Cảm thức vĩnh viễn trong tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ của William Faulkner


            Hồ Vân Anh

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu cảm thức vĩnh viễn trong tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ của William Faulkner, có thể hiểu là tính chất bất động, khép kín vĩnh cửu của thời gian và tồn tại trong tác phẩm. Những ấn tượng, cảm giác, tri nhận về sự vĩnh cửu được biểu hiện sâu đậm nhất trong dòng ý thức của nhân vật Benjy và Quentin. Nếu như Benjy hiện diện như một con người thuở hoang sơ, tồn tại vĩnh viễn trong quá khứ hồn nhiên thì Quentin mắc kẹt mãi mãi ở hiện tại trong khát vọng níu giữ quá khứ bất thành. Từ đó, tác phẩm gợi nên hoài niệm về một quá khứ hoang sơ, trinh bạch, về cái đẹp bị đánh mất, niềm đau đớn trước nền văn hóa vật chất chủ nghĩa đang lan tràn. Trên tất cả, điều đó xuất phát từ lòng mến yêu cái đẹp và khát vọng ươm giữ cái đẹp vĩnh cửu của nhà văn.

Từ khóa: văn học Mỹ, William Faulkner, Âm thanh và cuồng nộ, thời gian, dòng ý thức

1.Thời gian là một mối âu lo của con người hiện đại. Thời gian co giãn của Einstein, chuyến du hành trong giấc mộng mang tên Freud, thời gian trực cảm của Bergson, ngày – mùa biến chuyển quanh đụn cỏ khô trong tranh Monet…, tất cả những phát kiến khoa học, tư tưởng và nghệ thuật đầu thế kỉ XX đã gây chấn động với những tâm hồn bấy lâu đang yên vị trên đường chạy thẳng tắp của thời gian hay tin cậy vào vòng quay không đổi của kim đồng hồ. Hiển lộ trong một hình hài mới, thời gian, ban đầu là nỗi âu lo, dần dần trở thành một thứ cảm thức mới của con người hiện đại. Cảm thức đó, đến lượt nó, được biểu hiện một cách da diết trong thể nghiệm văn chương của những F. Kafka, J. Joyce, M. Proust, S. Beckett, G. G. Marquez…

William Faulkner, trong tiểu thuyết xuất sắc đầu tiên của mình, Âm thanh và cuồng nộ (1929), đã đem đến một cảm thức riêng về thời gian và tồn tại – cảm thức vĩnh viễn. Toàn bộ những ấn tượng, cảm giác, tri nhận, trong sự quyện hòa với nhau, hội tụ thành cảm thức về một tồn tại phi thời gian, ở đó sự tồn tại của con người bị ghim chặt trong những khoảnh khắc vĩnh cửu, không có trước hay sau, không có tiếp nối hay trôi chảy. Quá khứ, hiện tại hay tương lai mất đi ý nghĩa của nó khi bị tháo tung khỏi hệ quy chiếu tuyến tính. Cái còn lại duy nhất: những khoảnh khắc vĩnh viễn.

Nhìn trên kết cấu tác phẩm, sự sắp xếp các chương bước đầu tạo nên ấn tượng về tính phi thời gian. Bốn chương được tháo rời và đính vào những mốc thời gian xáo trộn độc lập (chương một: ngày 7/4/1928, chương hai: ngày 2/6/1910, chương ba: ngày 6/4/1928, chương bốn: 8/4/1928) và những người kể chuyện khác nhau (ba chương đầu được kể từ ngôi thứ nhất, là dòng ý thức của ba anh em trai nhà Compson, chương cuối được kể từ ngôi thứ ba). Sự phá vỡ trật tự tuyến tính của thời gian trần thuật và tính đơn nhất của ngôi kể tạo nên ấn tượng về những mảng khoảnh khắc tách rời và ý niệm rằng không một thời điểm nào là trung tâm. Người đọc khi lần đến những trang cuối của chương một không đoán định được rằng mình sẽ bước hụt chân vào quá khứ trước đó 18 năm ở chương hai, và hành trình đọc cứ gập ghềnh thế cho đến chương cuối tác phẩm. Điều đáng nói là, ngay ở mỗi chương, theo dòng hồi ức, liên tưởng hỗn độn như dòng thác lũ mộng mị của nhân vật, lại toát lên một ấn tượng về thời gian hoàn toàn khác biệt. Trong đó, tính chất ngưng đọng vĩnh cửu của thời gian trở nên ám ảnh hơn cả trong dòng ý thức của nhân vật Benjy và Quentin – hai nhân vật chịu những chấn thương đau đớn và nghiệt ngã nhất. Ở hai người con của gia đình Compson ấy, có kẻ ngây thơ điên dại mắc kẹt trong quá khứ hoang sơ mãi mãi, cũng có kẻ trí thức giãy đạp khỏi hiện tại trong những nỗ lực bất thành.

