Bài tựa Ngôn chí thi tập


Phùng Khắc Khoan

 

 

Cái gọi là thơ đâu phải chỉ múa lưỡi nơi ống tiêu, đùa lời dưới ngòi bút mà thôi, mà là để ngâm vịnh tính tình, bộc lộ tâm chí. Cho nên chí ở đạo đức thì phát ra lời hồn hậu, chí ở sự nghiệp thì lộ ra khí hùng hồn, chí ở suối rừng khe lạch thì ham chuộng tịch liêu, chí ở mây tuyết gió trăng thì ưa thích thanh cao, chí uất ức thì lo buồn, chí cảm thương thì ai oán, tìm ở nơi người xưa thì thấy cái chí của họ, như Đường Tuyên Tông thuở hàn vi làm bài thơ suối: “Khe suối phải đâu dung nổi được, vừa về biển lớn hóa ba đào”, xem câu thơ này thì biết được cái chí quét sạch mây mù nơi biển cả. Tống Thái Tổ khi thiếu thời làm bài thơ mặt trời: “Chưa ra khỏi biển nghìn non tối, đến giữa trời trưa vạn nước bừng”, đọc câu thơ này thì thấy được cái chí quét sạch tối tăm. “Trăng Ngô hướng thẳng nơi lòng chiến, gió liễu quay sang trước mặt luồng”, đó là cái chí của Thiệu tử (1) ở nơi cao giữa trời. “Phú quý chẳng ham vui túng thiếu, nam nhi như vậy mới hào hùng”, đó là cái chí của Trình tử (2) ở nơi gió xuân trên tọa, “Rễ đến đất sâu không chỗ quẹo, nơi đây chỉ có loại rồng hoang”, người ta chỉ biết lời thơ vịnh cây thông già mà không biết tới cái chí ẩn dật đã tỏ rõ ở đây. “Mặt đất chưa khô đà có đốt, áng mây vừa lướt đã vô tâm”, người ta chỉ biết lời thơ vịnh cây trúc non, mà không biết tới cái chí thanh tiết đã hình thành ở đây. Ngâm câu thơ “Chỉ có trời đỉnh trốc, càng không núi ngang vai”, Hàn Trĩ Khuê (3) là vị đại thần cột trụ không đợi tới hai lần quyết định mưu to rồi sau mới biết. Đọc câu thơ “Chưa hỏi việc điều canh, trước hướng trăm hoa nở”, Vương Phụng Tiên (4) là trạng nguyên tể tướng, không đợi tới ba lần đỗ đầu thiên hạ rồi sau mới hay, ngoài ra còn ngọc nhả châu phun, gấm bày vóc giãi, tung hoành rong duổi nơi đàn thơ, phải đâu ít ỏi. Người xưa thường thường làm thơ để nói chí là như vậy. Nếu không phải là người tài có thể bảo là người cao cổ, thì sao đủ theo được dấu thơm của người trước. Tôi đối với thơ, có lẽ vẫn hằng có chí, nhưng tự nghĩ: Tài chưa kịp cái cao của người xưa, lời chưa kịp cái khó của người xưa, sáng chưa đủ để bình luận nhân vật cổ kim, tối chưa đủ làm kinh động quỉ thần trời đất. Với cái học thấp kém, cái lời vụng về thì sao đủ đi sâu vào cách luật diệu kỳ của thơ, và tham dự tao đàn nguyên súy? Nhưng cái mà hàng ngày tôi nuôi dưỡng, vốn toan lập nên chí lớn, song cái điều mà chí phát ra, cũng đôi khi thể hiện nơi thơ. Phàm những bài thơ tôi tự cho là tâm đắc, dù chưa theo kịp người xưa muôn một nhưng cái chí bình sinh cũng thể hiện ở đây. Thấy thi tập của người xưa, tôi trộm bắt chước. Nhân đó đem những bài thơ chính tay viết ra thường ngày, tập hợp và ghi lại, đặt tên là Ngôn chí thi tập. Có lẽ cũng là cái chí riêng mình, chứ đâu dám làm điều khoác lác, để mua cười đối với nhà thơ? Thế là tôi quên mình quê lậu, viết nó theo từng năm, ước chừng từ mười sáu năm trở về trước, để ghi lại khi mình dốc chí học hành. Cứ mười năm làm một quyển để xem cái trình tự học hỏi tiến tới của mình. Bậc bác nhã quân tử, nếu còn e nó si mê lấn lướt, xin đi tới đây cho, để tôi làm trọn vẹn được cái chí của mình, đó là một điều may mắn lớn.                                                                                                                                                                                              

ĐỖ VĂN HỶ dịch

……………………………………………………………………………………………..

(1)  Thiệu tử : Thiệu Ung nhà Lý học thời Tống.

(2)  Trình tử : Trình Hiệu nhà Lý học thời Tống.

(3)  Hàn Trĩ Khuê: Hàn Kỳ một hiền tường thời Tống.

(4)  Vương Phụng Tiên: (chưa rõ xuất xứ)

Leave a Reply