách nhập rất phức tạp.  Sự phân biệt, xâm nhập ấy thể hiện ở mấy biểu hiện sau. Đọc tiếp

Sách mới: Lịch sử lí luận phê bình văn học Việt Nam

(PBVH): “Cuốn sách này trước hết nhằm theo dõi sự thay đổi những quan niệm về văn học và phương pháp tiếp cận sáng tác văn học qua các giai đoạn. Tuy vậy cũng không thể bỏ qua những sự kiện quan trọng khác của đời sống lí luận, phê bình, chẳng hạn như những cuộc tranh luận văn học, các sự kiện xã hội, văn hóa, văn học có tác động mạnh đến đời sống lí luận, phê bình văn học một thời.Chính vì thế trong cuốn sách này, với mỗi giai đoạn, chúng tôi đều chia ra làm hai phần để trình bày: phần tổng quan mô tả những nét chính bối cảnh đời sống lí luận, phê bình; phần kia – những lối tiếp cận văn học, nhấn mạnh vào tư tưởng và phương pháp phê bình của các tác giả tiêu biểu”

Thông tin sách: Đọc tiếp

29 công trình, tác phẩm lý luận, phê bình văn học nghệ thuật được Hội đồng LLPB VHNT TƯ trao tặng thưởng 2010 – 2012

Ngày 28/3 tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học – Nghệ thuật Trung ương (LLPBVHNT TƯ) tổ chức kỳ họp thứ 6. Đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TƯ Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo TƯ đến dự và phát biểu ý kiến.

Trong báo cáo tại hội nghị, PGS, TS Hồng Vinh, Chủ tịch Hội đồng LLPBVHNT TƯ đã điểm lại kết quả triển khai các nhiệm vụ đã nêu ra ở kỳ họp lần trước và nêu những nhiệm vụ trọng tâm công tác từ nay đến kỳ họp thứ bảy và cuối năm 2013 là hoàn thiện Quy chế làm việc của hội đồng nhiệm kỳ Đại hội XI; thực hiện đề án khoa học cấp nhà nước “Lý luận văn nghệ ở Việt Nam – thực tiễn và định hướng phát triển”; tiếp tục khảo sát việc thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị, thông báo kết luận 213, Chỉ thị số 46 của Ban Bí thư TƯ. Kết quả xét chọn tặng thưởng các tác phẩm, công trình lý luận, phê bình văn học – nghệ thuật có giá trị cao trong ba năm từ 2010 đến 2012 đã được công bố tại hội nghị. Đọc tiếp

Sách mới, tuyển dịch những công trình có giá trị kinh điển: “Lý luận văn học – những vấn đề hiện đại”

Lý luận văn học – những vấn đề hiện đại (Nxb. Đại học sư phạm, 2012) do Lã Nguyên tuyển dịch những công trình “có giá trị kinh điển của những học giả hàng đầu ở thế kỉ XX”. Công trình này gồm 4 phần:

Phần 1: gồm các tác phẩm nổi tiếng “Vấn đề thể loại lời nói” của M.Bakhtin và các tiểu luận của Tz.Todorov, J.Kristeva, M.L.Gasparov về di sản của nhà bác học vĩ đại này Đọc tiếp

Phê bình văn học và những lằn ranh bất định

Phan Tuấn Anh

 “Ôi các nhà phê bình, chẳng lẽ không có gì khiến các vị mủi lòng sao?”(Sir Walter Scott)

 

