Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền


Tam Ích

Năm 1957, tôi được đọc cuốn Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền. Tôi tự mình nói với mình: đây là một cuốn tiểu thuyết lớn của thời đại. Tôi bị ngay sự ám ảnh viết một bài về cuốn tiểu thuyết ấy. Nhưng có một trường hợp xảy ra làm tôi không viết: là tôi bệnh hoạn – văn chương viết không thoải mái. Đã không thoải mái tôi lại chứa những mặc cảm thiếu tự do: chẳng biết viết thế nào cho qua được mắt… chính quyền văn hóa lúc bây giờ! Sẵn trớn, tôi nghĩ: thôi, để đó, một ngày kia sẽ viết – coi nào, nơi cuốn sách ấy, cái hay có bền không, hay là thời gian sẽ tàn nhẫn… với sách. Đối với văn thơ, lịch sử thường phũ phàng – nhất là ngày nay, nhịp lịch sử dồn dập như nhịp máy…

Tôi bỏ lửng ý tưởng ấy chín mười năm trời…

Mới rồi, Thanh Tâm Tuyền cho tái bản. Tôi đọc lại – lòng hơi nao nao, sợ từ bấy giờ đến nay có hàng mười năm… Mình ngày nay và mình mười năm xưa, không biết ý thưởng ngoạn thay đổi sa sao: hoặc là mỹ quan của mình đã hết tinh vi, thông minh không đón được cái hay của văn chương nữa, hoặc là sách đã hết đi giá trị thời đại của nó rồi…!

Không! Bếp lửa ngày trước và ngày nay, đối với tôi, vẫn hay vậy.

Vậy thì tôi phải chứng minh rằng Bếp lửa là một cuốn tiểu thuyết lớn – kẻo sẽ mang tiếng là nói không có sách mách không có chứng…

Và trước hết tôi phải xin nói ngay rằng, đối với tôi, một cuốn tiểu thuyết phải là một văn nghệ phẩm đã, phải khác tờ truyền đơn – nghĩa là phải có hai điều kiện: hành văn phải đặc biệt hay độc đáo, và kỹ thuật phải theo đó mà xuất sắc – nhiên hậu mới nói đến truyện. Tôi chưa từng thấy có cuốn tiểu thuyết nào, truyện hay, viết dở mà lại thành nghệ phẩm được – nhưng truyện thường thường mà văn hay và kiến trúc giỏi thì có thể thành nghệ phẩmđược và truyện nhờ văn mà hay thêm nhiều. Hình như gần hết đều đồng ý với tôi về điểm ấy.

Và xin nói thêm một ý nữa: giữa thế kỷ XX, văn phẩm có giá trị thì nhiều, nhưng văn phẩm xuất chúng, đối với riêng tôi, chỉ có ba. Cuốn thứ nhất là cuốn Trại Tân Bồi của Hoàng Công Khanh; cuốn thứ hai là cuốn Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc; tiểu thuyết của một nhà văn đất Bắc tôi đã đọc ở Đà Lạt cách đây bảy năm – bỗng dưng tôi nhận được một gói, gói cuốn ấy gửi cho tôi, tôi chẳng hiểu ai gửi, đọc xong rồi đốt đi, vì hồi ấy tôi sợ chính quyền Ngô Đình Diệm thường hay ngờ bóng ngờ gió… vì không được phép đọc đồ lạ ở chốn này. Cuốn tiểu thuyết ấy có một điểm đặc biệt là không hề đề cao chủ nghĩa và chính quyền… Còn “truyện” thì nào có gì là ly kỳ đâu: lịch sử tâm hồn và công tác của một cán bộ thượng, vậy thôi! Thế mà nhìn toàn diện, đó là một hòn ngọc văn chương. Cuốn tiểu thuyết ấy, tôi cho là phải năm năm tháng tháng ngày ngày mới có được một cuốn… Cuốn thứ ba là cuốn Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền.

