TIN TỨC - SỰ KIỆN»

Hội thảo “Nghiên cứu và dạy học ngữ văn trong nhà trường – từ truyền thống đến hiện đại”

Tiếp theo Thư mời và thông báo số 1 về hội thảo “Nghiên cứu và dạy học ngữ văn trong nhà trường – từ truyền thống đến hiện đại”, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh trân trọng gởi đến các đơn vị, cá nhân những thông tin chính thức về hội thảo như sau

  • Thông báo Hội nghị Ngữ văn 2015 Văn học Việt Nam: bản sắc và hội nhập

    Theo kế hoạch, Viện Văn học sẽ tổ chức Hội nghị khoa học Ngữ văn 2015 với chủ đề Văn học Việt Nam: Bản sắc và hội nhập. Đây là hoạt động khoa học thường niên của Viện Văn học, tạo diễn đàn cho các nhà khoa học trong và ngoài Viện, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ có điều kiện công bố kết quả nghiên cứu khoa học mới nhất trong năm

  • Thư mời viết bài Hội thảo “Nghiên cứu và dạy học Ngữ văn trong nhà trường – từ truyền thống đến hiện đại”

    Hội thảo hướng đến những chủ đề sau: Giới thiệu những khuynh hướng lí thuyết mới của các lĩnh vực ngôn ngữ, văn học, giáo dục; Phát hiện, nghiên cứu, tổng kết những vấn đề nghiên cứu và dạy học ngữ văn từ quá khứ đến hiện tại; Nhận thức, đánh giá, đề xuất giải pháp cho tình hình nghiên cứu và dạy học ngữ văn hiện nay.

  • Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2015

    Kết quả 6 tác phẩm được Hội Nhà văn Hà Nội trao năm 2015 gồm: Mình và Họ (tiểu thuyết – Nguyễn Bình Phương, Nxb Trẻ), Sẹo độc lập (tập thơ – Phan Huyền Thư, Nhã Nam & Nxb Lao Động), Trên đường biên của lý luận văn học (tập phê bình của Trần Đình Sử, Nxb Văn Học), Kiên ngạnh như thủy (tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa – Trung Quốc, Minh Thương dịch từ tiếng Trung, Trung tâm Văn hóa Đông Tây & Nxb Hội Nhà văn), Trúc Thông thơ (Nxb Hội Nhà văn, giải thưởng thành tựu về thơ) và Những người vũ công Memphis (tập thơ của Đào Quốc Minh, Nxb Hội Nhà văn, giải thưởng tác giả trẻ).

LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH»

Ngôn ngữ học và văn chương

Trong nhiều thế kỉ, ở phương Tây, từng có một ngành học rộng lớn chịu trách nhiệm xử lý những mối quan hệ giữa tác phẩm và ngôn ngữ: đó là Tu từ học. Nhưng Tu từ học, dù phát triển thế nào đi nữa vẫn không hề có cái đích ngắm khoa học phân tích tính, mang tính phê bình.

  • Bài dẫn nhập: Hình thức, phong cách và thể loại văn chương

    Thể loại là một quy ước diễn ngôn. Ít ra dưới cái nghĩa đó – tôi xin thông báo ngay – mà thể loại được phục quyền trong những nghiên cứu văn chương sau một thời kỳ dài nó ít có mặt, ít được xem xét, trong thời kỳ đó, giữa tác phẩm hay văn bản với văn chương, có thể nói là không có những trung gian nào

  • Văn hóa như là chủ thể và bản thân nó cũng là khách thể

    Vấn đề cơ bản của kí hiệu học văn hóa là hoạt động tạo nghĩa. Chúng tôi gọi hoạt động tạo nghĩa là khả năng sản xuất “ở đầu ra” những văn bản mới độc đáo của văn hóa nói chung, cũng như những bộ phận riêng lẻ của nó

  • Sự đụng độ của các định nghĩa (1)