2.Cuốn tiểu thuyết được xếp vào loại khó đọc nhất trong văn chương thế kỉ XX mở đầu bằng lời kể của một thằng khờ, Benjy, một gã câm bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ và chịu những chấn thương tâm lí. Ngay từ chương đầu tiên của tác phẩm, dòng ý thức của Benjy đã tạo lập một thế giới hoàn toàn khác lạ: hàng loạt những phiến đoạn hồi ức quá khứ được gọi dậy từ những kích thích giác quan, trở nên sống động và thật hơn cả, khiến hiện tại dường như mờ nhòe và biến mất. Cảm thức vĩnh viễn ở nhân vật Benjy, do vậy, toát lên từ sự ngây thơ vĩnh viễn của nhân vật: nhân vật mãi mãi không trưởng thành, với Benjy, quá khứ chính là thời gian sống của nhân vật, vĩnh viễn.

            Trước hết, cảm thức vĩnh viễn ở Benjy gợi nên từ cảm nhận của nhân vật về sự tồn tại sống động của quá khứ và sự nhòe mờ, trống rỗng của hiện tại. Đồng hành cùng “câu chuyện được kể bởi một thằng ngốc”, độc giả bị thử thách trong chuyến phiêu lưu vào một thế giới tâm tư hỗn độn đầy vụn vỡ. Sự nhảy cóc, xáo trộn các cảnh hiện tại, quá khứ diễn ra với một tần số đậm đặc, tạo nên một mớ hỗn mang khó nắm bắt trong tâm trí thằng khờ Benjy[1]. Có thể hình dung chương của Benjy được cấu trúc bởi hai mạch thời gian vừa xen kẽ vừa tách biệt (quá khứ – hiện tại) và điều quan trọng là mỗi mảng thời gian lại chiếm vị trí khác nhau trong cảm thức của nhân vật.

Ở các cảnh hiện tại, thời gian câu chuyện và thời gian trần thuật gần như bằng nhau, do nhân vật chủ yếu chỉ thuật lại lời thoại của nhân vật và một vài câu kể. Trong đó, 17/32 cảnh chỉ hoàn toàn thuật lại những lời nói mà Benjy nghe được. Chỉ ở những phiến đoạn quá khứ, thời gian trần thuật so với thời gian câu chuyện mới có sự giảm tốc, thể hiện ở những câu tả người và cảnh, tả cảm giác của Benjy. Những câu đặc tả làm chậm lại tốc độ trần thuật hầu như chỉ xuất hiện ở những cảnh trong quá khứ: “… Giờ thì tôi khóc, và có cái gì đang bùng lên trong tôi và tôi khóc dữ hơn, và họ giữ chặt tôi đến khi nó không bùng lên nữa. Rồi tôi nín. Nó vẫn quanh quẩn đâu đây, và rồi những hình thể hiện ra. “Mở thùng ra, Versh”. Chúng lướt chậm rãi. “Trải các bao tải không lên sàn”. Chúng lướt nhanh hơn, khá nhanh. “Nào. Nhấc chân cậu ấy lên.” Chúng lướt qua, êm dịu và sáng ngời.”[2,40]

Việc giữ nguyên trật tự và nhịp điệu trần thuật trong các phiến đoạn hiện tại bước đầu cho thấy sự ghi nhận hoàn toàn thụ động, hờ hững của Benjy với hiện thực xung quanh. Hiện tại bước vào trong chương Benjy theo đúng trật tự và nhịp điệu của nó. Sự can thiệp của chủ thể cảm nhận bị triệt tiêu đến mức tối đa. Đời sống nội tâm của Benjy chỉ thực sự tồn tại trong quá khứ – quãng thời gian mà cậu bé Benjy, tuy ngốc nghếch, thiểu năng, nhưng vẫn được sống và cảm nhận cuộc sống với rất nhiều kỉ niệm, ấn tượng, cảm xúc. Bất chấp sự chói gắt của hiện tại phả vào, một quá khứ xa xưa nhất đang sống lại, kéo dài miên viễn. Trải qua màng lọc thời gian dày 15 năm, giữa những khoảng sáng tối vụt nhớ vụt quên của kẻ mất trí, những kí ức không thể hiện về đầy đặn, vẹn nguyên; nhưng những ấn tượng, cảm xúc vẫn đọng lại trong tiềm thức đã đem đến cho ngôn từ quá khứ sắc màu biểu cảm và giọng điệu trữ tình. Quả vậy, chỉ ở mảng ngôn từ quá khứ mới xuất hiện nhiều câu văn miêu tả ấn tượng, cảm giác của Benjy và mới có hiện tượng điệp câu văn tả cảm giác như trong đoạn văn sau:

Tôi nghe thấy đồng hồ, và nghe thấy Caddy đứng sau lưng tôi, và tôi nghe thấy mái nhà. Trời vẫn mưa, Caddy nói. Tôi ghét mưa. Tôi ghét mọi thứ. Và rồi chị gục đầu vào lòng tôi và chị khóc, ôm lấy tôi, và tôi òa khóc. Rồi tôi lại nhìn ngọn lửa và những hình thể êm ái sáng ngời lại di động. Tôi nghe thấy đồng hồ và mái nhà và Caddy.”[2,91]

Nếu như trước con mắt của Benjy mất trí là một hiện tại chết, hiện tại khô cứng, đóng băng thì đối với cậu bé Benjy trong quá khứ, cuộc sống đầy những âm thanh, mùi vị riêng. Ở đó có “nắng lạnh và chói”, có “những hình thể sáng loáng lướt qua êm ả và đều đặn”, có “đám lá xào xạc sáng chói”; ở đó Benjy “ngửi thấy mùi ốm đau”, “nghe trời đổ tối”, “nghe thấy lửa và mái nhà”… Chúng tôi lập bảng so sánh tần số xuất hiện của một số từ ngữ có ý nghĩa biểu cảm đặc trưng của Benjy giữa hai nhóm ngôn từ hiện tại – quá khứ[2]:

Từ Hiện tại Quá khứ Từ Hiện tại Quá khứ
nghe (hear) 7 43 lạnh (cold) 0 9
nhìn (see) 9 16 sáng (bright) 3 16
ngửi (smell) 2 30 tối (dark) 3 11
cảm thấy (feel) 0 5 đen, tối đen (black) 1 9
khóc (cry) 0 22 hình thể (shape) 0 10
nín (hush) 0 7 từ so sánh (like) 1 21

Mặc dù nhóm ngôn từ quá khứ có số dòng chỉ gấp gần 3 lần nhóm ngôn từ hiện tại, nhưng như đã thấy, tần số xuất hiện các từ chỉ cảm giác, giác quan, tính chất, phép so sánh đều lớn hơn gấp rất nhiều lần. Điều này chứng tỏ đây mới thực sự là khoảng tồn tại của đời sống nội tâm, nơi có những xúc cảm, ấn tượng, cảm nhận chủ quan của nhân vật.   Nói cách khác, Benjy dường như không tồn tại ở cái thực tại năm 1928 này. Quá khứ của những năm về trước trở thành thứ “siêu thực tại” của anh ta.

Đặc biệt, để tạo cảm giác về một quá khứ khép kín trong tâm tư Benjy, Faulkner còn dùng đến một kĩ thuật ngôn ngữ: bất chấp việc sử dụng động từ ở thì quá khứ trong khi kể (trừ các lời thoại trực tiếp) ở suốt chương một, câu cuối cùng của chương sử dụng động từ ở thì hiện tại đơn và hiện tại hoàn thành:

 “Caddy held me and I could hear us all, and the darkness, and something I could smell. And then I could see the windows, where the trees were buzzing. Then the dark began to go in smooth, bright shapes, like it always does, even when Caddy says that I have been asleep.” (chúng tôi in đậm) [3,63] (Caddy ôm lấy tôi và tôi có thể nghe thấy tất cả chúng tôi, và bóng tối, và những gì tôi ngửi thấy. Và rồi tôi nhìn thấy cửa sổ, nơi cây cối rì rầm. Rồi bóng tối bắt đầu biến thành những hình thể êm ả, sáng ngời, như nó luôn luôn thế, ngay cả khi Caddy nói rằng tôi ngủ rồi.)

Có sự chuyển đổi thì ngay trong câu cuối: từ thì quá khứ đơn với “bóng tối” sang thì hiện tại với “những hình bóng êm ả ngời sáng” và “Caddy” tựa như quá khứ đang hồi sinh với những bóng hình và hơi thở sống động trước mắt. Cái quá khứ khép kín đó trở thành cái hiện tại tiếp diễn vĩnh viễn – hiện tại tâm tư. Benjy mãi mãi sống trong thời quá khứ, trong những khoảnh khắc vụt sáng của tiềm thức thời ấu thơ.

Ở Benjy, cảm thức vĩnh viễn còn được gợi lên từ ấn tượng về thời gian nguyên thủy, hoang sơ trong cảm nhận của nhân vật. Các khái niệm về thời gian trong dòng ý thức của Benjy được thay thế và trực quan hóa. Giống như một đứa trẻ, Benjy chưa gọi tên được những khái niệm ngày tháng, giờ giấc. Những từ ngữ trực tiếp xác định thời gian như hôm nay, tối nay, ngày mai, hôm qua, năm, buổi sáng, buổi chiều, ngày, tối chỉ xuất hiện trong lời thoại của các nhân vật khác. Trong lời kể, tả của Benjy chỉ có các dấu hiệu chỉ thời gian gián tiếp là thiên nhiên: mặt trăng, mặt trời, ánh trăng, ánh nắng hay tính chất ánh sáng: sáng, tối, bóng tối, tối đen. Sự thiếu vắng khái niệm thời gian góp phần tạo nên cảm giác về thời gian nguyên thủy. Benjy sống trong thế giới không biết đến đồng hồ, không biết đến thời gian nhân tạo; thời gian trong thế giới ấy là thời gian thực sự – thời gian của thiên nhiên, vũ trụ, của những mặt trời mọc – lặn hay vòng quay sáng – tối. Cái không khí toát ra từ chương của Benjy vì thế là một không khí của miền hoang sơ, khi con người chưa đặt chân vào lối sống kĩ nghệ.