Văn của Tuyền là văn riêng của Tuyền: chẳng biết là chàng ăn dâu của ai và nhả tơ nào thì tôi không biết, nhưng văn chương mới, thoải mái, không vất vả, mới mà không lam lũ… Tôi không thể trích nhiều ra đây, vì văn hay là hay cả văn mạch, nhờ văn mạch – nói một cách khác, cả văn mạch can thiệp vào: văn mạch toàn diện, văn mạch chương, văn mạch đoạn, tạo cho nó một đặc tính, một nhạc tính riêng. Câu trên xa làm cho câu chỗ này hay; câu này hay là nhờ câu dưới xa nữa, câu giữa hay là nhờ hai câu trên dưới hai bên… văn hay là chuyện toàn diện chứ cũng phải chuyện một vài nét riêng tư.Ủa, thì cảnh cũng vậy đấy: một mái tranh không là chi chi, một mái tranh và vài ngọn lá vàng và màu hoàng hôn… tổng hợp lại với một đám mây sắp chiều… thế là thành phong cảnh hữu tình.

Đấy, đoạn này vẫn chưa ra sao – nhưng vài đoạn nữa, đến đoạn nào đó, thì toàn chương một, chương hai… chờ đợi chương chót nữa là tác phẩm thành nghệ phẩm rồi vậy.

Chuyện văn mạch là thế đấy! Cần gì phải nói đến vậy mới rõ ý về giá trị của văn mạch và rõ ý về quan trọng và kỹ thuật viết và kiến trúc trong một văn phẩm, nhỉ!

*

Chẳng hạn như chỗ này chỗ kia Tuyền viết những câu: “Chuyến xe nhỏ đưa tôi sang Bắc Ninh với tất cả buổi chiều theo nó… Ngoài trời tối và gió… Tiếng chuông nhà thờ chụp xuống… Tôi mang cả luồng gió vào trong nhà… Tôi nhìn Thanh và mi mắt nàng hơi khép xuống nằng nặng… Từ đấy không ai nói với ai một lời. Thanh cứ hát nhỏ như cho mọi người nghe lần cuối. Hàng phố lại bé trong đêm khuya và lùi xa như tiếng hát khi cánh cửa đã đóng sau lưng Thanh và Nga. Tôi còn nghe thấy tiếng hát ấy ở trên tai.

Trở về mái nhà
Xưa
Còn lại hai người đàn ông đi chân về ngoại ô

…Ngọn núi bắt đầu thấy cứng mình vì nghe nắng sắp về… Chiều xuống thấp mãi gần mặt nước…”

Đó là những câu văn tôi trích ra, lẻ loi và rời rạc. Để nó ra cho nó cô đơn thì có thể là những câu… nhảm mà thôi… Tây quá và Tây quá hay là mới quá mới quá – sống sượng…

Nhưng bạn đọc cứ đặt nó vào vị trí của nó, vào văn mạch riêng và văn mạch chung của Bếp lửa – bạn đọc sẽ thấy toàn diện Bếp lửa là một cuốn tiểu thuyết rất hay, rất vững, rất chân, rất thoải mái – đi một hơi: có hình có bóng có màu, ngắn, dửng dưng đi một mạch… gợi những ấn tượng lạ lắm và nao nao lắm trong tâm tư người đọc – người đọc và người viết cùng làm một – buồn man mác, buồn vơ vẩn, buồn vất vả, buồn một cách rất trí thức tiểu tư sản, buồn như Tâm là người xưng tôi trong truyện… (Cái giai cấp trí thức này hay bị mắng lắm đó trời ơi – vả lại đó là giai cấp của tôi mà thật tôi không mến chút nào).

*

Luôn tiện nói chuyện kỹ thuật văn chương, tôi phải mở một dấu ngoặc… lớn. Trong những câu văn lẻ loi của Tuyền tôi trích trên đó, có câu này:

“…Hàng phố lại lại trong đêm khuya và lùi xa như tiếng hát.

Khi cánh cửa đã đóng sau lưng Thanh và Nga, tôi còn nghe thấy tiếng hát ấy ở trên tai tôi. 
Trở về mái nhà
Xưa
Còn lại hai người đàn ông đi chân
Về ngoại ô”.

