Ảnh hưởng của Dostoievski tại Việt Nam trước 1945


Phạm Thị Phương

1. Một cái nhìn chung về việc tiếp nhận Dostoievski tại Việt Nam

Khó tìm thấy ở bất cứ quốc gia nào, trong giai đoạn tiếp xúc ban đầu, có được một thành phần độc giả rộng rãi, mang tính đại chúng, dành cho Dostoievski. Việt Nam không ngoại lệ. Độc giả của Dostoievski ở nước ta (từ trước cho đến tận bây giờ) là loại độc giả ưu tú khá chuyên biệt, một “thiểu số chọn lọc”(1): giới phê bình, nhà văn, giảng viên, sinh viên đại học… Đây là loại công chúng đặc biệt, có vai trò to lớn trong việc hướng dẫn thị hiếu nghệ thuật của xã hội, nâng cao tầm đón nhận.

Ngay trong giới trí thức, độc giả của Dostoievski cũng thu hẹp hơn rất nhiều so với L. Tolstoi, một đại thụ văn xuôi cùng thời với ông. Nếu như các tác phẩm của L. Tolstoi được dịch từ những năm 1929 – 1930 (Phục sinh), 1937 (Anna Karenina) thì phải đến cuối thập niên 50 mới nghe nhắc đến các bản dịch tiếng Việt tác phẩm của Dostoievski. Tại Sài Gòn, những bản dịch này xuất hiện lác đác vào năm 1959 trên các tờ Bách Khoa, Văn Hoá Ngày Nay, dưới dạng những trích đoạn tiểu thuyết. Phải bước sang những năm 60, và nhất là từ những năm 70 trở đi, các tác phẩm dài hơi của Dostoievski mới được giới thiệu trong dạng văn bản toàn vẹn. Ở Hà Nội, phải đến những năm 80 một trong những cuốn sách lừng lẫy nhất của Dostoievski là Tội ác và hình phạt mới chính thức ra mắt bạn đọc (mặc dù bản dịch đã nằm tại Nxb Văn hóa từ những năm 60).

Tuy nhiên, muốn xác định thời gian độc giả lần  đầu tiếp xúc với một nhà văn ngoại quốc mà chỉ dựa trên cứ liệu dịch thuật thì chưa đủ. Ngoài văn bản dịch, người ta có nhiều ngả đường tìm đến với nhà văn. Thực ra, Dostoievski đã đến Việt Nam sớm hơn thời gian tác phẩm của ông được chuyển ngữ. “Kẻ môi giới” đưa Dostoievski vào Việt Nam sớm hơn ấy chính là tiếng Pháp. Dostoievski đến với giới trí thức Việt Nam trong hình hài ngôn ngữ Pháp, được coi không chỉ là nhà văn Nga mà là tài sản văn hoá châu Âu, văn hoá thế giới. Cũng trong mối quan hệ này, Dostoievski được du nhập vào nước ta còn nhờ uy tín của một số nhà văn Pháp mà trí thức Việt Nam đặc biệt ái mộ, trong đó có A. Gide. Có thể nói, ở một mức độ và phương diện nào đó, trước 1945, phần nào nhờ A. Gide mà Việt Nam biết thêm về Dostoievski (cũng như sau này, một phần nhờ M. Bakhtin mà ta quan tâm đến Dostoievski hơn). Liên hệ mật thiết với cửa ngõ này trong việc du nhập Dostoievski là sự thâm nhập của các triết học phương Tây hiện đại. Trong giai đoạn diễn ra quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam, các triết gia như Freud, Nietzsche… đã góp phần giới thiệu Dostoievski với chúng ta như một trong những gương mặt sáng giá nhất của nền văn hoá hiện đại thế giới.

Có  thể thấy quá trình thẩm thấu Dostoievski đã diễn ra không chóng vánh. Nếu tính thời gian bắt đầu từ khi có sự hiện diện tên tuổi Dostoievski giữa độc giả trí thức Việt Nam đến khi tác phẩm của ông được chính thức chuyển ngữ, ta thấy có một khoảng cách ít ra là một phần tư thế kỉ. (Đó là chưa tính khoảng cách từ cột mốc xuất hiện tên tuổi đến việc thực chất hiểu về nhà văn, lẽ tất nhiên sẽ còn xa hơn nữa). Khoảng cách này là một sự cần thiết trong môi trường văn hoá Việt Nam thế kỉ XX. Việc giao lưu nghệ thuật thường không diễn ra tức thời, cần phải có một chủ thể tiếp nhận được hình thành trong lịch sử có khả năng can dự vào hiện thực văn hoá – xã hội mà tác phẩm đề cập. Ở đây chúng tôi muốn nói rằng việc tiếp cận một đại diện tiêu biểu và xuất sắc nhất của văn học hiện đại thế giới đòi hỏi phải có một sự chuẩn bị nhiều mặt và lâu dài, cũng như phải chờ đến một khung cảnh thuận lợi về điều kiện lịch sử đáp ứng những đòi hỏi mới về tinh thần.