Tư duy ngôn ngữ của Benjy cũng là một yếu tố tạo nên ấn tượng về tính chất trẻ thơ vĩnh viễn của nhân vật, nhân vật mãi mãi không trưởng thành, chỉ sống với quá khứ đã đánh mất. Dường như có những điểm giống nhau giữa người thiểu năng trí tuệ bẩm sinh và trẻ thơ (trong những năm đầu đời): ở người thiểu năng, trí tuệ của họ chỉ dừng lại ở ngưỡng rất thấp và không có sự phát triển, vì thế họ có một số đặc điểm về khả năng tư duy, thói quen hành động giống với trẻ em. Georges Devereux trong bài “Bệnh tinh thần phân liệt, một chứng loạn tâm có tính tộc người” cũng đã nhắc tới “tính trẻ con (ở người lớn)” là một trong những đặc trưng của những bệnh nhân phân liệt [1,216].

Như một đứa trẻ những năm đầu đời, Benjy tư duy bằng biểu tượng hình ảnh cụ thể, trực quan. Có thể nói hầu như mọi ấn tượng của Benjy đều được biểu đạt bởi sự hiện diện của một cái gì đó hữu hình, cụ thể. Benjy biết đến ngày và đêm qua mặt trăng, mặt trời. Benjy cảm nhận sự thanh khiết của người chị Caddy qua mùi cây… Tính chất trực quan được biểu hiện ở vai trò đáng kể của danh từ cụ thể. Nếu như danh từ, do chức năng định danh, là từ loại mà trẻ thơ cũng như người thiểu năng thu nhận sớm hơn và dễ dàng hơn thì tính từ, do yêu cầu tư duy khái quát tính chất sự vật, được tiếp thu muộn hơn và khó khăn hơn. Có thể thấy, trong chương một, các tính từ chủ yếu chỉ những thuộc tính dễ nhận biết và mang tính trực quan của sự vật như: màu sắc (đỏ, xanh, vàng, trắng, đen), ánh sáng (sáng, tối), nhiệt độ (lạnh, nóng, ấm, mát), hình dạng (to, nhỏ, dài, ngắn), tính chất của nước (ướt, khô), tình trạng sức khỏe (ốm), chuyển động (êm ả, đều đặn). Trong khi đó, ở chương của Quentin, xuất hiện rất nhiều tính từ có mức độ trừu tượng cao hơn. Lấy thí dụ: cùng trong trường liên tưởng về Caddy, Benjy chỉ dùng một số tính từ như: mát lạnh (cold), sáng ngời (bright), ướt đẫm (wet) – những tính từ gắn liền với ấn tượng trực tiếp về thân thể của chị. Trong khi đó, trường liên tưởng về Caddy có thể gợi dậy ở Quentin hàng loạt những tính từ mà mức độ trực quan ít hơn hẳn như: thanh khiết (clean), vĩnh hằng (eternal), quyến rũ (cunning), thanh thản (serene), mỏng manh (delicate), bí ẩn (mysterious), ương bướng (stubborn), trách móc (reproachful), đẫm lệ (tearful), đều đều (steady), êm dịu (soft), khủng khiếp (terrible)

Ngôn từ chương một dành ưu tiên cho danh từ hơn cả, đặc biệt là danh từ cụ thể, chỉ những đối tượng quen thuộc, đơn giản mà một đứa trẻ có thể nhận thức được. Đối với Benjy, đó là những hiện diện quen thuộc ở trong một phạm vi không gian hẹp: ngôi nhà và đồng cỏ (nay là sân golf), thậm chí còn trong một phạm vi thời gian hẹp: quãng thời gian mấy năm đầu đời. Nói như vậy bởi vì những đối tượng mà Benjy 33 tuổi nhận thức và miêu tả không nhiều hơn là mấy so với cậu bé Benjy 3 tuổi. Về điều này, Noel Polk tinh tế khi nhận thấy trong câu tả cảnh Caddy và Benjy cùng đi qua suối mùa đông (năm Benjy 3 tuổi): “She broke the top of the water and held a piece of it against my face” (Chị đập vỡ mặt nước rồi cầm một mảnh giơ trước mặt tôi), sở dĩ cụm từ “mảnh nước” (piece of it – it thay thế cho water được nói ở vế trước) được dùng chứ không phải là “mảnh băng” (piece of ice)  là bởi Benjy đã từng biết sự vật này được gọi là nước và vẫn giữ nguyên cách gọi ấy. [5,104]