Phê bình văn học (Critique littéraire) từ khi ra đời cho đến nay luôn phải tồn tại giữa những cuộc tranh luận và cả sự hồ nghi. Hiếm có một bộ môn nào trong ngành nghiên cứu văn học lại “chưa hoàn hình” trên nhiều phương diện đến như thế, nhưng cứ tồn tại xuyên suốt và chiếm giữ vị trí quan trọng trong “tam giác kim tự tháp” của khoa nghiên cứu văn học (từ dùng của Đỗ Lai Thúy, gồm Phê bình văn học, Lịch sử văn học và Lý luận văn học. Ngoài ra, hiện nay cũng có ý kiến đề xuất “tứ giác bộ môn” với sự xuất hiện thêm của Phương pháp luận nghiên cứu văn học). Đầu tiên, cho đến nay, có thể chúng ta vẫn chưa tìm được sự thống nhất cuối cùng về đối tượng nghiên cứu của phê bình văn học. Sự tồn tại của nhiều phương pháp phê bình khác nhau dẫn đến xuất hiện những đối tượng khác nhau, một số phương pháp hướng về tác giả (tiểu sử học, xã hội học Marxism, văn hóa – lịch sử…), một số phương pháp hướng về văn bản (chủ nghĩa hình thức Nga, thi pháp học, cấu trúc luận…), một số khác lại hướng về người đọc (tiếp nhận văn học, thông diễn học…). Đọc tiếp

Ebook: Sống với văn học cùng thời

Cuốn tiểu luận-phê bình này tập hợp một phần các bài viết của tác giả từ những năm 1980 đến gần đây. 

Hiển nhiên là đời sng văn hc ngh thut trong quãng thi gian y rng hơn nhiu, đa tp hơn nhiu so vi nhng gì mà mt ngòi bút phê bình kp đ cp. Nhng bài viết ri rác trong nhng thi đim khác nhau được tp hp vào đây, may lm cũng ch gi ra được mt cách nhìn vào đời sng văn hc đương thi, mt cách đc vào nhng tác phm được bàn đến, mt cách hiu v nhng hin tượng được quan sát. V chăng, ý kiến phê bình nào cũng ny sinh tc thi như là kết qu quan trc và phn x ti ch. Thi đim qua đi, các trang viết ch còn li như du tích v nhng gì đã tng xy ra. phương din y, có th xem cun sách này như mt  sưu tp có tính cht tư liu: nó có phn cn cho nhu cu t nhìn li ca tác gi, li cũng có phn cn cho gii nghiên cu và nhng ai có quan tâm. 

Trong việc sp xếp trình t các bài vào sách, đim được tính đến là thi đim viết, là đ tài, có khi còn là cách viết. Nhng bài l, ngn, v cùng đ tài, được xếp lin nhau; nhng bài tng gây tranh lun được xếp lin vi bài tác gi tr li các ý kiến khác, nếu có… Tuy vy, vn cn nói là tng bài đây đu có tính đc lp, như nó vn là thế lúc xut hin riêng l trên mt báo.                                                                                              Đọc tiếp

Hướng phát triển và những vấn đề của lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ 21

Diêm Gia

I
Lý luận phê bình văn học phương Tây hướng đến thế kỉ 21 sẽ có diện mạo như thế nào? Trên cơ sở thâm nhập nghiên cứu tài liệu gốc, tôi gọi cục diện cơ bản của lí luận phê bình văn học phương Tây hướng vào thế kỉ 21 là “thể phồn tạp” (Mosaicism(2)). Hàm nghĩa cơ bản của nó là “các phương pháp phê bình và quan điểm lí luận văn học phương Tây đương đại rất hỗn tạp, giữa chúng dường như không  hề có quan hệ nội tại, góc nhìn và điểm chú ý của mỗi phương pháp khác nhau, từng phương pháp lại có một vị trí riêng trong khu vườn học thuật, hình thành cục diện “trăm hoa đua nở”. Với bất kì một luận đề hoặc lĩnh vực nào, chúng ta cũng có thể phát hiện ra: tuy vấn đề mà họ quan tâm giống nhau, nhưng lập trường, xuất phát điểm, căn cứ lí luận, phương pháp bàn luận và kết luận đưa ra của họ đều rất khác nhau. Nói một cách khác, cách nhìn của họ đối với cùng một vấn đề là vô cùng “đa nguyên”, hoàn toàn không tìm kiếm sự thống nhất, dường như không có bất kì một chủ âm nào.
Tôi dùng cụm từ “thể phồn tạp” để miêu tả diện mạo lí luận phê bình văn học phương Tây đương đại là muốn nhấn mạnh các loại lí luận phê bình văn học phương Tây hiện nay không chỉ có đặc trưng phiến đoạn, hỗn tạp, lắp ghép, mà mỗi loại đều muốn thể hiện đặc sắc riêng của mình, muốn trở thành một màu sắc trong “tấm khảm đa màu”, không muốn dung nạp lí thuyết khác, và cũng không muốn bị lí thuyết khác hấp thụ. Cục diện mỗi loại đều có sắc màu riêng này chính là đặc trưng điển hình cho việc ra sức theo đuổi “đa nguyên hóa” (plurality) của thời hậu hiện đại, cũng là diện mạo cơ bản của văn hóa và tư tưởng phương Tây đương đại. Bề ngoài, một mặt “thể phồn tạp” của hậu hiện đại dùng “đa nguyên hóa” để đối kháng với “trung tâm hóa”, khống chế, thao túng hình thái ý thức chủ đạo; mặt khác lại thông qua “phiến đoạn hóa” để khẳng định mình không hướng tới kiến tạo hệ thống lí luận đại tự sự, mà chỉ là từ góc độ đặc thù, hoặc thể hiện một quan niệm, hoặc tiến hành hóa giải lí luận truyền thống, thậm chí phá vỡ biên giới khoa học truyền thống, thảo luận một vấn đề “chuyên ngành” nào đó trên bình diện khoa học liên ngành, liên lĩnh vực (ví dụ như vấn đề “giới tính”), kết quả là khiến vấn đề văn học vượt ra ngoài bản thân, thẩm thấu vào những lĩnh vực khác. Nói cách khác, hiện nay chúng ta rất khó tìm thấy vấn đề lí luận văn học hoặc phê bình văn học “thuần túy”. Đọc tiếp