*

Cái lối viết – chẳng phải văn xuôi – chẳng phải thơ văn xuôi (poème en prose) – chẳng phải một bài thơ tự do… William Faulkner cũng đã áp dụng, John dos Passos cũng đã dùng, và nên kể thêm Jean René Huguenin – một nhà văn rất trẻ và có biệt tài ở Pháp mới chết năm ngoái – hình như văn của Tuyền đã vô tình (?) làm tôi nhớ văn Huguenin.

Lẽ tự nhiên, để riêng những câu văn ra cho chúng nó mồ côi, thì văn chương ngớ nga ngớ ngẩn, thiếu nhạc tính; nhưng để vào gần văn mạch câu dài, văn mạch đoạn, văn mạch chương, văn mạch toàn diện… thì những câu ấy lại làm cho bối cảnh nhạc tính của cuốn truyện lên cao, và tăng cái hay – toàn cuốn truyện đọc như đọc một bài thơ vạm vỡ nào đó – một bài trường caNhạc tính của Tuyền làm tôi nhớ La côte sauvage của Jean René Huguenin thuộc vào thế hệ tiểu thuyết gia mới nhất của Pháp và đã được văn giới Pháp trầm trồ… – không may tác giả mệch bạc tuy không má hồng…

Nhưng không phải ai cũng dùng kỹ thuật ấy được. Vạn nhất Sơn Nam muốn dùng trong một lúc hứng chẳng hạn – hay Xuân Diệu dùng trong Phấn thông vàng thì còn được – chớ Nhất Linh hay Vũ Trọng Phụng, hay Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến… chẳng hạn mà dùng thì lại e không ổn cho mà coi! Đủ biết tâm hồn nào đi với văn chương ấy, văn chương nào đi với kỹ thuật ấy – “kiến trúc” nào đi với ý văn, tứ văn, thể văn… ấy – và văn chương là một chuyện chung mọi thành tố cùng tổng hợp tạo điều hòa (harmonie) chung, nếu có ai ghép ép, lồng ép, gán ép mọi thành tố với nhau thì lại thành chuyện dơ dáng dại hình – sống sượng. Ấy, cái đẹp nó rắc rối thế đấy – làm sao trái ý nguyên lý và “sắc lệnh” cả “luật” thẩm mỹ được nhỉ?

*

Bếp lửa có một người trẻ tuổi, cộng với một người trẻ tuổi khác, cộng thêm một người trẻ tuổi khác nữa – một sớm thấy mình lớn lên trong một nhân sinh gì mà lạ quá: có bao nhiêu kẻ đã đi, bao nhiêu kẻ ở lại trong không thời gian và ở lại giữa vạn vật, để lại cho họ một cái gia tài không có kích thước, không còn lấy một mẩu nền nếp, không còn lấy một ý thương vương… rồi bảo họ phải lãnh lấy trách nhiệm – lãnh trách nhiệm cũng như nối nhau mà lãnh cháo lú ở những quán cháo lú – cô hồn không ra cô hồn, người không ra người… Giữa lúc đó thì lịch sử chờ đợi ở họ nhiều lắm – giữa lúc mà bao nhiêu giá trị văn hóa vì chiến tranh đã lật ngược lên… rồi, họ đi cũng như giẫm lên vậy: cười một mình, khóc một mình, cô đơn. Cô đơn! Với một mớ gai góc, một số trường hợp phải vượt!

Té ra Bếp lửa là một bản cáo trạng dựng lên để cá nhân đưa chính mình ra vành móng ngựa của chính mình – có quan tòa, có chưởng lý, mà thiếu người bào chữa – bản lý đoán lại rời rạc… Vai chính tự hỏi mình, tự tìm mình – tìm cách coi hình bóng mình ở đâu, đâu là hình bóng trung thành: tấm gương phản chiếu những kích thước khác chiều hướng của tâm hồn cá nhân của mình.

Mình là người lạ với chính mình! Và mình đương phê phán chính mình. Có một nhân vật nói rằng: “…Mình là tội phạm và chỉ mình là đủ tư cách là quan tòa xét xử mà thôi”.

Vậy chứ ai đứng ra biện hộ hở Thanh Tâm Tuyền?

