“Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn. Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh (hay ngôn ngữ – đối tượng)” – Roland Barthes.

Tag: Nguyễn Đăng Điệp

Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại

Nguyễn Đăng Điệp

DẪN NHẬP

Từ khi coi Eva được sinh ra từ cái xương sườn của Adam, mặc nhiên, vai trò của nữ giới bị coi là vai trò lệ thuộc và bị chi phối bởi nam quyền. Hơn thế, với hành vi dụ dỗ Adam ăn trộm táo thần, Eva đã trở thành nguồn gốc sinh ra tội lỗi. Như vậy, trong cái nhìn lịch sử, nhất là từ khi hệ thống văn tự được xác lập, phái nam gần như giữ vai trò thống trị tuyệt đối. Không phải ngẫu nhiên mà man vừa có nghĩa là nam vừa có nghĩa là nhân loại trong khi đó woman mang tính chỉ giới rõ nét (nữ được sinh ra từ nam). Tuy nhiên, trước khi điều này chính thức được thừa nhận, loài người đã bắt đầu lịch sử của mình bằng chế độ mẫu quyền (mẫu hệ). Trong nhiều từ điển, cửa mình được hiểu như là nguồn gốc của sự sống. Nhưng sự sống ấy lại được khởi nguồn từ sự gieo giống và điều này, không còn cách nào khác, phải trông chờ vào đàn ông. Cùng với thời gian, đàn ông, với ưu thế sức mạnh cơ bắp và là người tạo ra thu nhập kinh tế nhiều hơn đã trở thành “kẻ mạnh”.

Trong sử thi Iliat của Homer, phụ nữ và nô lệ là phần thưởng cho kẻ thắng trận. Tuy nhiên, về mặt sinh học, trong ba tuần đầu, thai nhi  có hình thức của một bé gái, các tuần lễ sau đó mới bắt đầu hình thành giới, phân chia thành trai và gái. Ở phương Đông, trong khi một số nước Hồi giáo quy định phụ nữ ra đường phải che mặt thì ở một số nước khác, nước tục thờ Mẫu khá phát triển và nhiều khi, tay hòm chìa khoá được trao cho phụ nữ (hệ quả: “Lệnh ông không bằng cồng bà”). Nói thế để thấy rằng, vấn đề giới tính là một vấn đề phức tạp. Nó gắn liền với ý thức hệ, chính trị, tôn giáo, được thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ và văn học. Cuộc chiến đấu/ nổi loạn để giành lại vị thế đã mất của nữ giới vốn âm ỉ rất lâu trong lịch sử đã dần phát triển mạnh mẽ với tên gọi là nữ quyền luận/ chủ nghĩa nữ quyền (feminism). Phong trào này xuất phát từ ý thức về bản thân mình của giới nữ, được manh nha vào thời kỳ Khai sáng và bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XIX đến nay(1). Vào năm 1949, nữ văn sĩ Pháp Simon de Beauvoir cho xuất bản Giới tính thứ hai (The second sex). Đây là công trình có ý nghiã hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa nữ quyền trong đời sống xã hội hiện đại nói chung và trong văn học nói riêng. Khi bàn về giới tính thứ hai (đàn bà), tác giả muốn tạo ra sự bình đẳng trong việc so sánh nó với giới tính thứ nhất (đàn ông). Khoảng mười năm sau, cùng với những thay đổi lớn lao trong đời sống tư tưởng của nhân loại, Phê bình nữ quyền (Feminist criticism), với tư cách là một trường phái phê bình chính trị, xã hội đã phát triển hết sức mạnh mẽ. Thậm chí, trong giai đoạn hiện nay, phê bình nữ quyền mở rộng, chia thành nhiều nhánh và mang nhiều sắc thái hết sức khác nhau. Gắn liền với những đổi thay to lớn ấy, âm hưởng nữ quyền đã ngấm sâu vào văn học, tạo thành một tiếng nói, một bản sắc độc đáo trong văn học hiện đại và hậu hiện đại(2). Đọc tiếp