    Tiểu luận Sự đụng độ giữa các nền văn minh? của Samuel P. Huntington xuất hiện trên tờ Foreign Affairs mùa hè năm 1993, tuyên bố ngay trong câu đầu tiên rằng “nền chính trị thế giới đang tiến vào một giai đoạn mới”. Với tuyên bố này, tác giả muốn nói rằng nếu trong trong quá khứ vừa qua, các xung đột trên phạm vi thế giới diễn ra giữa các phe phái ý thức hệ nhóm các thế giới thứ nhất, thứ hai và thứ ba ra thành các phe phái đối chọi nhau, thì nền chính trị theo cung cách mới này sẽ dẫn đến các xung đột giữa các nền văn minh khác biệt và có thể coi là đụng độ lẫn nhau

THỂ TÀI PHÊ BÌNH»

Văn học dịch và dịch văn học 30 năm qua

Có ba lực lượng dịch giả có thể đảm đương nhiệm vụ giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài, đó là: Các dịch giả Việt Nam ở trong nước, các dịch giả Việt Nam hiện đang sinh sống ở nước ngoài và các dịch giả là người nước ngoài thông thạo tiếng Việt

LỊCH SỬ PHÊ BÌNH»

Văn học so sánh ở Việt Nam từ 1986 đến nay

Trên thế giới, văn học so sánh – một phân nhánh của nghiên cứu văn học đã xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở châu Âu (năm 1886 được coi là năm khai sinh ra bộ môn Văn học so sánh). Những nước có phong trào nghiên cứu văn học so sánh phát triển mạnh nhất thời bấy giờ là Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Thụy Sĩ

  • Phác thảo lịch sử hình thành xã hội học văn học

    Thuật ngữ “văn học” (littérature) hiểu theo nghĩa hiện đại chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ XVII và được sử dụng một cách rộng rãi ở châu Âu vào thế kỷ XVIII

  • Việt Nam thế kỷ XX và những xu hướng lựa chọn tư tưởng văn nghệ nước ngoài

    Sau hơn một trăm năm, tính từ đầu thế kỉ XX, Việt Nam đã tiếp nhận dường như toàn bộ các hệ thống tư tưởng văn nghệ của nhân loại. Nền lí luận văn nghệ Việt Nam được kiến tạo trên nền tảng của kho tri thức khổng lồ đó

  • Văn học các nước thế giới thứ ba trong kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản đa quốc gia

    Một đánh giá từ các cuộc trao đổi gần đây giữa giới trí thức tại các nước thế giới thứ ba đó là: hiện nay đang có một sự trở lại đầy ám ảnh của bản thân vị thế dân tộc. Tên của các quốc gia trở đi trở lại như một hồi chiêng, đánh động tới “chúng ta” và đặt ra cho chúng ta những câu hỏi – chúng ta phải làm gì và làm như thế nào, những gì chúng ta không thể làm và những gì chúng ta làm tốt hơn quốc gia này hay quốc gia kia, đâu là những đặc điểm riêng biệt của chúng ta?

CHÂN DUNG PHÊ BÌNH»

Đỗ Lai Thúy và phê bình phân tâm học Việt nam

Trong khoa học, không có lời nói cuối cùng. Những công trình khoa học đích thực bao giờ cũng gợi dậy ở người đọc cảm hứng tranh luận. Đây cũng chính là điểm thành công trong phê bình phân tâm học của Đỗ Lai Thúy. Tác phẩm của ông gợi dậy ở độc giả hứng thú tranh luận ngay ở một vài luận điểm cốt yếu mà ông tỏ ra tâm đắc nhất

  • Thầy tôi

    Nếu như có một người mà lại khiến tôi không bao giờ hết ngạc nhiên về cái gọi là năng lượng tinh thần thì đó chính là thầy tôi, PGS.TS La Khắc Hòa

  • Thiếu Sơn, nhà văn chính trực (1908 – 1978)

    Từ bỏ một vị trí ổn định mà nhiều người mơ ước, Thiếu Sơn chọn sống cuộc đời đạm bạc, dành hết tâm lực và thì giờ vào sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc bằng ngòi bút. Những bài báo của ông trong thời gian này được tập hợp trong tập tiểu luận chính trị Giữa hai cuộc cách mạng (Nxb. Mạch Sống, 1947). Năm 1948, Thiếu Sơn đã từ chối lời mời làm Bộ trưởng Bộ thông tin cho chính phủ Nguyễn Văn Xuân.