Giữa lúc mình buộc tội mình và chờ… tuyên án thì mọi vấn đề mình đặt ra cho chính mình, người thanh niên trốn hết. Trốn vấn đề vì sợ phải trả lời – mà cũng chẳng muốn ai trả lời thay cho mình vì mỗi bộ mặt nghiêm trang mang màu sắc một cuốn giáo khoa thư luân lý… đều làm cho chàng dè dặt – chàng sợ. Có một nhân vật nói: “Em không ưa anh ấy. Em không ưa cái bộ mặt nghiêm trọng, cái cử chỉ làm cao thượng, cái giọng nói làm người trên…”.

Chàng thanh niên thấy mọi thứ tự đều đổ nát – bắt đầu bằng hệ thống tinh thần làm căn bản cho hai ngàn năm lịch sử…

Giông tố nổi…

Từ xa tới vào trong lòng và từ trong lòng ra…

*

Và cùng một lúc, tác giả đặt vấn đề tin tưởng và vấn đề Thượng Đế lên thảm xanh: “Đứa cháu độc nhất ấy nghe ở linh hồn mình từ nhỏ âm vang lời kêu gọi của Thiên Chúa và Nhiên mong rằng sẽ làm thỏa mãn khát vọng của những người sinh thành. Trong những lúc ấy tôi ngó lên ngọn đèn điện yếu mỏng chập chờn như muốn tắt”.

*

Giữa lúc có một nhân vật trong sách nói rằng: “Cầu Chúa che chở cho cái thằng sâu kiến lúc nào cũng tưởng mình lớn ngang Đức Chúa. Làm chữ thập và quỳ xuống” lại là những lúc người của thời đại thấy ngọn đèn tin tưởng… hiu hắt.

Vì có gió… và giọng nói của nhân vật chẳng phải là giọng của một người tin tưởng – mà là của một người đương vũ phu với mình và với cả nhân sinh… Giọng nói thiếu ôn tồn…

Người thanh niên muốn lựa chọn – nhưng không được rồi, không được rồi…! Vì thời ấy là thời kháng chiến chống thực dân: ở Hà Nội, thì mình nhớp nhúa và xa lạ với chính mình và có ấn tượng như tâm hồn người ta chưa tắm – kể cả mình; còn ra hậu phương thì “cũng là một lối đánh đĩ, đánh đĩ tinh thần mình”.

Tất cả vấn đề là ở đó vậy. Hay nói một cách khác: tất cả vấn đề không phải là ở đó nữa!

Vậy ở đâu? Làm sao cho vơi cái hiện hữu của chính mình trong đời sống – trong cái bãi – ôi bãi – nhân sinh đầy hiện hữu? Thì làm quách một số cử chỉ “hiện sinh” cho nó xong đi một điểm thời gian có bắt đầu và có dứt… tạo thêm một cái lóng nữa cho đời sống cá nhân như một cái dây dài mà lóng đã theo nhau nổ, rạn một vài chỗ ở tâm hồn, nứt một vài chỗ ở nhất trí – sử tính (historicité) nặng thêm:

Nhà Phật nói: Nghiệp! 

Bếp lửa, trang 68, có câu này: “Và đêm hôm ấy tôi ngủ với Hạnh ở khách sạn”. Tôi trong sách là một người con trai. Hạnh trong sách là một người con gái. Chi tiết nhân sinh ấy lạnh lùng xảy ra – dửng dưng xảy ra. Như trời dửng dưng nắng. Như trời dửng dưng mưa. Một chuyện dửng dưng xảy ra – không ai ngăn chuyện dửng dưng. Trước và sau chuyện dửng dưng, không có ý con người can thiệp vào… Mà nhất là hương vị dửng dưng ấy vọng lên, phát sinh một cách trừu tượng từ văn, từ ý, từ lời – từ kỹ thuật viết, từ kỹ thuật kiến trúc… người đọc cảm mà không thấy không đón bằng thị giác thính giác kể cả thông minh, vì thông minh thường để hiểu mà thôi… chẳng hạn.

