“Bóng tối giúp nhà thơ vượt qua những giới hạn của ý thức thông thường”


Sáng 14/12/2013, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức buổi gặp mặt, giao lưu giữa các nhà thơ Mỹ và Việt Nam tại trụ sở Hội (số 9 Nguyễn Đình Chiểu, Hai Bà Trưng, Hà Nội). Trong buổi gặp gỡ  này, nhà thơ Ngô Tự Lập và nhà thơ Martha Collins đã có cuộc “đối thoại thơ” nhân dịp ra mắt tuyển tập thơ song ngữ Những vì sao đen – Stars. Dưới đây, Phê bình văn học  trân trọng gửi tới Quý bạn đọc  “Lời giới thiệu”  tập thơ Những vì sao đen (Tiếng Việt và tiếng Anh)”của Martha Collins.

*

Black Stars/ Những vì sao đen

Poems by Ngô Tự Lập, Translated by Martha Collins and the author

Milkweed Edition, USA, 2013

 

OREWORD

  

 Ngô Tự Lập was born in Hanoi in 1962, just as the American military presence was escalating into what we would eventually call the Vietnam War.  He spent his childhood in Vinh Phu, about sixty miles from Hanoi, from which he and his family were evacuated, like many others.

After the war, he received a navigation degree in the former USSR, became a navy captain, graduated from law school, and in 1993 began working as a literary editor. In 1995 he received a fellowship to study literature in Paris, where he earned his Master’s Degree in 1996; in 2006 he received his PhD in English from IllinoisStateUniversity, where he also worked for the Dalkey Archive Press.

It was while he was studying in the United States that I met Lap, who in the summer of 2004 came to Boston for the annual Joiner Center Writers Workshop.  A casual consultation about the English version of a poem he was planning to read one evening began the collaboration that led to Black Stars.

The first poems I encountered—in the first section of this book—look back at childhood with the kind of emotional complexity that informs all of Lap’s work. While the war isn’t a central theme, it’s a haunting presence for the child who “played with a snail / In a bomb shelter flooded with rain.”  In tension with the war, yet rooted in it, is a deep attachment to place. Lap’s poems sometimes utilize traditional imagery that reflects Vietnamese culture and landscape, but in a style that is quite evocative and sometimes gently surreal.  Metaphor and simile often extend landscape, which sometimes has a life of its own, as in the poem addressed to the poet’s childhood home, “The Midlands.”

While Vietnam is the most deeply felt place, the countries where Lap has lived, studied and traveled also appear in his work, extending his range and ultimately connecting, as in the first poem in the book, “The Universe and I.”  The poems also include routes between places: roads, paths, and the sea experienced by the captain serve as links between more abstract concepts, including past and present, village and city, life and death, light and darkness. There are also crossroads and—even in landscape or seascape—doors that may open onto surprising horizons.

Time is almost palpable in these poems, as “Days fall onto the river / Trembling like fragile dragonfly wings,” or as the poet sees his years as “thirty-five shapeless, colorless beasts.”  Memories lurk behind or within images perceived in the present: like Rilke, Lap looks deeply into things until they look back at him.  Sometimes, too, he is able to fly and look down on both space and time, which may, as in the book’s first poem, include the future as well as the present and past. While the past often evokes village life, the present a postmodern urban world, the magic of many of these poems is a dual consciousness that allows the poet to reside in both at once;  thus, in the poem called “Darkness,”  “Darkness spreads / In my urban memories / Like the shadow of village areca trees.”

Both darkness, which the poet chooses as his “companion,” and the shining light that moments of illumination provide are suggested by the title we have given to this volume, which in the title poem is a metaphor linking universe and Vietnamese village. While darkness carries the usual weight of sorrow and loss in the book, it also shines with stars, and helps the poet transcend the limitations of ordinary consciousness: “In darkness there are no borders.”

*

The process of translating these poems of course involved a great deal of border crossing.  Usually, Lap would create a rough English version of a poem; then, using my limited Vietnamese, several Vietnamese-English dictionaries, and his translation, I would create my own word-for-word version, at the same time listening to both the order and the rhythm of the Vietnamese words.  When I had a version that satisfied me, I would send it to him—and so forth, until we both were happy.