Quá  trình tiếp nhận Dostoievski tại Việt Nam càng trở nên phức tạp, khúc khuỷu vì nó diễn ra trong khoảng thời gian văn hoá – xã hội nước ta đầy những biến động: Cuộc chuyển giao từ văn học cũ sang văn học mới, rồi từ sau 1945 văn học lại chia ra làm nhiều giai đoạn, nhiều bộ phận khác nhau, quá trình chuyển mình hội nhập với văn học quốc tế, ảnh hưởng của nhiều luồng văn hoá,… Không phải tất cả các giai đoạn và các bộ phận văn học ấy đã được khảo sát chu đáo để nhận chân đầy đủ giá trị, không ít điều vẫn đang tiếp tục biến động. Chính sự phức tạp và đầy biến động này của văn hoá – xã hội Việt Nam đã tác động khi thì ngấm ngầm, lúc thì dữ dội hơn đến quá trình tiếp nhận Dostoievski, làm cho quá trình đó càng trở nên biến độngphức tạp.

Bài viết này chỉ dừng lại ở việc khảo sát tình hình tiếp nhận Dostoievski trong một thời gian xác  định – đó là giai đoạn trước 1945, nghĩa là  từ khi tên tuổi Dostoievski vào Việt Nam trong xu thế văn học nước nhà đang gia nhập vào tiến trình hiện đại hoá văn học thế giới cho đến khi nó bước sang một định hướng phát triển khác.

2. Dostoievski tại Việt Nam giai đoạn trước 1945

2.1. Quá trình tiếp nhận 

Qua khảo sát, chúng tôi thấy tên tuổi của Dostoievski được nhắc đến từ những năm 1930-1945, thời kì gia tốc của quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam. Tạp chí Tao Đàn số 3 (1/4/1939) của nhà xuất bản Tân Dân có trích đăng một đoạn văn dài của Dostoievski (Lan Khai dịch) lấy tựa đề là “Cần có một ông trời”. Điều đáng chú ý là trước văn bản đó không có một dòng nào giới thiệu về tác giả đoạn văn, dường như tên tuổi của người viết ra nó không phải lần đầu xuất hiện, nên không cần lời mào đầu làm quen nữa. Nguyễn Tuân kể rằng những ngày ngồi tù (1941), ông đã “say mê đọc”, và cho biết thêm: “Ở Hà Nội hồi ấy khối người say Dostoievski(2). Nguyên Hồng cũng hồi tưởng rằng vào “mùa rét năm 1935” giữa thành phố Hải Phòng “khó khăn cùng kiệt”, khi ông ngồi viết Bỉ vỏ, bộ phim Tội ác và hình phạt đã “dội lửa lên tâm trí ông(3). Dịch giả Trương Đình Cử cho biết ông từng đọc Dostoievski từ “trước Cách mạng tháng Tám(4). Luật sư Đinh Gia Trinh trong hàng loạt bài viết bàn về văn học đăng trên tờ Thanh Nghị từ 1941-1945 có nhắc đến Dostoievski như dẫn chứng tranh luận. Trong các bài viết của mình, Thạch Lam, Nhất Linh nhiều lần xác nhận sự hiện diện của Dostoievski(5). Trong thư viện Quốc gia (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh) hiện còn lưu giữ khá nhiều tác phẩm của Dostoievski bằng tiếng Pháp và Anh được nhập vào Việt Nam trước 1945.

Từ sau Cách mạng tháng Tám (1945), văn học Việt Nam bước sang một giai đoạn mới với những mục tiêu mới, Dostoievski dần dần bị đẩy lùi xa khỏi ngưỡng cửa mà  ông vừa mới bước vào. Với hướng đi của văn hóa nghệ  thuật lúc ấy, nhiều nội dung tư tưởng và phong cách “khó hiểu” của Dostoievski đối với quảng đại quần chúng ít có cơ may tồn tại.

2.2. Tiền đề tiếp nhận 

Tiền đề du nhập Dostoievski vào Việt Nam đã tiềm ẩn ngay từ những thập niên đầu thế kỉ XX, khi có cuộc chuyển giao văn học từ các thế  hệ trí thức Nho học sang thế hệ trí thức Tây học, một sự kiện vĩ đại, như lời Hoài Thanh, một “cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỉ”. Dostoievski đến với chúng ta chính trong thời kỳ văn học Việt Nam đang trong xu thế đổi mới, tìm tòi những cách tân. Sự đổi mới trở thành ý thức thường trực của các văn nghệ sĩ. Trong xu thế tìm tòi và đổi mới không ngừng ấy, trí thức Việt Nam đến với chủ nghĩa hiện thực Nga như một “khám phá”. Thạch Lam, Nhất Linh, Đinh Gia Trinh, Nam Cao, Nguyễn Tuân,… sớm cảm nhận sự mới lạ, đầy sức quyến rũ và thuyết phục ở các nhà văn Nga. Từ 1938, trong Theo giòng, Thạch Lam không phải một lần cất lời ca ngợi tiểu thuyết Nga, tỏ ra cảm nhận hết sức tinh tế và xác đáng về văn học Nga nói chung và về Dostoievski nói riêng. Tinh thần ngưỡng mộ văn học Nga, đặt nó cao hơn văn học Pháp cùng thời, không chỉ nhìn thấy ở một mình Thạch Lam. Tinh thần này còn thể hiện rõ trong hàng loạt bài viết của Đinh Gia Trinh(6). Sau này nhớ lại, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn đọc và viết, Vũ Bằng, Nhất Linh trong các bài viết bàn về tiểu thuyết, thường phê phán lối viết của văn học cổ Trung Hoa và văn học Pháp, đề cao cách viết của các nhà văn Nga, trong đó nhắc đến tên Dostoievski vô số lần(7).