Diễn biến lý luận văn học phương Tây thế kỉ XX*

Đồng Khánh Bính

Lí luận văn học phương Tây từ Platon, Aristote đến thế kỉ XIX, đã trải qua quá trình kéo dài trên hai nghìn năm. Xét về quan niệm văn học, thuyết “mô phỏng” đã ngự trị suốt hai nghìn năm, mãi đến đầu thế kỉ XIX, thuyết “biểu hiện” mới được đưa ra và xác lập địa vị của mình. Luồng mạch chung của lí luận văn học phương Tây trước thế kỉ XX khá rõ ràng, điều này đã được trình bày tường tận trong nhiều tài liệu và chuyên luận. Do đó ở đây lược đi không bàn đến.

Ở phương Tây, thế kỉ XX được gọi là “thế kỉ của phê bình”, lí luận văn học xuất hiện tình trạng cực kì phức tạp rối rắm, nhiều loại âm thanh, nhiều hướng đi, nhiều loại quan niệm giá trị, nhiều loại khởi điểm lôgic. Xét tổng thể, chúng vẫn bị giới hạn bởi thế giới quan của giai cấp tư sản, do đó chứa đầy quan điểm phi lịch sử, phi lí tính, hình thức chủ nghĩa, duy mĩ chủ nghĩa, cá nhân chủ nghĩa, tạo nên sự thách thức đối với lí luận văn học mácxít. Song xét cục bộ, lí luận văn học phương Tây thế kỉ XX trong hàng loạt vấn đề như lí luận tác giả, lí luận tác phẩm, lí luận độc giả, lí luận văn hóa… đều có những khám phá chiều sâu và phát hiện mới. Chúng ta sống trong thế kỉ XX, trong quá trình học tập lí luận văn học lại nhắm mắt làm ngơ, tự khép kín mình, hoàn toàn không để ý đến sự phát triển của lí luận văn học phương Tây thế kỉ XX là điều không thể. Chúng ta cần phải và có thể như thái độ của Marx, Engels năm xưa khi sáng lập chủ nghĩa Marx, lấy lí luận văn học phương Tây thế kỉ XX làm điểm tham chiếu, hoặc coi đó là một loại dưỡng chất cần hấp thu để chúng ta hôm nay xây dựng nền lí luận văn học mácxít mang đặc sắc Trung Quốc. Đương nhiên, việc tham chiếu và hấp thu mà chúng ta vừa nói đến, không phải loại rập khuôn bệ nguyên xi, mà là sự vay mượn vận dụng có phê phán. Để đạt được mục đích đó, chúng ta phải bằng mọi cách thực sự khách quan làm rõ những quan điểm tư tưởng, hệ thống lí luận của các loại trường phái lí luận văn học, trên cơ sở đó tiến hành phê phán mới có thể nhằm trúng đích, khiến mọi người tin phục; trên cơ sở đó vay mượn vận dụng mới có thể hấp thu được tinh hoa và loại bỏ được cặn bã. Đọc tiếp

Phê bình văn học là gì?

