“Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn. Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh (hay ngôn ngữ – đối tượng)” – Roland Barthes.

Tag: Phan Tuấn Anh

Lịch sử như là hư cấu – quan điểm sáng tạo mới về đề tài lịch sử

Phan Tuấn Anh 

 1. Đi tìm sự thật biết cười

Hẳn khi Umberto Eco viết những dòng đầy cảm xúc trong tiểu thuyết Tên của đóa hồng rằng: “Có lẽ sứ mệnh của những người yêu nhân loại là làm cho con người cười vào chân lý, là làm chân lý cười lên, vì chân lý duy nhất là học cách giải thoát chúng ta khỏi sự đam mê chân lý một cách điên cuồng” [6,490], nhà kí hiệu học người Italia cũng nằm trong quỹ đạo quan điểm mới về đề tài lịch sử. Bởi lẽ, con người hậu hiện đại (cả nhà văn và người đọc) đã tái nhận thức triệt để về vấn đề miêu tả lịch sử trong văn học, bản chất của diễn ngôn sử học, mà nói theo cách của chính Eco trong Lời tái bút cho tên của đóa hồng đó là cảm quan về một thời đại mà  “sự ngây thơ bị đánh mất”: “Đến điểm này, tránh được sự ngây thơ giả dối trong lúc nói rõ là không thể còn nói một cách ngây thơ nữa, tuy nhiên chàng trai này đã nói với nàng con gái điều chàng ta muốn nói: rằng chàng yêu nàng, nhưng yêu nàng trong một thời đại của sự ngây thơ đã đánh mất” [7,98]. Vậy, chúng ta đã “đánh mất sự ngây thơ” như thế nào? Và nguyên nhân gì khiến những “người con gái” chấp nhận đánh mất sự ngây thơ?

Đời sống văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung ở nước ta những năm đầu thế kỷ XXI chứng kiến sự phát triển nở rộ và thăng hoa của đề tài lịch sử. Quá trình ấy có thể lý giải từ nguyên nhân đầu thế kỷ XXI dân tộc trải qua nhiều mốc thời gian, sự kiện lịch sử quan trọng, hơn nữa, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng khiến vấn đề bản sắc dân tộc (national identity) đứng trước những thách thức cần khẳng định. Đặc biệt, chúng tôi chia sẻ quan điểm với Đoàn Ánh Dương rằng vận mệnh dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ trước nguy cơ lớn mạnh của những cường quốc bên ngoài thường xuyên gây sức ép đã làm trỗi lên ý thức dân tộc (national consiousness), và cao hơn nữa là chủ nghĩa dân tộc (nationalism) trong văn học. Sự quy hồi và phục hưng đề tài lịch sử một lần nữa vào thập niên cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI với những sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Mộng Giác, Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Huy Thiệp… so với giai đoạn đầu thế kỷ XX với Quả dưa đỏ (1925) của Nguyễn Trọng Thuật, Nặng gánh cang thường (1930) của Hồ Biểu Chánh, Vì nước hoa rơi (1925), Lê Triều Lý thị (1931), Một đôi hiệp khách (1929), Việt Nam Lê Thái Tổ (1929) của Nguyễn Chánh Sắt, Tiếng sấm đêm đông (1928), Vua bà Triệu ẩu (1929) của Nguyễn Tử Siêu [20]… là có sự khác biệt căn bản về quan điểm lịch sử. Văn học viết về đề tài lịch sử cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI không chỉ cách tân về ngôn ngữ, thể loại, chức năng (không còn viết truyện để tuyên truyền lịch sử, đạo đức) mà cái căn bản khác biệt nhất, chính là không lấy việc tái diễn giải “sự thật” lịch sử làm mục đích sáng tác của diễn ngôn văn chương. Tức là, không xem việc sáng tạo văn chương là quá trình “diễn xướng”, “chuyển thể”, “cải biên” diễn ngôn lịch sử (có tính khoa học) thành diễn ngôn nghệ thuật. Thậm chí, nhiều tác phẩm mà tiêu biểu là Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Vàng lửa, Phẩm tiết, Kiếm sắc của Nguyễn Huy Thiệp còn công nhiên sáng tạo hư cấu siêu sử kí (historiographic metafiction), giễu nhại “sự thật lịch sử”, đụng chạm đến “thần tượng” lịch sử. Nhưng chúng tôi không xem xét hiện trạng ấy từ góc độ sự nổi loạn trong sáng tạo hoặc cá tính riêng của mỗi nhà văn, mà nhìn nhận nó trong trường biến đổi chung về mặt triết học, tư tưởng và quan niệm nghệ thuật về đề tài lịch sử. Đọc tiếp

Phê bình văn học và những lằn ranh bất định

Phan Tuấn Anh

 “Ôi các nhà phê bình, chẳng lẽ không có gì khiến các vị mủi lòng sao?”(Sir Walter Scott)

 

Phê bình văn học (Critique littéraire) từ khi ra đời cho đến nay luôn phải tồn tại giữa những cuộc tranh luận và cả sự hồ nghi. Hiếm có một bộ môn nào trong ngành nghiên cứu văn học lại “chưa hoàn hình” trên nhiều phương diện đến như thế, nhưng cứ tồn tại xuyên suốt và chiếm giữ vị trí quan trọng trong “tam giác kim tự tháp” của khoa nghiên cứu văn học (từ dùng của Đỗ Lai Thúy, gồm Phê bình văn học, Lịch sử văn học và Lý luận văn học. Ngoài ra, hiện nay cũng có ý kiến đề xuất “tứ giác bộ môn” với sự xuất hiện thêm của Phương pháp luận nghiên cứu văn học). Đầu tiên, cho đến nay, có thể chúng ta vẫn chưa tìm được sự thống nhất cuối cùng về đối tượng nghiên cứu của phê bình văn học. Sự tồn tại của nhiều phương pháp phê bình khác nhau dẫn đến xuất hiện những đối tượng khác nhau, một số phương pháp hướng về tác giả (tiểu sử học, xã hội học Marxism, văn hóa – lịch sử…), một số phương pháp hướng về văn bản (chủ nghĩa hình thức Nga, thi pháp học, cấu trúc luận…), một số khác lại hướng về người đọc (tiếp nhận văn học, thông diễn học…). Đọc tiếp