Chuyện văn chương hay, nó thế: trừu tượng! Cũng như cái buồn buồn nản nản ấm ấm: người ta đọc Sagan thì thấy có một cái gì len vào tâm tư. Cũng như cái phi lý dửng dưng trong nhân sinh, người ta đọc L’etranger thì thấy có một cái gì len vào tâm tư. Thế thôi: không có đơn vị đo lường nào đo lường được! Người viết văn giỏi thì phản ảnh hay thể hiện được; người dở thì không. Bởi thế cho nên nói chuyện văn nghệ, ai cũng phải dấm dớ, nói loanh quanh… nói mãi mà cổ kim đông tây không ai nói cho gọn, cho khúc chiết… Chuyện! Nếu gọn và khúc chiết được như trong phòng thí nghiệm thì lại đã chẳng là văn nghệ! Bếp lửa cũng vậy: người ta đừng đọc nó trong phòng thí nghiệm – kể cả người khen, kể cả người chê. Dù cho có muốn chêTuyền, cũng phải thừa nhận rằng Tuyền có văn tài lớn…

*

Và trang 83, trong Bếp lửa, có ghi một chi tiết này: “Tôi quay mặt ra đường. Tôi nhận thấy bụng Thịnh mang thai”. Thịnh là một nhân vật đàn bà nữa của Bếp lửa. Nhân vật đàn bà ấy bị một nhân vật khác là Đại yêu rồi hình như bỏ đi… thì phải – để cho người yêu có thai và sẽ chửa hoang…

Và hình như nhân vật Tâm, người xưng tôi trong sách, định rằng nếu gặp người phụ bạc đàn bà là Đại sẽ “đập vào mặt nó”.

*

Thế là luân lý cổ truyền còn lại một chút hình bóng trong lòng người – người thanh niên thời đại vẫn còn là người cho chúng ta mến được. Chẳng phải biết “đập vào mặt” một kẻ bất nhân thì đáng mến đâu: một người hiện sinh nào cũng đáng mến chứ, nếu họ đáng mến!

Nhưng thế thì hơn, Thanh Tâm Tuyền không muốn để chủ quan tính của mình vào sách làm gì, những người như thế, việc như thế, tác giả phản ảnh trưởng thành nó – chàng lạnh lùng phản ảnh nhân sinh, rồi kệ nó, tự người tự việc, nó nói lấy – xin nói lại: nó nói lấy.

“Tôi có thể tự tử được. Nhưng tôi tự nhủ: cũng thế thôi, phải, cũng thế thôi”. Tâm nói vậy vì Tâm “chưa bao giờ tôi cảm nỗi tuyệt vọng ghê gớm đến như thế”.

Cũng may. Còn hình bóng quê hương – đó là tấm ván cứu sống người thanh niên bám vào để bơi vào… bờ nhân sinh.

Cuốn Bếp lửa là một tấm gương phản chiếu trung thành cả một thế hệ: nó có giá trị như một bức tranh do một họa sĩ tài họa ra để làm gương kim cổ: cứ mỗi khi có những cuộc chiến tranh hay một cuộc cách mạng lật đi những trang sử xanh thì lại có một thế hệ làm nạn nhân của chính mình – mà không làm sao gỡ được: con người bất lực, với người với mình, vì người vì mình, cho người cho mình. Hòa mình với số đông thì không được, không vẹn, mà hòa mình với chính mình thì bất lực – lịch sử thật quả là một đại họa của con người. Nếu quả tình có Thượng Đế thì thật Thượng Đế coi người như chó rơm – không thời đại nào Lão Tử, Trang Tử và Liệt Tử có mặt như thời đại này.

Trên phương diện nhận định, hình như con người đương sống lại một thời Hy – La (grécolatinisme) mới – khuất phục được những thế lực rất phi lý, cầm cân nẩy mực, vẽ tranh vân cẩu, tạo bể dâu… Con người bị bỏ lại với chính mình, bơ vơ, cô đơn. Con người bất lực – bất lực với chính mình, với tha nhân, với nhiên giới mà con người cứ tu là đã chinh phục rồi! Thế lực phi lý ấy không ngăn được người siêu phàm Einstein đã làm mấy bài toán để cho nguyên tử lực phát sinh – để cho loài người sắp tự sát; mà cũng không ngăn được chàng Tâm trong Bếp lửa – như cả một ngàn lẻ một chàng Tâm khác – cô đơn và hết lối thoát, bám lấy tình máu mủ và quê hương, như là bám lấy bọt.