Đỗ Lai Thúy

 1.NHẬN DIỆN 

Con người là một động vật định nghĩa

CÁCH NGÔN Đọc tiếp

Cần loại bỏ phương pháp sáng tác ra khỏi lý luận phê bình văn họchiện nay*

Trần Đình Sử

Trong hệ thống lí luận văn học mác xít lưu truyền từ những năm 30 thế kỉ trước đến nay có một khái niệm quyền uy ngự trị trong lí luận văn học các nước xã hội chủ nghĩa. Đó là khái niệm phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nó không chỉ là phương pháp sáng tác mà còn là phương pháp phê bình văn học. Nhà văn thì phải nắm vững phương pháp sáng để sáng tác, còn nhà phê bình văn học thì phải vận dụng phương pháp ấy để phê bình, đánh giá xem tác phẩm nào đó hay cả nền văn học có đi theo định hướng của phương pháp ấy không. Nếu có thì biểu dương, nếu không thì phê phán, trường hợp nặng thì có thể đi đến chấm dứt cuộc đời sáng tác. Từ khi kết thúc cách mạng văn hoá, bước sang hiện đại hoá, Trung Quốc dần dần đã từ bỏ khái niệm phương pháp sáng tác. Các giáo trình lí luận văn học Trung Quốc từ năm 1995 đã lần lượt không dùng khái niệm ấy nữa[1]. Từ những năm 70 ở Liên Xô cũ, khi D. Markov nêu ra phương pháp chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như là hệ thống mở, thì khái niệm phương pháp chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã có thay đổi lớn, nó không còn là phương pháp mà đã là hệ thống sáng tác, trong đó tính đảng không còn là yếu tố của phương pháp sáng tác nữa. Từ sau năm 1991 khi Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa về cơ bản cũng bị phế bỏ luôn. Các giáo trình Đại học như của V. E. Khalizev không có khái niệm phương pháp sáng tác nữa, mà chỉ gọi là trào lưu hay “cộng đồng văn học có tính thế giới”[2]. Giáo trình Lí luận văn học do H. D. Tamarchenco chủ biên đã loại bỏ khái niệm phương pháp sáng tác[3]. Chỉ còn một số rất ít người còn nhắc đến trên bình diện lịch sử, ví dụ như nhà lí luận Iu. Borev[4].

Trên thế giới, hiện nay hầu duy nhất chỉ có nước Việt Nam ta trong giáo trình lí luận văn học là vẫn còn mục phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Gần đây nhà nghiên cứu Phương Lựu trong một bài báo hưởng ứng Nghị quyết 23 của Bộ chính trị tháng 6 – 2008, đã phê phán rất sâu sắc những “sai lầm cơ bản của lí luận hiện thực xã hội chủ nghĩa”, nhưng đối với vấn đề có tiếp tục sử dụng khái niệm phương pháp sáng tác nữa không, thì ý kiến của ông là tiếp tục, và ông còn hăng hái “bước đầu hình dung phương pháp sáng tác thay thế”, mà ông gọi là “chủ nghĩa chân thực, dân bản”[5]. Dĩ nhiên chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa  là một trào lưu văn học lớn, đã có lịch sử tồn tại gần một trăm năm, hiện diện trong văn học sử, vậy không có lí do gì để phủ nhận nó. Để học tập, nghiên cứu nó, người ta chỉ cần lí thuyết về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là đủ, không cần có lí thuyết về phương pháp sáng tác. Lẫn lộn lí thuyết về sáng tác, một chủ thuyết mà người ta gọi là “ism” của một trào lưu và lí thuyết về phương pháp sáng tác là một  nhầm lẫn về lí luận cần được xoá bỏ. Đọc tiếp