Thậm chí, ngôn từ Benjy, xuất phát từ tư duy bằng hình ảnh cụ thể, có hiện tượng trực quan hóa đến mức tối đa các khái niệm trừu tượng, dẫn đến hệ quả là việc ưu tiên dùng các danh từ cụ thể thay cho danh từ trừu tượng hay tính từ. Thế giới ấn tượng và xúc cảm của Benjy được biểu hiện dưới dạng cấu trúc câu: Tôi + hành động thụ cảm giác quan + đối tượng thụ cảm. Cấu trúc câu này tạo cảm giác rằng những ấn tượng, cảm giác tồn tại như một hiện diện hữu hình, do đối tượng thụ cảm đều là danh từ/ cụm danh từ. Thí dụ: cách diễn đạt nghe thấy mái nhà, ngửi thấy cái lạnh, cảm thấy bóng tối… đều tạo cảm giác mùi vị, âm thanh tồn tại một cách hữu hình. Lấy thí dụ: thay vì dùng nguyên dạng tính từ “lạnh” trong “Tôi cảm thấy lạnh” (I felt cold), cảm giác lạnh được viết dưới dạng danh từ “cái lạnh, cái lạnh sáng, cái lạnh tối” trong “Tôi có thể ngửi thấy cái lạnh” (I could smell the cold), “Chúng tôi chạy lên các bậc thềm và ra khỏi cái lạnh sáng, vào cái lạnh tối” (We ran up the steps and out of the bright cold, into the dark cold). Ngay cả linh cảm về sự chết chóc, một linh cảm rất mơ hồ mà Benjy chưa ý thức được, cũng được hình dung như một điều cụ thể qua cách dùng đại từ thay thế “nó” (it) trong câu “Tôi có thể ngửi thấy nó” (I could smell it). Benjy hiện lên như một con người nằm ngoài cái vòng đảo điên của xã hội. Không ngôn ngữ, chỉ sống với những cảm giác bản năng, nguyên thủy, Benjy hiện diện như một con người thưở hoang sơ.

3.Trong khi đó, ở nhân vật Quentin, cảm thức vĩnh viễn được gợi nên ở trạng thái mắc kẹt mãi mãi không bao giờ thoát ra nổi hiện tại. Chương hai tiểu thuyết là dòng ý thức của Quentin, một trí thức Harvard, trong trạng thái bị ám ảnh điên cuồng bởi những ý nghĩ loạn luân và tự sát. Quentin dằn vặt mình trong những hồi ức êm dịu mà đau đớn về người em gái Caddy, người em gái đã từng trinh nguyên và thơm dịu. Bởi vậy, toàn bộ dòng ý thức của Quentin là một nỗ lực đau đớn trốn chạy và phủ định hiện tại, cố với tay níu giữ quá khứ nhưng bất thành và rút cục, hiện tại vẫn vây bủa nghiệt ngã.

Nếu như ngôn từ Benjy là bất lực khi “cố nói” thì ngôn từ Quentin lại là sự “cố gắng không nói”. Bị ám ảnh bởi sự băng hoại của người em gái, trong anh luôn giằng xé giữa niềm yêu thương và oán hận. Anh cố gắng trốn chạy nỗi đau nhưng chúng luôn ập đến:

“Nếu trời xấu tôi có thể nhìn ra cửa sổ, nghĩ tới những gì ông nói về các thói quen vô ích. Thời tiết như thế này mà xuống New London thì thật là thú. Sao lại không nhỉ? Tháng của cưới xin, của giọng nói thì thào. Nàng chạy khỏi tấm gương, khỏi làn hương ướp. Những đóa hồng. Những đóa hồng. Ông bà Jason Richmond Compson thông báo lễ thành hôn của Những đóa hồng. Không phải là các trinh nữ như cây sơn thù, cây bông tai.” [2,118-119]