Rõ  ràng, chủ nghĩa hiện thực Nga cùng với Dostoievski đã đến với các nhà văn ưu tú tiền chiến của chúng ta như một sự phát hiện, sự ngưỡng vọng nhằm đổi mới văn học nước nhà. Trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX chủ nghĩa hiện thực Nga đóng một vai trò đáng kể. Khi tiếp xúc với văn học phương Tây, mà chủ yếu là văn học Pháp, tác phẩm của Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh… so với văn học cũ là một bước tiến mới; thế rồi đến với văn học hiện thực Nga, sáng tác của Nhất Linh, Thạch Lam, Nam Cao… so với lối viết của các bậc tiền bối hồi đầu thế kỉ lại là một bước tiến nữa.

Trong đời sống tinh thần Việt Nam đầu thế kỉ đã xuất hiện những điều kiện có thể làm tiền đề tiếp nhập Dostoievski. Giới trí thức nước ta tìm thấy trong sáng tác của nhà văn Nga vĩ đại sự tương hợp trong quan niệm đổi mới văn học phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ mới. Thời đại mà Dostoievski phản ánh là thời đại “tất cả đang bị đảo lộn và tất cả đang được sắp xếp lại” (L. Tolstoi): nước Nga nông nô chuyên chế đang tan rã, nước Nga tư bản chủ nghĩa đang hình thành; con người Nga lần đầu tiên ý thức mình là một nhân cách tự do. Thời đại trí thức Việt Nam lần đầu tiếp xúc với Dostoievski là thời đại con người lần đầu tiên chuyển từ chủ thể TA sang chủ thể TÔI, cất tiếng nói về cá nhân mình, đi sâu vào thế giới nội tâm, sự tự ý thức. Văn học lúc này cũng đòi hỏi một lối diễn đạt mới, coi trọng sự thực, phản ánh được thực chất đời sống, lìa bỏ những quy phạm và tính ước lệ, trở về với thực tại ngồn ngộn đời thường. Dostoievski đến với trí thức Việt Nam như một động lực trong công cuộc đổi mới văn học nước nhà. Vậy là, chủ thể tiếp nhận và tiền đề văn hoá – chính trị – xã hội cho việc tiếp nhận đã bắt đầu được hình thành, và, việc tiếp nhận Dostoievski thời kỳ này, có thể nói, khá chủ động, xuất phát từ nhu cầu phát triển nội tại của nền văn học nước ta.

Đề tài đối tượng thị dân và vấn đề tự ý thức của tầng lớp nghèo thành thịcủa Dostoievskiđã gợi một âm vang nào đó đối với một số nhà văn Việt Nam tiền chiến. Đối tượng phản ánh của Dostoievski là những kẻ từ khi mới oa oa cất tiếng chào đời đã thấy mình giữa chốn thị thành chật chội, bụi bặm, rồi suốt đời phải vật lộn, bươn bả kiếm miếng ăn và giữ gìn nhân phẩm. Con người đô thị trong văn học thời 30 – 45 hiện lên khá đậm nét, đại diện cho một lớp người đang bị bần cùng hoá, bị miếng cơm manh áo “ghì sát đất”, cất lên tiếng nói khắc khoải về thân phận, về cái phần tự ý thức, về sự bế tắc không lối thoát của mình. Đề tài cũng như đối tượng phản ánh của Dostoievski đã bắt đầu tìm thấy một vài luống đất thuận lợi để gieo hạt trong vườn ươm Việt Nam. Nguyễn Tuân đã phần nào xác nhận hiện trạng đó: “Khá nhiều cuộc đời Việt Nam chúng ta cũng phảng phất tâm trạng của Dostoievski. Cuộc sống hồi ấy là sự giãy giụa quằn quại trong nhục nhằn, đau thương, tức thở, phẫn uất, là tất cả ối a ba phèng và thối nát, sự sắp xếp bảng giá trị con người rất là lộn nhào. […]. Trong cái cuộc sống lộn tùng phèo nhức xương ấy, có nhiều chàng trai thời ấy đã đọc Dostoievski. Có nhiều thanh niên trí thức ra tù vào tội vì nghĩa lớn, đã thương cảm sâu sắc với cuộc đời và tác phẩm Dostoievski. Cũng có những chàng trai chưa có ý thức làm cách mạng nhưng đã là những người đồng điệu nổi loạn của Dostoievski(8).

