Recent Articles

Viết ra sự đọc

Cái văn bản mà cần phải gọi bằng một từ duy nhất: một văn bản-đọc ấy bị hiểu sai bởi vì từ nhiều thế kỷ qua, chúng ta quan tâm quá mức đến tác giả mà không hế để ý chút nào đến người đọc. Phần lớn các lý thuyết phê bình đều tìm cách lý giải tại sao tác giả viết tác phẩm của mình, viết theo những xung năng nào, những câu thúc nào, những giới hạn nào. Cái đặc quyền quá mức dành cho cái vị trí mà từ đó tác phẩm ra đi (cá nhân hay Lịch sử) ấy, cái sự kiểm duyệt hướng tới nơi mà tác phẩm sẽ đến và sẽ phân tán (sự đọc) ấy đã quy định một kinh tế học đặc biệt (dù rằng đã xưa cũ rồi): tác giả được xem như là chủ nhân vĩnh cữu đối với tác phẩm của mình, còn chúng ta, những người đọc thì bị xem là những kẻ thu hoa lợi. Nền kinh tế học ấy tất nhiên bao hàm chủ đề uy quyền: người ta nghĩ rằng tác giả có những quyền uy đối với độc giả của mình, anh ta bắt độc giả tuân theo một ý nghĩa nào đó của tác phẩm, và cái ý nghĩa này tự nhiên là ý nghĩa tốt, ý nghĩa đúng. Từ đó sinh ra một nền phê bình đạo đức về ý nghĩa hiểu đúng (và về ý nghĩa hiểu sai của nó, tức cái “phản nghĩa”). Người ta tìm cách thiết lập điều mà tác giả muốn nói chứ không phải là điều mà người đọc hiểu.

Giới và ngôn ngữ trong tư tưởng của Hélène Cixous

Tư tưởng nữ quyền với tư cách là một khuynh hướng học thuật chỉ mới xuất hiện ở phương Tây vào nửa sau thế kỷ XX. Với mục đích phê phán và giải cấu trúc hệ thống quan điểm lấy nam giới làm trung tâm (androcentric system) đang thống trị xuyên suốt lịch sử tư tưởng phương Tây, các nhà tư tưởng nữ quyền đã tiến hành nghiên cứu và định giá lại toàn bộ các lĩnh vực học thuật và các chủ đề của tư tưởng phương Tây, trong đó mối quan hệ giữa giới và ngôn ngữ là một mảng đề tài được các nhà tư tưởng nữ quyền đương đại đặc biệt quan tâm. Trong bài viết này, qua phân tích những kiến giải của nhà tư tưởng nữ quyền Pháp Hélène Cixous, chúng tôi muốn chỉ ra nét đặc sắc của tư tưởng nữ quyền đương đại trong vấn đề này.

Vết thương và giọng nói

Việc nghe ra địa chỉ của một kẻ khác nữa, một địa chỉ vẫn giữ nguyên sự bí ẩn thế nhưng nó đòi hỏi người ta phải nghe và đáp lại, là thứ, nói theo cách khác, cũng là nội dung chính yếu của trong các văn bản của Duras và Lacan. Trong Hiroshima Mon Amour, sự lắng nghe này là điều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng mà ta thấy qua cuộc gặp gỡ giữa nhân vật nam và nữ, giữa người phụ nữ Pháp – người đã chứng kiến chàng tình nhân người Đức của mình chết trong chiến tranh như thế nào và người đàn ông Nhật Bản mất toàn bộ gia đình của mình bởi vụ ném bom ở Hiroshima và hóa ra anh lại là kẻ duy nhất nghe được và đón nhận được địa chỉ mà nhân vật nữ hướng đến vượt qua khoảng cách văn hóa và cả những tác động của những chấn thương khác nhau mà mỗi người phải chịu đựng. Điều này có một ý nghĩa sâu sắc. Tương tự, việc lắng nghe ra kẻ khác đang cất lời nhắm đến chúng ta trở thành tâm điểm trong sự diễn giải lại câu chuyện mà Freud kể về giấc mơ về một đứa trẻ bị  mà Lacan đã tiến hành trong tác phẩm của mình khi ông nhấn mạnh đến sự đối mặt bất ngờ giữa người cha và đứa trẻ: giữa đứa trẻ bị chết vì sốt cao, thi thể bất ngờ bốc cháy từ một cây nến bị đổ một cách tình cờ với người cha, hoàn toàn không biết gì về vụ bốc cháy ở phòng kế bên, người nghe thấy trong giấc mơ của mình giọng nói của đứa con đang cầu khẩn cha nó, thì thầm vào tai cha, đến xem vụ cháy, “Cha ơi, cha không thấy con đang bốc cháy sao?” Chính lời khẩn cầu của một kẻ khác, người muốn mình được nhìn thấy, nghe thấy, chính cái tiếng gọi này mà kẻ khác đó buộc chúng ta phải tỉnh thức (cụ thể ở đây là tỉnh dậy đến xem vụ cháy) đã dội âm, theo những cách khác nhau, xuyên suốt các văn bản mà cuốn sách này tìm cách đọc và cũng là thứ với cách hiểu mà cuốn sách này đưa ra, sẽ cấu thành một cách đọc mới, một cách lắng nghe mới mà ngôn ngữ chấn thương và cả sự chịu đựng câm lăng liên tục tái diễn đòi hỏi cần phải có. Một đòi hỏi cấp thiết và mang ý nghĩa sâu xa.