Đặng Thân – “điển hình của văn học hậu-Đổi mới”

(Ghi chép Tọa đàm về “Dị-nghị-luận|Đồng chân dung” của Đặng Thân, L’ESPACE – HÀ NỘI 9/1/2013)

 

SYLVAIN FOURRIÈRE – Giám đốc Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội (L’Espace) khai mạc:

Chúng tôi xin mời quý vị đến với buổi tọa đàm về tác phẩm Dị-nghị-luận|Đồng-chân-dung của Đặng Thân. Tọa đàm này được tổ chức nhân dịp ra mắt cuốn sách của Đặng Thân, do Công ty sách Thái Hà xuất bản, và cũng là đơn vị đồng tổ chức sự kiện hôm nay. Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Công ty sách Thái Hà. Đọc tiếp

Hàn Mặc Tử và mỹ học của khát vọng

Nguyễn Đăng Điệp

                                  Bởi vì, tôi là một kẻ khác -  Arthur Rimbaud

Trong lịch sử thơ ca dân tộc, Hàn Mặc Tử là một “ca” đặc biệt. Đặc biệt vì bệnh tật và cô đơn: Thịt da tôi sượng sần và tê điếng – Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên – Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm – Cho trăng ngập dồn lên tới ngực (Hồn là ai?). Đặc biệt về tài năng: “Mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến đi, và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” (Chế Lan Viên, Người mới, số 5, ngày 23.11.1940). Đặc biệt trong tiếp nhận: bên cạnh những lời ngợi ca là những cái nhìn đầy nghi hoặc. Lại nữa, hoàn cảnh chiến tranh và biết bao định kiến hẹp hòi đã làm cho nhiều người hiểu sai lệch về ông. Nhưng cùng với thời gian, người ta đã dần vén lên sự thật về một tài năng cỡ độc nhất vô nhị của thơ ca Việt Nam hiện đại. Cái gì của Cesar thì trả lại Cesar. Đã có rất nhiều công trình đã viết về Hàn Mặc Tử, nhưng ai dám chắc mình đã hiểu được những vẻ đẹp mà ông đã góp cho thơ? Câu hỏi Hàn Mặc Tử – anh là ai vẫn còn đó. Như một thách đố và một mời gọi…

Tài năng thi ca của Hàn Mặc Tử được bộc lộ từ rất sớm. Ngay từ năm 1931, khi Hàn Mặc Tử đăng ba bài thơ trên tờ Thực nghiệp dân báo (số 3248), Phan Bội Châu đã họa lại cả ba bài và tỏ lời khen ngợi nồng nhiệt. Rồi từ Gái quê đầy hiền lành, bẽn lẽn, Hàn Mặc Tử gây sửng sốt thi đàn bằng việc dựng lên cả một thế giới “kinh dị” với những “lời thơ như dính máu” (Hoài Thanh). Thế giới ấy đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của lý trí thông thường vì đó là kết quả của những giây phút siêu thăng: Đọc tiếp

Đổi mới thơ Việt Nam đương đại nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều *

 Nguyễn Đăng Điệp

Ta vẽ mắt nhân loại hình lục giác – NQT

1. Chuyển động và lựa chọn

Về thơ Việt Namđương đại, hiện có nhiều đánh giá khác nhau. Người bảo “nền rộng nhưng thiếu đỉnh”. Người bảo “thơ đi ngang”. Người lại quả quyết, thơ hiện nay “ngang ngửa” thậm chí “chất lượng và bề thế hơn” thơ các giai đoạn trước… Những đánh giá ấy, dĩ nhiên, xuất phát từ những góc nhìn và tâm thế khác nhau. Nhưng sự tản mạn, không thống nhất về thơ sau 1975 là điều có thể hiểu được, vì, thứ nhất, độ lùi đánh giá chưa xa; và, thứ hai, so với thơ ca trước đây, thơ Việt sau 1975 phức tạp hơn, tính ly tâm cao hơn. Phức tạp bởi các nhà thơ không còn bó mình trong một kiểu nghĩ, một trường thẩm mỹ chung. Ly tâm bởi muôn nẻo kiếm tìm và phương cách biểu đạt bản thể. Thêm nữa, mỹ cảm nghệ thuật hiện đại/ hậu hiện đại đã khai mở và kích thích những cuộc phiêu lưu bất tận của nhà thơ, cái toàn trị đã dần nhường chỗ cho cái phân mảnh, tiếng nói cộng đồng đã nhường chỗ cho tiếng nói cá nhân,… Giờ đây, người ta đang chứng kiến sự hiện diện cùng lúc nhiều loại hình giá trị: trung tâm và ngoại vi, chính thống và phi chính thống, cao sang và suồng sã, cổ điển và phi cổ điển,… Ấy là chưa nói đến sự hòa trộn thể loại, sự xóa nhòa phong cách, sự tương tác giữa các loại hình nghệ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, khiến cho lý luận về thể loại và lý thuyết về văn học phải nhanh chóng điều chỉnh, thay đổi nếu muốn bắt kịp những chuyển động cũng như những kết hợp nghệ thuật mới… Sự rối trí của người đọc và của giới phê bình, vì những lý do đã nói, thể hiện không chỉ trong những nhận định mang tính khái quát về một giai đoạn văn học mà còn thể hiện trong việc định giá, lý giải những trường hợp cụ thể. Điều đó có thể nhìn thấy trong hàng loạt diễn giải về thơ sau 1975 và sáng tác của nhiều cây bút cách tân trong đó có Nguyễn Quang Thiều. Không ít người tỏ ý thích thơ Thiều mặc dù… chẳng hiểu gì. Với họ, thi giới Nguyễn Quang Thiều đầy ma lực nhưng lại quá phức tạp. Phức tạp như một mê cung! Đọc tiếp

Buồn vui phê bình văn học hôm nay

Nguyễn Đăng Điệp

1. Mở đầu Phê bình và Cảo luận, quyển sách được coi là tác phẩm mở đầu cho phê bình văn học Việt Nam hiện đại, Thiếu Sơn dẫn lời của một nhà phê bình phương Tây: Nhà phê bình là kẻ đọc giùm cho người khác( Le critique est celui qui lit pour les autres)(1). Như vậy, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Thiếu Sơn Lê Sĩ Quý đã hình dung một cách chính xác vị thế cuả nhà phê bình: phê bình văn học là một hình thái của tiếp nhận văn học. Nhưng sự khác biệt giữa nhà phê bình với một người đọc thông thường chính là ở chỗ anh ta có khả năng “đọc giùm” cho người khác bằng kinh nghiệm thẩm mĩ tinh tế của mình. Như vậy, về thực chất,  nhà phê bình  đảm nhiệm chức năng của một loại “siêu độc giả”. Sau đó, phê bình chia thành hai nhánh rõ rệt, một: của Hoài Thanh, nghiêng về ấn tượng “cố lấy hồn tôi để hiểu hồn người” và hai: phê bình khách quan của của Vũ Ngọc Phan với ba chữ W: WhatWhy - How (Ra sao? Tại sao? và Làm thế nào)(2).