All of the poems are written in free verse, which made the process both simpler and more complex.  Lap’s line is usually a self-contained unit of syntax, and often of image as well.  I have tried to honor the line as a condensed unit of thought as well as rhythm, and at the same time to maintain fluidity between and among the lines, as in the lightly-punctuated original poems.

The three sections of Black Stars are selected, respectively, from Lap’s second and third books, and a collection of newer poems.  They follow not only the chronology of the books, but also the poet as he progresses from being a young man reflecting on his village childhood, to a more mature traveler absorbing and reflecting on contemporary global life, to a seasoned “Man with Big Eyes” who has seen a great deal, and who can help us see, as we travel a “Road on the Earth,” a “distant horizon covered with clouds / Where night is a metaphor for sun.”

Martha Collins

Cambridge, Massachusetts, 2011

LỜI NÓI ĐẦU

 

Ngô Tự Lập sinh tại Hà Nội năm 1962, đúng vào lúc sự hiện diện quân sự của Mỹ bắt đầu leo thang để rồi trở thành cái mà sau này chúng ta gọi là cuộc Chiến tranh Việt Nam. Thời thơ ấu, anh sống tại Vĩnh Phú, cách Hà Nội khoảng sáu mươi cây số, nơi sơ tán của anh và gia đình, cũng như của nhiều người và gia đình khác.

Sau chiến tranh, anh tốt nghiệp đại học ở Liên Xô với tấm bằng Kỹ sư hàng hải, trở thành thuyền trưởng hải quân, tốt nghiệp đại học Luật, và từ năm 1993 bắt đầu làm công việc của một biên tập viên văn học. Năm 1995, anh nhận được học bổng du học ngành văn chương tại Paris, nơi anh nhận bằng thạc sĩ năm 1996. Năm 2006, anh nhận bằng Tiến sĩ ngôn ngữ và văn hóa Anh tại Đại học Bang Illinois, nơi ông làm việc cho Nhà xuất bản Dalkey Archive Press.

Chính trong thời gian Lập đang học tập tại Hoa Kỳ, tôi đã gặp anh. Mùa hè năm 2004, Lập đến Boston tham dự Hội thảo hàng năm của Trung tâm William Joiner. Tình cờ, tôi được mời góp ý về bản dịch tiếng Anh bài thơ anh định đọc tại đêm thơ, và đó là khởi  bắt sự hợp tác dẫn đến Những vì sao đen.

Những bài thơ đầu tiên tôi đọc – những bài trong phần đầu của cuốn sách này – nhìn lại thời thơ ấu với một cảm xúc phức tạp, dự báo tất cả các tác phẩm của Lập. Chiến tranh không phải là chủ đề trung tâm, nhưng đó chính là sự ám ảnh đối với cậu bé “chơi với con ốc sên trong chiếc chữ A ngập nước.” Đối nghịch với chiến tranh, nhưng cũng bắt nguồn từ nó, là sự gắn bó sâu nặng với quê hương. Thơ Lập của đôi khi sử dụng những hình ảnh truyền thống, phản ánh văn hóa và cảnh vật Việt Nam, nhưng với phong cách khêu gợi và đôi khi siêu thực một cách tinh tế. Ẩn dụ và so sánh thường mở rộng cảnh quan, thứ cảnh quan đôi khi có cuộc sống riêng, như trong bài thơ nói về miền thơ ấu của tác giả, bài “Trung du.”

Dĩ nhiên Việt Nam là nơi được cảm nhận sâu sắc nhất, nhưng những xứ sở mà nhà thơ từng sống, học tập và viếng thăm cũng xuất hiện, mở rộng không gian nghệ thuật, và cuối cùng là kết nối “Thế giới và tôi”, như Lập viết trong bài thơ đầu tiên của tập sách này. Thơ Lập cũng có những con đường giữa các vùng đất: những con đường lớn, những con đường mòn, và cả biển biển khơi trong trải nghiệm của một người thuyền trưởng, chúng kết nối những ý niệm trừu tượng hơn, như quá khứ và hiện tại, làng quê và thị thành, cuộc sống và cái chết, ánh sáng và bóng tối. Thơ Lập còn có những ngã rẽ và – thậm chí ngay cả trong phong cảnh đất đai hay biển cả – những ô cửa có thể mở ra những chân trời khiến ta ngỡ ngàng.