Ban đầu Quentin nghĩ về thời tiết và lời bố nói, về New London, chuyện cưới xin. Rồi câu văn in nghiêng xuất hiện khi hình ảnh cô em gái ập đến, lóe sáng đầy thanh tao và quyến rũ với màn gương, hương thơm quấn quyện và những đóa hồng. Nhưng ngay lập tức, ý nghĩ về đám cưới của cô dồn đến hành hạ Quentin: “Ông bà Jason Richmond Compson thông báo lễ thành hôn của”. Câu văn in nghiêng bị cắt cụt. Quentin không đủ sức đối diện với câu nói. Anh cố lấy ý niệm về cái đẹp để xua đi hiện thực trần trụi đó: “Những đóa hồng”. “Những đóa hồng” trước đó được in nghiêng bởi nó là hoài niệm về Caddy trong quá khứ thì nay được chuyển sang in đứng, như là cố gắng của Quentin, bứt ra cái quá khứ đó để giữ vẹn nguyên hình ảnh trong sáng của em gái. Anh trốn tránh nỗi đau thất tiết của Caddy bằng cách nói phủ định “không phải là các trinh nữ như cây sơn thù, cây bông tai”. Chương của Quentin bao gồm rất nhiều những gián đoạn như thế. Ở đó, một ám ảnh, nỗi đau từ trong vô thức hiện về bất chợt thì anh luôn cố gắng trốn chạy nó, phủ định nó. Anh cố kiềm chế không nói: “Đứa em gái bé bỏng của con đâu còn. Nếu con nói được Mẹ à”. Nhưng rồi chúng vẫn cứ ập đến. Những đoạn in nghiêng chính là “cái khoảnh khắc tức thời, nhanh chóng của những gì anh ta thấy và cảm thấy, không phải những gì anh ta đang nói về; chúng là những thứ mà anh ta thực sự không muốn diễn tả thành lời”.[5,116]

Nuối tiếc quá khứ nhưng không thể với tay chạm vào quá khứ, mỗi lần với tay là quá khứ trinh nguyên tan biến, Quentin căm ghét đến điên cuồng hiện tại. Nỗi sợ hãi hiện tại hiện thân trong ám ảnh ray rứt về đồng hồ. Những suy tư, triết lí về thời gian của anh được biểu đạt bởi hàng loạt những ẩn dụ, so sánh: “nấm mồ của mọi hi vọng và ước muốn”, “mô hình phi lý của toàn bộ kinh nghiệm nhân sinh”, “Christ không bị đóng đinh, ông chỉ bị bào mòn bởi tiếng tích tắc của những bánh xe bé xíu”… Trong khi người em Benjy sống ngoài thời gian thì Quentin luôn bị những ám ảnh về thời gian dằn vặt. Anh, cùng với người cha của mình, “ý thức được rằng họ đã bị chinh phục bởi thế họ mới bị tiếng tích tắc của đồng hồ ám ảnh ray rứt.”[6]

Trạng thái mắc kẹt trong hiện tại của Quentin tìm thấy mình trong một hình thức lời văn tương ứng: sự xâm lấn vào cấu trúc cú pháp tạo nên một kiểu cấu trúc câu bện xoắn không thể nào tháo gỡ. Nếu như ngôn từ Benjy, một gã khờ, được cấu trúc gián đoạn theo lối lắp ghép, ở đó, các cảnh hiện tại – quá khứ tách rời nhau ra như những ốc đảo, các câu văn tuy rời rã, hỗn độn nhưng rành mạch về cấu trúc ngữ pháp thì ngôn từ Quentin lại gián đoạn theo lối giai điệu với kiểu câu văn bị xé lẻ, tràn lên nhau, dài triền miên, phá bỏ quy tắc cú pháp:

“chính ông chẳng bao giờ để mình bị ép uống, nhưng ông luôn nói rằng một giỏ rượu cuốn sách gì mà con đã đọc nói rằng trong cái giỏ có bộ quần áo chèo thuyền của Gerald ấy rằng giỏ rượu là một phần thiết yếu trong hành lí của bất cứ trang phong lưu nào đi picnic em có yêu họ không Caddy em có yêu họ không khi họ chạm vào em em chết” [2,215]