Dĩ  nhiên, từ những năm đầu thế kỷ XX đến nay, quan niệm về phê bình văn học đã có quá nhiều thay đổi. Trên thế giới, nhiều trường phái, nhiều khuynh hướng phê bình xuất hiện và bị thay thế. Trong nước, do ảnh hưởng của những thành tựu phê bình hiện đại, diện mạo và quan niệm phê bình văn học cũng có nhiều đổi thay.  Sự biến đổi ấy trước hết gắn liền với sự phát triển của chính bản thân văn học, sau nữa, gắn liền với tương quan giữa văn học và đời sống. Nếu như các nhà phê bình văn học cổ chủ yếu tập trung khám phá thần cú, nhãn tự trong tác phẩm văn học nhằm thỏa mãn cảm giác “cũng sướng lắm sao” thì phê bình văn học hiện đại mở ra một viễn cảnh mới trên cơ sở tư duy mới về vai trò, vị thế, chức năng của phê bình. Đối tượng chủ yếu của phê bình văn học vẫn là tác phẩm văn học nhưng công việc chủ yếu của nhà phê bình văn học không chỉ dừng lại ở chỗ nêu lên cái hay cái đẹp của tác phẩm hoặc cố gắng xác lập mối tri âm giữa nhà văn và nhà phê bình mà hơn thế, nhà phê bình phải nhận ra sự vận động bên trong của đời sống văn học, từ đó đưa ra các phán đoán về các giá trị, lí giải một cách thuyết phục những hiện tượng văn học đang diễn ra trước mắt. Hoạt động phê bình văn học, vì thế, không phải là một hoạt động có tính thụ động mà trái lại, là hoạt động đầy tính sáng tạo. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người đã khẳng định rằng, những thành tựu về lí thuyết tiếp nhận là đóng góp quan trọng bậc nhất của lí luận văn học nửa cuối thế kỷ XX(3). Ảnh hưởng của lí thuyết tiếp nhận thể hiện rất rõ trong đời sống nghiên cứu và phê bình văn học, nó cho phép trên cùng một tác phẩm có những cách đọc khác nhau, những cách lí giải khác nhau. Sẽ không có một ai trở thành  người “phán xử cuối cùng” các giá trị tiềm ẩn trong văn bản nghệ thuật khi mà dưới ánh sáng lí luận văn học hiện đại, người ta hiểu “tác phẩm văn học như một quá trình”(4). Tính sáng tạo trở thành một nguyên tắc cơ bản trong quá trình tiếp nhận các giá trị văn học. Điều đó được thể hiện rõ nhất trên ba phương diện: thứ nhất, nhà phê bình phải là người có mắt xanh phát hiện ra những tác phẩm nghệ thuật đích thực, phát hiện ra những tài năng nghệ thuật mới; thứ hai, các kiến giải của anh ta phải mang tính phát hiện, nhìn thấy cái khách quan thông qua cái nhìn thấm đầy chủ kiến( thể hiện rõ nhất ở chiều sâu lí giải, sự nhạy bén trong quá trình tiếp cận cái mới, ý thức khẳng định giả thiết khoa học của mình…); thứ ba, biết nêu lên những đề xuất đích đáng để góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học. Bởi thế, khác với các bộ môn khác trong khoa nghiên cứu văn học, lãnh địa phê bình là nơi cho phép xuất hiện các phong cách cá nhân. Nói khác đi, một khi tạo nên phong cách, nhà phê bình cũng là một nhà văn với đúng nghĩa của nó. Mặc dù phê bình văn học chủ yếu hướng tới những hiện tượng văn học đương đại nhưng nó cũng có thể hướng về các giá trị đã được khẳng định trong quá khứ. Vấn đề là khi hướng về những giá trị của quá khứ, nhà phê bình phải nói lên được điều gì mới mẻ có ý nghĩa với đời sống văn học đương đại. Không phải ngẫu nhiên mà  Belinski đã từng gọi phê bình văn học là “mĩ học vận động”, là “sự tự thức nhận của thời đại”. Vượt qua sự cảm thụ cảm tính, những kiến giải của nhà phê bình thường đại diện cho một khuynh hướng thẩm mĩ nhất định, những mối quan tâm của anh ta phải xuất phát từ nhu cầu của bản thân đời sống văn học và thực tiễn. Vì thế, thông qua việc phân tích, lí giải các hiện tượng văn học, nhà phê bình tham gia vào quá trình tạo dư luận xã hội nhằm góp phần điều chỉnh, định hướng cho sự phát triển của văn học. Đọc tiếp