Thời gian có thể cảm nhận gần như trong tất cả các bài thơ, như “Tháng ngày rơi xuống mặt sông / Run rẩy những cánh chuồn mỏng mảnh”, hay khi nhà thơ nhìn tuổi tác của mình như “ba mươi lăm con mãnh thú không hình hài, màu sắc.” Ký ức ẩn sau hoặc trong những hình ảnh hiện tại: giống như Rilke, Lập nhìn sâu vào sự vật cho đến khi chúng ngoái lại nhìn anh ông. Và, đôi khi, anh còn có thể bay lên và nhìn xuống không gian và thời gian, bao gồm, như trong bài thơ đầu tiên của cuốn sách, cả tương lai, hiện tại và quá khứ. Nếu như quá khứ thường gợi lên cuộc sống làng quê, hiện tại lại thể hiện một thế giới đô thị hậu hiện đại. Sự kỳ diệu của nhiều trong những bài thơ này là một tâm thức kép cho phép nhà thơ cư trú trong cả hai cùng một lúc, như trong bài “Bóng tối“: “Bóng tối/ Trong ký ức ta, ký ức thị thành/ Đang lan dần như bóng cau xóm nhỏ.”

Cả bóng tối, mà nhà thơ chọn làm “bạn đồng hành” của mình, lẫn ánh sáng chói lọi mà những khoảnh khắc khai minh mang lại, đều được gợi lên trong cái tên chúng tôi chọn cho tập sách. Trong bài thơ cùng tên, đó là một ẩn dụ kết nối vũ trụ với làng quê Việt Nam. Nếu như bóng tối thường vẫn mang sức nặng của buồn đau và mất mát, thì trong cuốn sách này, nó đồng thời cũng tỏa sáng, với những vì sao, giúp nhà thơ vượt qua những giới hạn của ý thức thông thường: “Trong bóng tối không còn biên giới nữa.”

*

Quá trình dịch những bài thơ này quả thực phải vượt qua rất nhiều biên giới. Thông thường, Lập dịch thô sang tiếng Anh, sau đó, với vốn tiếng Việt còn hạn chế của mình, với nhiều từ điển Việt-Anh và bản dịch thô của Lập, tôi sẽ tạo ra phiên bản sát nghĩa, cố ltôn trọng cả trật tự và nhịp điệu của từ tiếng Việt. Khi có được một phiên bản tạm ổn, tôi gửi cho Lập – và cứ như vậy, cho đến khi cả hai chúng tôi cảm thấy hài lòng.

Tất cả các bài thơ đều được viết ở thể tự do, điều này khiến cho quá trình dịch vừa đơn giản hơn vừa phức tạp hơn. Câu thơ của Lập thường là những đơn vị cú pháp có nghĩa độc lập, và thường thì hình ảnh cũng như vậy. Tôi cố gắng tôn vinh câu thơ như là một đơn vị súc tích của cả tư duy lẫn nhịp điệu, đồng thời cũng cố gắng duy trì tính lưu loát giữa các câu thơ, giống như trong những bài thơ nguyên bản với rất ít dấu câu.

Hai phần đầu của tập “Những vì sao đen” được lựa chọn tương ứng từ tập thơ thứ hai và thứ ba của Lập, còn phần thứ ba – trong số những bài thơ mới hơn. Chúng được sắp xếp không chỉ theo thời gian xuất bản, mà còn theo tuổi tác của tác giả, khi anh hóa thân từ một chàng trai, đang suy ngẫm về thời thơ ấu ở thôn quê, thành một kẻ lãng du trưởng thành, hấp thụ và suy ngẫm về cuộc sống toàn cầu đương đại, rồi thành một “Người đàn ông mắt to” từng trải, người đã chứng kiến rất nhiều điều, người có thể giúp chúng ta nhìn thấy, khi đi theo “Con đường trên trái đất“, “Những phương xa chân trời xa mây phủ / Nơi bóng đêm là ẩn dụ của mặt trời.”

Martha Collins
Cambridge, Massachusetts, 2011

Leave a Reply