Recent Articles

Khám phá những biểu tượng trong văn học*

Biểu tượng trong văn học đã được đề cập đến khá nhiều trong các tác phẩm phê bình văn học ở Việt Nam cũng như trên thế giới dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, tính chất đa nghĩa, trừu tượng, thậm chí là mơ hồ của các biểu tượng khiến cho việc phân tích và giải mã biểu tượng trong các tác phẩm văn học không dễ dàng, đôi khi lâm vào tình trạng bế tắc, tạo nên những “cuộc tranh luận liên miên về ý nghĩa của những biểu tượng” (Raymond Firth). Để tháo gỡ những bế tắc nói trên, chỉ “một mình” phê bình văn học sẽ rất khó giải quyết được hết những“đặc tính khó lường”của biểu tượng. Vì vậy, vấn đề giải mã biểu tượng cần có một cái nhìn tổng thể bao gồm cả văn học cũng như những ngành học thuật khác có liên quan như logic học, ký hiệu học, nhân học,…

Nhiệm vụ của dịch giả

Triết học không có vị nữ thần nào, và dịch cũng không có vị nữ thần nào. Nhưng cả hai đều không thô lậu, như các nghệ sĩ tình cảm chủ nghĩa vẫn thường khăng khăng. Bởi có tồn tại một bản mệnh triết học, mà đặc tính cơ bản nhất là niềm khao khát đối với cái ngôn từ tự tuyên bố ra trong dịch phẩm này. “Các ngôn ngữ khiếm khuyết ở chỗ nhiều, thiếu đi cái tối cực: nghĩ chính là viết không kèm phụ liệu, không tiếng thì thầm, mà vẫn lặng câm lời lẽ bất tử, trên trái đất này sự đa dạng của những cách nói ngăn bất kỳ ai phát ra được những từ nếu chỉ có một duy nhất sẽ được vật chất hóa như là chân lý.”

Thơ ngữ pháp và ngữ pháp thơ (phần cuối)

Theo xác nhận của Veresaev (nhà văn Nga – TBĐ), đôi lúc ông cảm thấy rằng “hình ảnh – chỉ là thứ phẩm của thơ ca đích thực” [27]. “Thơ không hình ảnh”, như người ta vẫn gọi như vậy, hoặc “thơ tư tưởng”, sử dụng rộng rãi “hình tượng ngữ pháp” thay cho các phép chuyển nghĩa làm nét trội. Cả bài ca chiến trận của người Husit lẫn bài thơ Ja vas ljubit/ Tôi yêu em của A.Pushkin đều là các kiểu mẫu thuyết phục của sự độc quyền những thủ pháp ngữ pháp, trong lúc đó thì có thể lấy làm ví dụ cho sự đồng tham dự của cả hai yếu tố là bài thơ của Marwell vừa kể trên hoặc bài tứ tuyệt súc tích nhờ những phép chuyển nghĩa của Pushkin: Stov imeni tebe moemEm cần gì trong cái tên anh, mà ở quan hệ này là tương phản với bài thơ Ja vas ljubil, dù cả hai bức thơ được viết cùng trong một năm và, hình như, đều để tặng cho Carolina Sobanska [28, tr.289 – 292].