Như vậy, đến với một số độc giả “ưu tú  khá chuyên biệt” Việt Nam thời kỳ trước 1945, qua ngôn ngữ và văn hoá Pháp, trong xu thế đổi mới văn học và quá trình không ngừng tìm tòi phương thức nghệ thuật mới, Dostoievski đã tiến hành những bước tiếp xúc đầu tiên và đã thu được hiệu quả ban đầu. Theo chúng tôi, đó là giai đoạn tiếp nhận Dostoievski khá sâu đậm và hiệu năng nhất ở nước ta (mà đến nay vẫn chưa đạt được ở mức độ như thế). Sự tiếp nhận hiệu năng ấy được thể hiện khá rõ trong ảnh hưởng sáng tác văn học.

2.3. Ảnh hưởng của Dostoievski trong sáng tác văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945

Quan sát, chúng tôi thấy ảnh hưởng của Dostoievski đối với các nhà văn Việt Nam thời kỳ trước 1945 có khả năng xảy ra ở những cấp độ khác nhau.

Cấp  độ thứ nhất, đó là sự mô phỏng nhà văn mà mình ưa thích. Điều này vẫn xảy ra trong văn học thế giới, nhất là ở những giai đoạn đầu của quá trình “học tập” một nghệ thuật nào đó. Cấp độ này có thể quan sát ở Vũ Bằng với tác phẩm Em ơi đừng tuyệt vọng. Trong tác phẩm ấy, chương Câu chuyện của Naschenka dường như Vũ Bằng đã sao lại từ truyện Đêm trắng của Dostoievski, gần đúng như nguyên văn, với môtip truyện, hệ thống nhân vật, tính cách nhân vật, thậm chí cả một số cách diễn đạt.

Cấp  độ thứ hai, đó là ảnh hưởng qua việc tiếp thu nghệ thuật có sáng tạo. Cấp độ này, theo đánh giá của một số nhà nghiên cứu (Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Dân, Phan Cự Đệ…) có thể xảy ra ở Nam Cao, Nhất Linh.

Quá trình ảnh hưởng văn học nhiều khi xảy ra không đơn giản: hiện tượng từ nguồn ảnh hưởng đến đích chịu ảnh hưởng có thể đã được khúc xạ qua các thấu kính khác. Xét trường hợp Dostoievski vào Việt Nam, chúng tôi muốn lưu ý một thấu kính quan trọng – André Gide và một số nhà văn Pháp khác, những người có uy tín đối với trí thức Việt Nam. A. Gide quan tâm đến Dostoievski không chỉ ở phương diện lý thuyết, mà đã đưa thẳng những hình ảnh tương đồng và những tranh luận với Dostoievski vào sáng tác của mình. Các nhân vật của Dostoievski đầu thai vào khá nhiều hình hài nhân vật của Gide. Khi nghiên cứu sáng tác của ông, người ta thường dẫn các cặp sóng đôi giữa Lafkadio (Dưới lòng đất Vatican) với Raskolnikov (Tội ác và hình phạt), giữa Bernard (Bọn làm bạc giả) với Arkadi Dongoruki (Đầu xanh tuổi trẻ), giữa Struvilu (Bọn làm bạc giả) với Verkhovenski (Lũ người quỷ ám),… Rõ ràng, Dostoievski đã trở thành tượng đài sừng sững để nhà văn Pháp noi theo. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng không ít trí thức Việt Nam hồi những năm 30 trở đi chịu ảnh hưởng khá sâu đậm Gide. Đối với họ, ông là người cùng thời, vì thế tác phẩm của ông chưa có mặt trong sách giáo khoa nhà trường, nên người hâm mộ ông đều là người tự tìm đến với ông như tìm cho mình những gì thích thú và thích hợp với mình. Ông là người cải chính cách đánh giá nổi tiếng của Vogue về Dostoievski, thực sự sắp xếp lại cuộc bình giá về các nhà văn Nga, đưa Dostoievski lên vị trí cao vô cùng. Đối với nhiều trí thức Việt Nam, ông trở thành người phát ngôn tư tưởng, trình bày phương thức nghệ thuật của Dostoievski có sức thuyết phục hơn cả. Cách tiếp nhận Dostoievski của ông rất có khả năng tác động đến cách nhìn của các nhà văn Việt Nam. Ngoài ra, mỗi nhà văn có bản lĩnh, khi chịu ảnh hưởng ai, lại vẫn luôn giữ lại những gì rất riêng của mình, nghĩa là chịu ảnh hưởng người khác theo cách riêng của mình. Trường hợp Nam Cao (hay thậm chí Thạch Lam), nếu có chịu ảnh hưởng Dostoievski, thì sẽ là những biến hoá rất riêng, đặc trưng, tiêu biểu cho sở trường của họ, bởi vậy khi đối chiếu, cần một cái nhìn đa diện, nới rộng. Ở đây, trong khuôn khổ của bài viết, chúng tôi chỉ bàn đến những ảnh hưởng từ Dostoievski có thể quan sát trực diện. Đó là trường hợp Nhất Linh với Bướm trắng.