Một thứ quan niệm Hy – La mới (néo – grécolatinisme) với hình bóng một nhận định về định mệnh mới (néo-fatalisme) gây một thứ guồng nhân sinh: chui vào rồi tù hãm! Và cái thế hệ có giá trị nhân văn và sáng tạo (valeur humaniste et créatrice) nhiều nhất là thế hệ thanh niên nơi đất nước này lại là mặt trận thế hệ bước vào và tù hãm nhiều nhất!

*

Người ta xem sách như ngắm tranh. Tranh đẹp thì yên lặng cảm thông với tranh rồi yên lặng trầm trồ… Những tiểu thuyết như Bếp lửa không đòi hỏi một sự phê phán huyên náo và tưng bừng. Nó đẹp như vang lên một mẩu âm thanh, như nổi lên một màu sắc – thị giác, thính giác và tất cả cái thông minh của con người đón lấy rồi cùng với văn nghệ phẩm yên lặng trong cảm thông.

Tôi đã thưởng ngoạn Bếp lửa như vậy – không hề đòi hỏi ở nhà sáng tác những gì chỉ có triết gia, luân lý gia, và ông Cò quận Nhất… mới làm được, giải quyết được. Kể cả nhà chính trị!

Ấy là chưa nói rằng mỗi người trong chúng ta, ai lại chẳng phải là luân lý gia của chính chúng ta hơn một lần rồi – còn đòi nhiều ở nhà văn nghệ làm gì nữa! Tự văn chương nó đã nói nhiều rồi.

*

Tôi nghĩ vậy trong khi đọc Bếp lửa – cho nên tôi thấy nó hay lắm, đã làm tôi bâng khuâng rất lâu trong thời gian. Vả lại có được như vậy cũng là nhờ kỹ thuật hành văn và “kiến trúc” – nói một cách khác, cái giọng của cuốn truyện. Bút pháp Tuyền nằm trong đó – nằm trong cái giọng. 

Mà bút pháp thì thật là không thế nào phân tích nổi. Nó như thế là như thế. Như thế đấy là hay chẳng hạn. Như thế kia là dở chẳng hạn. Ở Thanh Tâm Tuyền, nó hay một cách dửng dưng – không ồn. Lặng… Kín.

*

Người ta đọc sách ngắm trăng nghe nhạc với cả tâm hồn – xin nói lại – với cả tâm hồn, chớ chẳng phải với riêng tư một quan năng nào của cơ thể, hay của tâm, của trí, của lý.

À, đọc xong sách như sách của Tuyền rồi – nếu có ai tìm xem thêm sách triết lý và luân lý riêng tư nào đó nữa, thì càng tốt.

Còn nhà văn nghệ, việc của họ có hạn, thiên chức của họ có hạn. Cái chuyện nhà văn nghệ chiếm cả vai trò triết gia và luân lý gia và quan tòa tư pháp – thì hoặc đó là một quái thai văn nghệ, hoặc đó là một nhân tài cỡ siêu nhân, thì lại phải bao nhiêu thế kỷ nữa mới có một.

Nghĩ về Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền, tôi không nghĩ như nọ như kia… Và không tham…

Nguồn: Lá Bối xuất bản lần thứ nhất, in tại nhà in Đăng Quang, 734a Phan Thanh Giản – Sài Gòn. Giấy phép số 481 TBTTCH/BC3/XB Sài Gòn ngày 22 tháng 2 năm 1967, ngoài những bản thường in thêm 100 bản đẹp dành riêng cho tác giả, nhà xuất bản và thân hữu. Thư từ, liên lạc về Nxb xin gửi cho Từ Mẫn, bưu điện xin đề tên cô Cao Ngọc Thanh. Giá 120 đồng. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Leave a Reply