Văn học và hiện thực trong tầm nhìn hiện đại*

Trần Đình Sử

Văn học và hiện thực là một trong những vấn đề trung tâm của lí luận văn học,  cho đến nay, dù có rất nhiều hệ thống lí luận giải thích khác nhau, vẫn chưa có lí luận nào được nhất trí công nhận. Đó là vì hoạt động  văn học có nhiều mối quan hệ, mà mỗi lí luận thường chỉ xây dựng theo một quan hệ nhất định để khái quát  thành nguyên lí, cho nên thường ít gặp nhau. Theo sự phân tích của nhà lí luận văn học Mĩ M. H. Abrams, mọi lí luận văn học đều xây dựng trên quan hệ của các yếu tố cơ bản họp thành hoạt động nghệ thuật sau đây:

Thế giới (hiện thực) Đọc tiếp

Tư duy lý luận trước ý thức văn học đang phát triển

Lại Nguyên Ân

Lý luận bao giờ cũng có vai trò quan trọng, đối với một nền văn học nói chung trong cả cái bề rộng và bề dày của nó, và nói riêng, trong mỗi giai đoạn phát triển văn học, khi có lắm vấn đề thực tiễn đặt ra.

Sự thật, nền văn học nào cũng có lý luận của nó − cả thứ lý luận không thành văn lẫn lý luận thành văn, thành câu chữ, bài bản, sách vở. Tôi muốn gọi thứ lý luận không (hoặc chưa) thành văn kia là cái ý thức văn học hình thành (“ngầm” chăng?) trong nền văn học đó, trong giới những người làm văn học, trước hết là giới sáng tác, và sau nữa, cả trong giới công chúng văn học một thời đại. Chính cái ý thức văn học này phải là tiền đề, là nguyên liệu, và rốt cuộc là nội dung của thứ lý luận thành văn mà sự phân công xã hội trong văn học đem giành việc cho các nhà lý luận phê bình. Muốn gắn chặt với nền văn học chung, lý luận phải đích thực là tiếng nói tự ý thức của nền văn học ấy. Đọc tiếp

Khoa văn học tiền hiện đại

Trương Đăng Dung

Tư duy tiền hiện đại vẫn chưa đưa ra được lời giải thích thực tế về các mối liên kết ẩn chứa đằng sau quá trình lịch sử, mà chỉ diễn giải chúng bằng những lí lẽ đạo đức một cách trừu tượng trên cơ sở niềm tin. Tuy vậy,  phương thức tư duy tiền hiện đại đã mang đến những thành tựu có ý nghĩa thuộc về lí luận nhận thức. Khoa học lịch sử, tâm lí học và xã hội học ra đời cùng với ngôn ngữ học lịch sử và ngữ văn học là những ngành khoa học xã hội nổi bật thể hiện tư duy tiền hiện đại, chịu ảnh hưởng sâu sắc chủ nghĩa thực chứng trong triết học của August Comte, Herbert Spencer; còn sinh vật học là lĩnh vực bị chi phối bởi các luận điểm của Darwin về sự tiến hóa.
Tư duy tiền hiện đại đạt đến đỉnh cao vào nửa sau thế kỷ XIX, nhưng nhiều tư tưởng ở lĩnh vực khoa học nhân văn tiền hiện đại vẫn tiếp tục duy trì ảnh hưởng ở thế kỷ XX. Cho đến hôm nay, các công trình khoa học văn học ở nhiều nơi trên thế giới vẫn nghiên cứu theo phương thức tư duy tiền hiện đại. Trong văn học sử hay trong các bài giảng văn ở nhà trường, vẫn thường có những sự diễn giải văn chương về bối cảnh xã hội, đời tư tác giả. Người ta tìm kiếm các mối quan hệ nhân quả và nhấn mạnh đến bài học về đạo đức làm người của văn học. Không phải ngẫu nhiên, ảnh hưởng của tư duy tiền hiện đại trong khoa học văn học lại mạnh mẽ và lâu dài như vậy, vì chính khoa học văn học đã đóng vai trò đi đầu trong các khoa học nhân văn thời đó, ở châu Âu, với hai trào lưu quan trọng là Thực chứng và trào lưu đối lập nhưng vẫn dựa vào các nguyên tắc lịch sử là Lịch sử tinh thần. Ngoài ra, phải kể đến phương thức tư duy tiền hiện đại trong chủ nghĩa Marx cổ điển với lí thuyết xã hội duy lí về các hình thái xã hội và thuyết đấu tranh giai cấp. Đọc tiếp