Nhiều ý kiến có trọng lượng (Bùi Xuân Bào, Thế  Phong, Phạm  Thế Ngũ, Phan Cự Đệ, Đỗ Đức Hiểu…) quả quyết rằng Bướm trắng (1941) là một sự chủ động tiếp thu Dostoievski có sáng tạo và có hiệu quả. Trong tác phẩm này, Nhất Linh đã tiếp thu khéo léo cả đề tài, đối tượng phản ánh, cả nghệ thuật đối thoại tư tưởng của Dostoievski – đối thoại ở ngoài hành động, nhân vật như tự đụng độ với mình để đi tìm chân lí. “Khác hẳn loại tiểu thuyết luận đề đã viết từ trước, Bướm trắng đánh dấu một thay đổi lớn trong quan niệm nghệ thuật của Nhất Linh. Với ông, nghệ thuật không còn là sự khám phá con người từ bên ngoài, mà từ chính thế giới phức tạp bên trong của nó. Con người hiện ra không chỉ như một chứng nhân xã hội, do sự sắp đặt và định hướng của những xung lực tinh thần nào đấy. Mà trước hết, con người suy nghĩ, hành động như một sự tự thực hiện, ở đó có sự chi phối của cả ảo giác và thực tại, vô thức và hữu thức. […] Ông chỉ soi tỏ những ngóc ngách khuất tối trong tâm hồn, nó chi phối hành động của người ta một cách bất chợt, ngẫu nhiên, không thể tiên liệu(9).

Tiểu thuyết Bướm trắng của Nhất Linh là đóng góp quan trọng trong công cuộc hiện đại hoá văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Ông cùng nhóm Tự lực văn đoàn từng chủ trương học “phương pháp Thái Tây”. Mà nói tới kỹ thuật tiểu thuyết phương Tây, Nhất Linh nhiều lần bày tỏ sự thán phục lối phân tích tâm lý của Dostoievski. Với Bướm Trắng, kỹ thuật viết tiểu thuyết của Nhất Linh đã đạt đến mức cao nhất của ông, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc so với những tác phẩm trước đó của chính mình. Bùi Xuân Bào nhấn mạnh rằng độc thoại nội tâm của Trương là cách độc thoại “của nhân vật Dostoievski chứ không phải là của Proust và Joyce(10). Thế Phong xác định: “Bướm trắng là mượn hơi ngắn của một hơi trường thiên Crime et Châtimen của Dostoievski”(11). Phạm Thế Ngũ viết: “Người ta thấy rõ ảnh hưởng của Dostoievski, của Gide khi đọc những đoạn nhân vật Trương xem xét cái thiện và cái ác dưới con mắt hoà đồng hay cúi xuống thăm dò cái hố sâu tội lỗi trong tâm hồn mình(12). Phan Cự Đệ nhận xét: “Sự đắn đo của Trương lúc thụt két, sức hấp dẫn ma quái của ánh thép ở tủ sắt làm ta nhớ tới cuộc đấu tranh nội tâm của Raskolnikov trước cái chết của mụ già cho vay lãi. Nhìn chung cuốn tiểu thuyết này của Nhất Linh có một bình diện phụ (arriere plane) mang tính siêu hình và tôn giáo, ảnh hưởng vài chương của Tội ác và hình phạt của Dostoievski(13).

Nếu xét về cốt truyện, ta thấy Bướm trắng không hoàn toàn giống nội dung tác phẩm của Dostoievski (như Vũ Bằng từng làm), nhưng cuộc hành trình tâm lí của các nhân vật nơi đây cứ làm ta ám ảnh về hình ảnh, cuộc đời của một số nhân vật trong tác phẩm Dostoievski: nhân vật Trương dường như là sự pha trộn giữa anh sinh viên luật học Raskolnikov bí hiểm, đầy toan tính với chàng sĩ quan Dmit’ri Karamazov hoang đàng, náo động, cao thượng và đắm say. Trương vừa là một con người vừa rất “tây” lại vừa “chứa đựng màu sắc, âm nhạc của tâm hồn phương Đông(14) – một kiểu thanh niên trí thức khá tiêu biểu của thành thị Việt Nam bấy giờ. Chàng mang một nét rất đặc trưng của các nhân vật tiêu biểu của Dostoievski (Dmit’ri Karamazov hay Raskolnikov) là dẫu đang bị đẩy đến cái lằn rạch mong manh giữa Ác và Thiện, thậm chí đã bước chân quá vạch ranh giới cho phép, vẫn muôn đời hoài niệm về nẻo Thiện. Trong mối quan hệ của Trương với những nhân vật nữ cũng làm ta bất giác thấy hiện lên một Katerina Ivanovna (Thu) kiêu sa mà Trương đang phải đứng sang một bên để chiêm ngưỡng, kính trọng, một Grusenka hay một Sonia (Mùi) biết lắng nghe chàng chân thành bộc bạch và thú tội. Trong quan hệ với cô gái nhà lành khuê các, cuối cùng Trương cũng nhận thức được rằng thật khó khăn chật vật với một tính cách như chàng mà phải “suốt đời ở với Thu, lúc nào cũng gắng sức để cho xứng đáng với tình yêu của Thu, gắng sức yêu, cố mà yêu cho khỏi thẹn với tấm tình ái cao quý, vẫn đinh ninh từ trước đến giờ(15). Chàng tự nhận thấy mình đã “sa ngã xuống vũng bùn đen tối nhem nhuốc(16): chơi bời, cờ bạc đến nhẵn túi, thụt két, ngồi tù, – làm sao còn xứng đáng với “nàng tiên trong sạch đứng trong vừng ánh sáng không chút bụi(17). Và cuối cùng, cũng như Dmit’ri Karamazov, chàng nhận thấy vị hôn thê ngại tiếp xúc với một con người như chàng – vì nàng còn phải giữ phẩm giá và đức hạnh của mình chứ. (Dmit’ri Karamazov xác định rằng ngay từ đầu vị hôn thê của mình “chỉ yêu đức hạnh của nàng”. Bản thân chàng thấy không xứng đáng và không thích hợp với Katerina, bởi vì, như chàng thú nhận  với Aliosa, chàng là một “tên ăn cắp”, “tên móc túi”, bởi thế giới của chàng là  “ngõ sau”, là “góc tối”). Thu đối với Trương có một lúc nào đó cũng giống như Katerina đối với Dmit’ri: nàng đang ý thức rằng mình che chở, cứu vớt một tâm hồn lầm lạc: “Nàng sung sướng vì cảm tưởng thấy mình rất cao quý đối với Trương […] Nàng thốt nghĩ đến việc cứu Trương và bồi hồi thấy trước cái oanh liệt của công việc(18). Nhưng cuối cùng, cũng như Katerina, nàng cảm thấy nên giữ lấy cái đức hạnh của một cô gái khuê các mà rời xa con người đầy tai tiếng kia.