  • Thi pháp học, một số vấn đề lý thuyết và ứng dụng [*]

    Năm 1993, khi cuốn phê bình đầu tiên của Đỗ Đức Hiểu ra đời, tôi có viết bài khẳng định ông là một trong những người đổi mới phê bình văn học. Đổi mới, theo tôi không phải là “đổi ngược” (Nguyễn Đình Thi) hay “lộn trái” (Chế Lan Viên), mà là thay đổi hệ hình. Phê bình trước đấy thường đến với tác phẩm bằng đại lộ tiểu sử học, hoàn cảnh kinh tế – xã hội, hoặc thành phần giai cấp của người viết…như là cái đã – biết để loại suy ra cái chưa – biết là tác phẩm theo quy luật nhân quả.

NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN THỜI CỦA PHÊ BÌNH»

Trả lời nhà báo Thụy Khuê

“Không dễ dàng, cũng không dễ chịu, khi phải từ bỏ sự ngưỡng mộ [dành cho Bakhtin] từng được chia sẻ bởi cả một thế hệ, nhất là khi rất nhiều tên tuổi lớn đã tham gia vào việc xây dựng nên sự ngưỡng mộ ấy, và khi sự ngưỡng mộ đó đã tạo cảm hứng cho biết bao nhiêu công trình. Tuy nhiên, các thông tin tích lũy được mà ngày nay chúng ta có đang buộc chúng ta phải từ bỏ, vì sự trung thực của trí thức và vì sự thật” .

  • Vấn đề đánh giá văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới

    Từ 1986 trở đi, khi đã được cởi trói và tự cởi trói nền văn học đã vận hành theo hướng tự do hơn, dân chủ hơn. Các năng lực sang tạo có cơ hội được giải phóng, đánh thức, các tìm kiếm cá nhân được kích thích, tôn trọng. Đó là tiền đề để đổi mới toàn diện nền văn học từ hệ thống quan niệm đến cảm hứng sáng tác, hệ thống thi pháp thể loại, phương thức tiếp cận và phong cách cá nhân.

  • Văn xuôi thế hệ các nhà văn nữ sau 1975- từ diễn ngôn giới

    Trong tiến trình văn học Việt Nam, ở những giai đoạn trước, sự có mặt của nữ giới không chiếm ưu thế. Những năm 60/thế kỉ XX, một số cây bút nữ đã khẳng định vị thế trên văn đàn nhưng chưa thành một lực lượng chủ yếu. Đặc biệt, ở bộ phần văn học miền Nam, đội ngũ nhà văn nữ bắt đầu gây ấn tượng ở số lượng cũng như chất lượng. Dẫu còn nhiều chỗ cực đoan, sai lệch, nhưng văn học miền Nam Việt Nam đương thời ghi nhận sự đóng góp của nữ giới trong thành tựu chung không thể chối cãi

  • “Cái chết của tác giả” của R.Barthes và một số liên hệ với tình thế văn học Việt Nam hiện nay

    Luận đề về “cái chết của tác giả” của R. Barthes không chỉ tạo cơ sở làm thay đổi gốc rễ cái nhìn về tác giả mà còn có khả năng mở ra những khả thể mới cho sự viết và sự đọc

THIẾT CHẾ XÃ HỘI CỦA VĂN HỌC»

Văn học các nước thế giới thứ ba trong kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản đa quốc gia

Một đánh giá từ các cuộc trao đổi gần đây giữa giới trí thức tại các nước thế giới thứ ba đó là: hiện nay đang có một sự trở lại đầy ám ảnh của bản thân vị thế dân tộc. Tên của các quốc gia trở đi trở lại như một hồi chiêng, đánh động tới “chúng ta” và đặt ra cho chúng ta những câu hỏi – chúng ta phải làm gì và làm như thế nào, những gì chúng ta không thể làm và những gì chúng ta làm tốt hơn quốc gia này hay quốc gia kia, đâu là những đặc điểm riêng biệt của chúng ta?