Mấy nhận thức về phê bình văn học

Phạm Vĩnh Cư

1. Bản chất của phê bình văn học là gì? Mặc dù, như ta biết, trong các ngôn ngữ hiện đại tổ từ “phê bình văn học” có nội hàm rộng hẹp khác nhau, từ đấy mà người ta có thể có những quan niệm rất không giống nhau về chức năng và công dụng của loại hình hoạt động xã hội này, vẫn không khó đi đến một lời đáp thống nhất cho câu hỏi vừa nêu. Nó không mới, và nhiều trí tuệ thuộc nhiều dân tộc và thời đại khác nhau đã trả lời nó khá thoả đáng.

Trong một áng văn rất cổ xưa của Platon các nhà phê bình văn học thời nay tìm thấy một định thức chuẩn xác về thực chất của cái công việc mà họ đương làm. Đề cập đến những tiêu chuẩn của một công dân Hy Lạp có học, Platon nhấn mạnh tầm quan trọng của việc am hiểu thơ ca, tức là “hiểu được những gì mà các nhà thơ nói, phán định được cái gì hay và cái gì không hay trong những trước tác của họ, biết phân tích những cái đó và giải thích, nếu có ai hỏi”.(1) Platon nói về nền phê bình nói - hình thức phê bình văn học ngàn đời tồn tại song hành với sáng tác văn học và ngày nay vẫn có chỗ đứng ngay trong những xã hội hiện đại nhất. Giữa phê bình nói và phê bình viết không thể có khác biệt về đối tượng, và Platon đã chỉ ra cái đối tượng muôn thuở ấy của phê bình văn học – đó là tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học, chứ không phải những tác giả hay những trào lưu trường phái hay những thời đại văn học – tất cả chúng đều là những đại lượng, những cấu trúc phối sinh do tác phẩm hun đúc nên. Định thức của Platon cũng nêu bật được sự khác biệt cơ bản giữa nhà phê bình văn học với người thưởng thức bình thường – nhà phê bình không chỉ phân định được cái hay và cái không hay trong tác phẩm văn học mà còn biết phân tích và giải thích cho người khác. Để phân định được cái hay và cái không hay trong tác phẩm văn học, nhà phê bình phải có khiếu thẩm mỹ tốt, tinh tế; để phân tích và giải thích được cho người khác những cảm nhận của mình, anh ta phải nắm vững những thủ pháp tư duy luận lý – trong định thức ngắn gọn của Platon tiềm ẩn một yêu cầu và một tiêu chí về nhà phê bình văn học như là con người kết hợp được ở trong mình một nghệ sĩ với một nhà khoa học, yêu cầu ấy và tiêu chí ấy luôn luôn thiết yếu và không bao giờ lỗi thời. Đọc tiếp

Mấy vấn đề lý luận về phê bình văn học

Trần Đình Sử

Trên thế giới thế kỉ XX được mệnh danh là thế kỉ của phê bình. Đó là vì phê bình xuất hiện nhiều trường phái thay thế nhau, tranh luận nhau, đặt ra hàng loạt vấn đề thiết yếu của đời sống văn học. Phê bình văn học vươn lên thành một hoạt động độc lập với văn học, có tác động tích cực trở lại đối với tiến trình văn học hiện đại. Trong trào lưu đó lý luận về phê bình phát triển mạnh, trở thành một bộ môn được giảng dạy trong các trường đại học, xuất hiện nhiều giáo trình lý luận nghiên cứu và phê bình văn học, có tạp chí riêng về phê bình.