Đối với những người con gái khác, Trương không phải “gồng mình” như với Thu: “Sau cuộc tình duyên oái oăm của chàng với Thu, tấm tình ái bình tĩnh và đơn giản của Nhan an ủi chàng như một lời nói dịu ngọt(19). Còn cô gái làng chơi tên Mùi đối với Trương giống như vai trò của Sonia đối với Raskolnikov. Suốt từ đầu truyện, Trương luôn bí ẩn trước mọi người, thoắt ẩn thoắt hiện, chẳng tâm sự, chẳng thành thật với ai, nhưng vừa gặp Mùi, chàng dễ dàng cư xử. Với cô, Trương chân thành hào hiệp và dễ dàng bộc bạch như xưng tội trước Chúa.

“Lời thú tội” của Trương là một màn độc thoại nội tâm thể hiện hết sức tinh vi tính chất phức tạp, mâu thuẫn trong sự vận động nội tâm con người. Cũng như các nhân vật của Dostoievski thường làm, Trương của Nhất Linh vừa bộc bạch, thú tội, vừa tự phân tích tâm trạng và việc làm của mình.

Rõ ràng đây là “hình phạt” được tuyên đọc bên trong về một “tội ác” tinh thần của một tiểu Raskolnikov. Và cũng như nhân vật của Dostoievski, đến phút chót, Trương vẫn chưa thật sự ân hận. Có lẽ cuộc sống tiếp sau đó, ngoài trang sách, sẽ đem lại sự “phục sinh” cho chàng.

Dostoievski và Nhất Linh cùng lựa chọn cho nhân vật của mình con đường phiêu lưu tinh thần để rồi đến bến đỗ cuối cùng là tình yêu tận hiến của người phụ nữ. Là kẻ trọng tội, Raskolnikov vẫn cao ngạo và ghẻ lạnh với đám tù nhân; chàng chỉ bắt đầu quy phục khi cảm nhận sâu xa tình yêu dịu dàng đầy đức hy sinh của Sonia – con người mà Chúa gửi đến với chàng. Bị bầm dập sau sóng gió cuộc đời, Trương tìm về với Nhan như con thuyền về bến đợi. Bến đợi ấy đã có từ trước nhưng những nhân vật mải mốt phiêu lưu của Dostoievski và Nhất Linh không chấp nhận ngay; họ cần phải đi qua bao hồ nghi, dằn vặt rồi mới đón nhận nó như một lẽ giản dị và thiêng liêng.

Khi xây dựng nhân vật Trương, tác giả không định sẵn cho nhân vật một tính cách, mà để tính cách phiêu lưu theo ngòi bút, định hình dần trong chuyển biến tâm lí phức tạp, cứ thế nhân vật như tự bộc lộ, tự khám phá ra mình. Giống như Dostoievski, Nhất Linh ngay từ đầu đã đẩy nhanh nhân vật của mình vào tình huống kịch tính cần giải quyết, có nghĩa là ông cũng có xu hướng bắt đầu từ giữa câu chuyện: Trương biết mình mắc căn bệnh quái ác, chàng quyết định hỏi đốc tờ cho ngã ngũ vấn đề mà chàng dằn vặt bấy lâu: cuối cùng thì tình trạng bệnh của chàng ở mức độ nào, chàng sẽ sống được bao lâu? Tiếp đó, người kể mới để nhân vật bước vào những mối quan hệ phức tạp, bộc lộ tính cách dần dần. Cách vận động tâm lí ở đây là sự vận động bên trong. Cái mà đang xảy ra trong tâm hồn Trương không giống những hành động biểu hiện bên ngoài của chàng. Tâm trạng con người ở đây là cả thế giới đầy biến động, trong đó có cả ý thức và tiềm thức, cả cái hữu lí và cái phi lí, cả hiện thực và giấc mơ, mê sảng, linh cảm…