Tính không liền mảnh xâm lấn vào ngay trong cấu trúc câu văn: một câu bao gồm nhiều mẩu bị xé lẻ, tràn bên nhau không khoảng cách như dòng nước chảy. Đang nghĩ về người bố, hình ảnh giỏ rượu lại khiến anh nghĩ đến chiếc giỏ, bộ quần áo chèo thuyền của Gerald. Bị ám ảnh bởi niềm thù hận sự băng hoại của cô em gái khi trao thân cho Dalton Ames, một gã trai lơ, một gã “phong lưu”, anh lập tức bị ý nghĩ về Caddy dằn vặt, day đi day lại: “em có yêu họ không Caddy em có yêu họ không…”. Phức cảm giằng xé của Quentin đã tìm thấy mình nhiều nhất ở ngay lối viết mà các câu văn vừa đứt gãy, vừa bện xoắn lấy nhau. Những câu văn vừa bị gãy ra, thì ngay ở điểm đứt gãy đã tràn ra dòng nhựa xoắn lấy câu trước và sau nó. Mỗi khi in nghiêng xuất hiện là một khoảng vụt sáng, trở đi trở lại như một ám ảnh. Có thể hình dung dòng ngôn từ của Quentin như một giai điệu. Ở đó, để thưởng thức, ta không vô ích chia nhỏ từng nốt nhạc, bởi trong cùng một khoảnh khắc, có thể vang lên một hay nhiều nốt nhạc với nhiều âm vực khác nhau, và một nốt nhạc có thể ngân nga hòa quyện trong những thanh âm khác. Giai điệu đó ám ảnh người đọc với những nốt nhấn, những điệp khúc trở đi trở lại. Ngôn từ gián đoạn của Quentin hiện lên trong sự trộn lẫn, giằng xé như một cơn mộng mị đau đớn. Đó là thứ ngôn từ Quentin được phát ra từ dòng chảy của ý thức và tiềm thức quyện lẫn. Ở anh chàng trí thức Harvard này, tiềm thức không giản đơn chỉ là những kí ức được hồi tưởng. Nó là một phức cảm của những tổn thương quá lớn và những khao khát mãnh liệt bị dồn nén. Với Quentin, nỗi đau từ sự mất trinh tiết của người em gái, ám ảnh về tội loạn luân và cái chết trong ý muốn đau đớn “bảo giữ em gái mình nguyên vẹn mãi mãi trong ngọn lửa vĩnh hằng”, tất cả dồn nén mạnh mẽ vào vô thức. Chúng tràn lên ý thức và chi phối mọi suy nghĩ của Quentin trong hiện tại. Trạng thái giằng xé ấy được thể hiện trên lối viết gián đoạn đan xen, chồng chéo với nhiều điểm nhấn với hình thức câu văn bất chấp quy phạm cú pháp.

Như thế, bản thân một kĩ thuật được thể nghiệm ở những nhân vật khác nhau lại đưa tới những hiệu quả khác nhau. Có thể lấy lời nhận xét của Gustaf Hellström, trong lời Tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển dành cho Faulkner để nói về ngôn từ của Benjy và Quentin. Nếu như câu văn trong chương Benjy là “loạt những câu văn ngắn, mỗi câu như một nhát búa, giáng cho cây đinh ngập lút tận mũ vào thanh gỗ và không bao giờ xê dịch” thì ở Quentin là “những câu văn vô tận và đầy sức mạnh như những đợt sóng Đại Tây dương”. Faulkner hoàn toàn xứng đáng được vinh danh là “nhà tiểu thuyết thực nghiệm lớn trong số những nhà tiểu thuyết thế kỷ 20 này”. Sáng tạo về ngôn từ, đến lượt nó, lại phản ánh một quan niệm, một cách nhìn về con người. Lối viết gián đoạn kiểu lắp ghép được áp dụng với Benjy – trong tình trạng mất hết ý thức trong hiện tại, chỉ sống với tiềm thức – đã phản ánh đến tận cùng tình trạng bơ vơ của con người giữa một thế giới đổ vỡ. Benjy bất lực trong việc thấu hiểu và nối kết thế giới. Benjy tha thẩn trong hiện tại, trở về với những mảnh vụn kí ức mà không biết bám víu vào đâu trong những mảnh vụn rời rạc đó. Khác với Quentin, lối viết đứt đoạn kiểu giai điệu với nhiều điểm nhấn, nhiều hợp âm lại cho thấy tình trạng con người mắc kẹt giữa bộn bề của những ý niệm chằng chịt, giằng xé và không thể được giải thoát. Cảm thức về tình trạng con người vĩnh viễn không thể thoát ra được khỏi sự tồn tại giới hạn của mình trở nên đau đớn hơn bao giờ hết.

            Trong tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ có một nhân vật vắng mặt. Nhân vật ấy chỉ hiện lên trong hồi ức êm dịu mà đau đớn của những người thương yêu cô. Đó là người con gái “thơm như cây” và trinh nguyên như những đóa hoa kim ngân trong mưa. Caddy chính là cái đẹp vĩnh viễn trong hoài niệm. Giữa bối cảnh lối sống văn hóa vật chất lan tràn đặt những giá trị truyền thống trên đà suy thoái, Faulkner lo âu, đau đớn vì sự mất mát của cái đẹp trong thế giới hiện đại. Ông ươm giữ cái đẹp quá khứ trong hình tượng Caddy: “Đối với tôi, nàng là hiện thân của cái đẹp. Nàng là niềm trìu mến trong trái tim tôi” và để cho hình tượng ấy hiện lên gián tiếp qua những người con trai nhà Compson. Tuy nhiên, mỗi người – Benjy, Quentin, Jason – lại lưu giữ trong tâm trí một chặng đường của Caddy. Benjy nhớ về quá khứ tuổi thơ xa xôi nhất (từ 1898), nhớ về Caddy trong dáng vẻ trinh nguyên thời thơ ấu cho tới khi bắt đầu bị cám dỗ và “không còn mùi như cây”. Quentin nhớ về những năm 1910 – giai đoạn sóng gió nhất cuộc đời Caddy, giai đoạn cái đẹp bị giằng kéo và vùi dập ghê gớm giữa sức cám dỗ của tình dục và sức ép của đạo lí thanh giáo. Còn Jason, trong hậm hực, nhớ về quá khứ gần, với thực trạng sắp suy vong của gia đình và lúc Caddy đã trở thành một thiếu phụ đáng thương bị gia đình và xã hội chối bỏ. Đẩy nhân vật Caddy lùi về khoảng không gian không bao giờ chạm tới, W. Faulkner như muốn gìn giữ, nâng niu cái đẹp trinh bạch ấy trong hoài niệm, để nó tồn tại như một giá trị vĩnh cửu trong niềm hoài nhớ.