So với các nước trên thế giới, phê bình văn học Việt Nam phát triển muộn. Chúng ta chỉ mới có phê bình văn học hiện đại bắt đầu từ những năm 1930 – 1940 của thế kỷ XX. Bước vào cuộc chiến tranh cứu nước 30 năm và cho đến nay phê bình văn học Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đọc tiếp

Văn bản văn học và sự bất ổn của nghĩa

Trương Đăng Dung

Lí luận văn học hiện đại (với chủ nghĩa cấu trúc) đã tiếp cận vấn đề phương thức tồn tại của tác phẩm văn học ở một bình diện khác hơn so với lí luận văn học tiền hiện đại. Nhưng rồi đến lượt nó, lí luận văn học hậu hiện đại (với giải cấu trúc) đã phá vỡ những giới hạn của tư duy lí luận văn học hiện đại nhằm tiếp cận một cách triệt để hơn bản chất của văn bản văn học, soi sáng những yếu tố gây nên sự bất ổn của nghĩa, trả lời câu hỏi tác phẩm văn học là hình thức ngôn ngữ đặc trưng hay là hình thức đọc đặc trưng, vai trò của sự đọc sai, hiểu sai văn bản văn học là gì…?

Sự phát triển của chủ nghĩa cấu trúc được duy trì đến hết những năm 60 của thế kỷ XX, khi bắt đầu bộc lộ những vấn đề bên trong hệ thống của nó. Và Jacques Derrida, nhà triết học người Pháp, đã có vai trò quan trọng trong việc phê phán những quan điểm triết học liên quan đến chủ nghĩa cấu trúc. Ông đã cho thấy những vấn đề cần xem xét lại trong quan niệm ngôn ngữ học hiện đại và chủ nghĩa cấu trúc. Derrida xuất hiện ở giai đoạn cuối cùng của một quá trình mà những phạm trù quyết định của siêu hình học cổ điển (cảm nhận, nhận biết, đúng, nguyên nhân, tư tưởng, tinh thần) được tái lí giải như là vấn đề ngôn ngữ. Và ngôn ngữ với bước đi này không phải đơn giản chỉ là cái diễn đạt những ý nghĩ, mà trở thành hình thức cơ bản, thành bản chất của những ý nghĩ. Triết học trở thành triết học ngôn ngữ. Việc nghiên cứu bản chất của ngôn ngữ đòi hỏi phải phát hiện ra quyền uy phổ quát của tính chất ngôn ngữ, bởi vì chỉ như vậy thì mới có thể hoàn thành việc tạo dựng một cơ sở ngôn ngữ học phù hợp. Ngôn ngữ học hình thức (lí thuyết ngôn ngữ học đại cương của Saussure) là sản phẩm của bước đi thứ hai này. Derrida đã nghi ngờ khái niệm tính ngôn ngữ được quan niệm theo phương pháp cấu trúc – hình thức trong chủ nghĩa hiện đại. Cái mới trong cách tiếp cận của ông không phải là việc đưa vào vị trí của khái niệm cũ một khái niệm mới, mà ở việc ông đã chỉ ra cái nền tảng của lôgích tư duy dẫn đến chủ nghĩa hiện đại đã trở nên có vấn đề. Ngay trong phần đầu của tác phẩm “Văn phạm học(1), ông đã nói về sự giảm giá của từ, về sự lạm phát của kí hiệu ngôn ngữ. Derrida hoài nghi quan điểm cho rằng langue (ngôn ngữ) và các khái niệm của tư duy triết học ngôn ngữ sau đó, mô tả cấu trúc cuối cùng và sự hoạt động của chủ thể. Derrida có nhiều quan điểm trực tiếp tác động vào khoa học văn học, bởi vì những vấn đề mà ông đặt ra đều đụng chạm đến không chỉ môi trường nghiên cứu văn học mà cả bản chất của nó nữa. Có thể nói các triết gia hậu hiện đại đều đặt ra những vấn đề liên quan đến quá trình văn học, đến sự hiểu tác phẩm văn học và cùng với nó là khoa học văn học, nhưng chưa đi sâu vào bên trong hệ thống của nó. Đọc tiếp