Giống như cách kể của Dostoievski với vô vàn từ “bỗng nhiên”, câu chuyện về anh sinh viên luật  học tên Trương được sắp đặt trong những sự kiện ngẫu nhiên đến là bí hiểm, hoàn toàn không ai tiên liệu được: Mở đầu, Trương “ngẫu nhiên” gặp đám ma ông cậu của bạn chàng để rồi “ngẫu nhiên” nhìn thấy Thu; kết thúc tác phẩm, sau khi biết tin mình lành bệnh, Trương “ngẫu nhiên” gặp một đám tang mà chàng nghĩ đáng lẽ của chàng mới phải. Trong quan tài là Quang, người Trương “ngẫu nhiên “ gặp lại cách đây hơn một năm, đúng vào cái ngày chàng nhận được tin về cái chết nay mai của mình. Những sự ngẫu nhiên đi liền với những hành động, cách ứng xử vô lí của con người. Ngay từ lúc nhìn thấy Thu lần đầu, Trương đã bị cuốn hút, linh cảm rằng sẽ yêu nàng “mê man”, tuy ý thức được đó là một tình yêu “trắc trở”, “vô lí” – vô lí cả từ phía chàng lẫn phía nàng. Những hành động của chàng dường như không phải do ý thức điều khiển, mà là do một thế lực ngầm bên trong đưa đường chỉ lối, những chuỗi “vô lí”: vô lí viết thư tỏ tình với Thu, vô lí chơi bời truỵ lạc, vô lí đánh cá ngựa, vô lí thụt két, vô lí mua dao định giết Thu…

Trong các tác phẩm của Dostoievski giấc mơ đóng một vai trò quan trọng cho việc bộc lộ tính cách nhân vật. Giấc mơ, tiềm thức, mê sảng trong Bướm trắng cũng có vai trò như thế. Trước ngày thực thi hành động tội ác Raskolnikov mơ về một sự kiện thời thơ ấu từng làm chấn thương dữ dội cậu bé bảy tuổi và giờ đây vẫn làm chàng sinh viên xúc động. Giấc mơ về sự kiện xa xưa đó phần nào lí giải sự dằn vặt khủng khiếp diễn ra sau đó trong lương tâm kẻ sát nhân, – một kẻ sát nhân về bản chất là một con người lương thiện. Sau khi hạ sát người đàn bà cầm đồ, Raskonikov có những giấc mơ giống như những gì đã diễn ra trong đời thực: cảnh đánh đập, la hét, máu me, đám đông la ó, ánh trăng sáng quái dị,… Những cơn mê sảng của Trương không dữ dội, quái đản như của Raskolnikov, nhưng cũng thể hiện sự giày vò, ám ảnh và bất an của kẻ mang trong mình một hạt mầm tội lỗi. Trong mê sảng, Trương mơ thấy mũi dao của Thu – cô gái mà chàng cho rằng mình đang lừa dối, thấy “một dòng máu chảy ngang cổ xuống gáy lạnh như một dòng nước đá mới tan(20). Có lúc chàng lại mơ mình đã chết và Thu mặc áo tang đi sau quan tài. Có khi hiện thực và mê sảng lẫn lộn, khiến Trương khi dự một đám ma đã không biết mình đang đi sau một cỗ quan tài hay đang nằm trong quan tài, chàng phân vân: “Thế thì là mình rồi chứ còn gì? Hay là đám ma mình thật, chính mình nằm trong áo quan”(21). Có lúc trong trí óc chàng bỗng hiện lên rõ mồn một hình ảnh một người bà cô đã mất từ lâu mà suốt hai chục năm rồi chàng không hề nghĩ đến. Nếp sống bình dị thôn quê trong hình ảnh bà ký Tân “ngồi gội đầu ở sân, bên cạnh có đặt một nồi nước đầy rễ hương bài(22) như một âm vang xa xưa vọng về trong kí ức con người đang chiêm nghiệm thời gian, cuộc đời. Sau những xáo trộn dữ dội, con người lần hồi muốn lui về một chốn bình yên, tìm cho mình một bờ bến để có thể neo giữ tâm hồn. Đối với Trương, nơi ấy chính là khu vườn rau quê mẹ của những ngày “tuổi thơ trong sáng”, ở đó có “những luống rau riếp xanh thắm, những luống thìa là lá đỏ như sương mù”, có những luống đậu hoà lan nở hoa trắng và “những con bướm rất xinh ở đâu bay về(23). Nhớ đến những hình ảnh quá vãng xa xăm ấy, lòng Trương “lắng xuống”, chàng tĩnh tâm dần để đi đến quyết định mà chàng thấy sao mà “giản dị như không”: trở về với quê nhà, sống với “tấm tình ái bình tĩnh và đơn giản(24) của người con gái thôn quê vẫn hằng chờ đợi chàng bấy lâu. Có lẽ hành trình của Trương là đi tìm con bướm trên luống rau ấy, con bướm trắng của một thời êm đềm và chưa vương vào tội lỗi, là tượng trưng cho cái đẹp, cái mong manh, cái mộng mơ, cái thánh thiện của cuộc sống không cần bon chen, toan tính. Một khi còn giữ lại cho mình những vùng kí ức đẹp đẽ như vậy, con người sẽ ít có hơn khả năng làm điều ác. Những tiềm thức xa xôi dịu êm ấy lí giải cho ta thấy trong con người sa đắm vào lí tưởng Sodome ấy tại sao vẫn luôn mang một mầm nụ của lí tưởng Madone. Nhân vật Trương là vậy, là tổng hợp của những đối cực tâm lí và tính cách: “giả dối và chân thành, ích kỉ và nhân hậu, phóng đãng và tự trọng, bạo liệt và mực thước, thấp hèn và cao thượng(25)… – cùng một kiểu tính cách với Raskolnikov và Dmit’ri Karamazov. Những hoài niệm muôn đời về cái đẹp ẩn giấu nơi tiềm thức, nơi bản chất nhất của con người ấy đã giữ cho nhân vật trong cuộc vật lộn nội tâm khốc liệt nhất vẫn “giữ được ở chừng mực nhất định thiên lương, nhân phẩm(26).