4.Âm thanh và cuồng nộ ra đời trong bối cảnh nền văn hóa vật chất đang xâm lấn đời sống con người miền Nam Hoa Kỳ. Ba người anh em trai nhà Compson, mỗi người có một lối ứng xử khác nhau. Jason, kẻ thực dụng lí trí, hoàn toàn tha hóa trong lối sống vật chất, anh ta thích nghi nhanh chóng với thế giới hiện đại và cố tạo vỏ bọc cho phù hợp với cái xã hội cuồng nộ ấy. Trong khi đó, chấn thương ở Quentin và Benjy đau đớn và thấm thía hơn cả. Cũng chính ở những nhân vật này, cảm thức về thời gian và sự tồn tại vĩnh viễn được gợi nên trong từng ý nghĩ, cảm giác, những hồi ức, những quẫy đạp, khát vọng… Quentin giằng xé và mắc kẹt trong một trạng thái lưỡng cực: vừa nuối tiếc vừa bất lực, anh tồn tại trong một thế chông chênh giữa hai bờ sự thật và lí tưởng, quá khứ và hiện tại, nỗi đau và sự chối bỏ. Còn Benjy, “con người gần với cỏ cây muông thú”, con người “mang tâm trí của một đứa trẻ”, lại dường như là một tồn tại vượt thoát ra khỏi thực tế. Benjy như một con người thưở nguyên sơ, gặp phải tấn bi kịch lạc lối giữa thời hiện đại đảo điên và suy tàn, như một hiện diện của sự hồn nhiên chưa bị đánh mất trong một tác phẩm viết về “sự hồn nhiên bị đánh mất” (chữ dùng của Faulkner) [4,16]. Trên tất cả, cảm thức vĩnh viễn gợi nên nỗi hoài niệm đối với truyền thống tốt đẹp và sự hoang sơ trinh bạch của tự nhiên đang bị tàn phá, đồng thời niềm đau đớn trước nền văn hóa vật chất đang lan tràn. Âm thanh và cuồng nộ, bởi vậy, bất chấp những âm thanh náo loạn của những gào rống, kêu khóc đầy cuồng nộ trong thực tại, vẫn tồn tại một không khí lắng dịu rất riêng. Đó là một bầu không khí của sự tồn tại miên viễn, niềm hoài niệm và khát vọng ươm giữ không bao giờ mất về cái đẹp nguyên sơ. Tác phẩm, có lẽ, đã chinh phục trái tim độc giả trong những khoảnh khắc tĩnh lặng vô cùng như vậy.

………….

[1] Trong bài viết Thể nghiệm dòng ý thức của W. Faulkner – Thử thách và mê hoặc, chúng tôi đã khảo sát, tiến hành phân chia và xác định thời điểm cụ thể cho các phiến đoạn quá khứ, hiện tại trong chương một. Theo đó, trong 62 trang nguyên bản có tới 99 cảnh khác nhau, dựa trên 14 mốc thời gian sự kiện từ năm 1898 đến năm 1828.

[2] – Chúng tôi khảo sát trên nguyên bản.

– Chúng tôi không thống kê những từ ngữ trong những câu đối thoại, tức lời người khác trong chương 1.

– Đối với động từ, chúng tôi thống kê những động từ mà Benjy là chủ thể, chứ không thống kê ở những câu kể về hành động của người khác.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Baranov, F. G. và Georges Devereux … (2007), Phân tâm học và tính cách dân tộc, Đỗ Lai Thúy dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội.

[2] Faulkner, William (2008), Âm thanh và cuồng nộ (Phan Đan, Phan Linh Lan dịch), Nxb Văn học, Hà Nội.

[3] Faulkner, William (2000), The Sound and the Fury, Everyman Publishers, London

[4] O’Connor, William Van (1969), William Faulkner, North Central Publishing Company, St Paul, Minnesota.

[5] Polk, Noel (1996), “Trying not to say: A primer language of The sound and the fury, Children of the dark house: Text and context in Faulkner, University Press of Mississippi, Jackson.

[6] Phạm Công Thiện, Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8524&rb=08

Nguồn; Bản đăng trên Phê bình văn học do tác giả gửi

Leave a Reply