Những ảnh hưởng của Dostoievski trong văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945 chứng tỏ cuộc hành trình tuyển mộ  độc giả của ông nơi đây đã bước đầu thu được những thành quả nhất định. Đến với ông, các nhà văn Việt Nam tìm thấy những phương thức mới cho một nền văn học mới. Và trong họ, Dostoievski đã tìm thấy người đọc lí tưởng của mình.

*

Dostoievski là một nhà văn khó đọc, du nhập vào Việt Nam ngay từ thời kì đầu hiện đại hóa văn học. Để có thể bám được vào thổ nhưỡng nơi đây, một thứ cây trồng như vậy cần phải có một môi trường tiếp nhận được chuẩn bị chu đáo và những phương tiện dẫn nhập – trình độ học vấn và kiến thức nhất định về triết học hiện đại. Quá trình tiếp nhận Dostoievski ở Việt Nam khá là chậm chạp, có những khúc quanh chìm lấp trong bóng tối, có những ngả rẽ theo chiều hướng khác với bước đi ban đầu. Và tổng kết lại, thời kỳ tiếp nhận Dostoievski hiệu quả nhất chính là giai đoạn đầu. Điều đó được thể hiện rõ bằng những cứ liệu về phê bình lí luận, bằng sáng tác văn chương và cả bằng cách “đọc” nhà văn một cách độc lập, cởi mở. Có thể nói, Dostoievski là một trong những tác gia nước ngoài có ảnh hưởng nhất định đến quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam, ngay ở thời kỳ gia tốc của quá trình này. Rất có thể có ý kiến không đồng tình với kết luận này, bởi vì cho đến nay, khi Dostoievski vào Việt Nam đã ngót thế kỉ, vẫn có không ít người trong số chúng ta mới chỉ nghe danh nhà văn mà chưa thật sự tìm hiểu về ông

____________

(1) Từ dùng của André Gide.

(2), (8) Nguyễn Tuân: Tuyển tập. Tập 3. Nxb. Văn học, H, 1996, tr.408, 406.

(3) Dẫn theo Nguyễn Hải Hà: Khát vọng sống hài hòa. Báo Văn nghệ số 4/4/1981, Hà Nội.

(4) Trương Đình Cử: Tại sao tôi dịch Dostoievski, in trong Kỉ yếu Khoa học Ngữ văn 1981, ĐHSP TP. HCM.

(5) Vương Trí Nhàn (biên soạn): Khảo về tiểu thuyết. Nxb. Hội Nhà văn Việt Nam, H, 1996. Xem Theo giòng (Thạch Lam) và Viết và đọc tiểu thuyết (Nhất Linh).

(6) Đinh Gia Trinh: Hoài vọng của lí trí. Nxb. Văn học, H, 1999.

(7) Vũ Bằng và Nhất Linh: tlđd theo chú dẫn 4, tr.233 và 387.

(9) Từ điển văn học (Bộ mới), Nxb. Thế giới. H, 2004, tr.178.

(10) Bùi Xuân Bào: Nhất Linh hay khuynh hướng lãng mạn phản kháng, in trong Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc (Mai Hương tuyển chọn). Nxb. Văn hóa Thông tin, H, 2000.

(11) Thế Phong: Nhất Linh. Tlđd như ghi chú 10.

(12) Phan Cự Đệ: Tự lực văn đoàn. Tlđd như ghi chú 10.

(13) Đỗ Đức Hiểu: Đổi mới và phê bình văn học. Nxb. Hội Nhà văn Việt Nam. H, 1998, tr.120.

(14) Nhất Linh: Bướm trắng. Nxb Tổng hợp Đồng Tháp, 1997, tr.245. (Tất cả các trích dẫn từ tác phẩm Bướm trắng trong bài viết đều lấy từ nguồn này).

(15), (16), (17), (18), (19), (20), (21), (22), (23), (24) Nhất Linh: Bướm trắng. Tlđd như ghi chú 14, các trang 246, 246, 116, 262, 193, 256, 261, 146, 262.

(25), (26) Trần Hữu Tá: Đọc lại Bướm trắng, thay lời giới thiệu tác phẩm Bướm trắng. Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.

Leave a Reply