  • Nhân ngày thơ Việt Nam, nhớ lại một bản thảo bị mất

    Các nguồn tài liệu trên hợp thành tập bản thảo mà tôi đặt tên là “Các hội nghị văn hóa toàn quốc, 1946, 1948. Sưu tập tư liệu”, Nguyễn Thành và Lại Nguyên Ân sưu tầm; Lại Nguyên Ân biên soạn. Bản đánh máy chữ dày trên 300 trang giấy khổ A4.Bản thảo được biên tập rồi đưa đọc duyệt, tất cả đều trôi chảy. Chỉ có khâu in ra sách là thành vấn đề. Thời kỳ ấy các NXB đã có loại “sách nhà nước đặt hàng”, làm bằng kinh phí do ngân sách cấp, sách in ra phải dành phần lớn để chuyển cho hệ thống thư viện thuộc các sở văn hóa các tỉnh, hầu như không được bán. Nếu muốn làm sách để bán, NXB phải chịu toàn bộ kinh phí in ấn.

  • Ghi chép từ Hội nghị nhà văn đảng viên 6-1979

    Cuối cùng, Chế Lan Viên còn ngoặc được vào cái ý là nghiên cứu văn học đến đâu chưa nói, nhưng văn viết ra phải có văn. Nếu không, tôi đề nghị lập một cái hội lý luận riêng, chứ không để như thế này mãi được, không để cho các nhà lý luận thô thiển thao túng cả văn chương… Một đề nghị rất hợp lý đấy. Đến mức, sau khi ông Chế Lan Viên nói xong, trong hội nghị thấy truyền tay nhau một cái giấy cáo phó, ý như thể là Chế Lan Viên đã làm một công việc sinh phúc là khai tử cho Vũ Đức Phúc

  • Đề cương Đề dẫn thảo luận ở Hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học (năm 1979)

    Gần đây trên  trang web của nhà phê bình Vương Trí Nhàn có đăng 2 kỳ  Ghi chép về Hội nghị nhà văn đảng viên ( 6 -1979). Theo Vương Trí Nhàn, ” Sự kiện  6- 1979  chính là báo trước sự kiện 1986 -1990, một bước đổi mới tự phát rồi đến  giữa chừng đảo […]

TƯ TƯỞNG - TRIẾT HỌC - VĂN HÓA»

Dịch, phỏng dịch và phóng tác lời bài hát nước ngoài: Một khảo sát sơ bộ

Lời các bài hát nước ngoài được Việt hóa qua ba con đường: dịch sát nghĩa, phỏng dịch và phóng tác lời mới – cả ba đều có lịch sử lâu dài, và đều có những khía cạnh đáng nghiên cứu. Nói chung, xu hướng dịch sát nghĩa luôn luôn chiếm một tỷ lệ nhỏ, có lẽ vì những khó khăn của công việc dịch thuật – dịch ca từ chính là dịch thơ trong điều kiện bó buộc của giai điệu của bài hát và thanh điệu tiếng Việt.

DIỄN NGÔN (VĂN HỌC)»

Diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học hiện đại

Giờ đây “diễn ngôn” đã trở thành khái niệm của khoa học liên ngành và khoa học đa ngành. Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của thuật ngữ “diễn ngôn”, tôi nhận thấy: nếu các học giả Âu – Mĩ có công hoàn thiện thuật ngữ này như một phạm trù của ngôn ngữ học và xã hội học, thì M.M. Bakhtin và các nhà nghiên cứu Nga lại đặt nền móng để xây dựng khái niệm ấy thành một phạm trù của thi pháp học và tu từ học hiện đại. 

  • Các lý thuyết diễn ngôn hiện đại: Kinh nghiệm phân loại

    Suốt cả thế kỉ XX, các khoa học nhân văn bị hiện tượng ngôn ngữ hút hồn. Nói theo Richard Rorty, “ngôn ngữ chiêu mộ thế giới” và, tất nhiên, tri thức đáng tin cậy nhất về thế giới đã được mã hoá trong ngôn ngữ. Nghiên cứu ngôn ngữ là chìa khoá để nghiên cứu con người và thế giới. Định đề này được ghi nhớ như là cơ sở phương pháp luận của các khoa học xã hội khác nhau và được trao cho danh hiệu “bước ngoặt ngôn ngữ học”. Từ cuối những năm 1960, trước tiên, nhờ hệ thống thuật ngữ và tư tưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại và kí hiệu học được quảng bá rộng rãi trong giới học thuật, “bước ngoặt ngôn ngữ học” biến thành “bước ngoặt diễn ngôn”.

  • Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay

    Thời gian gần đây khái niệm diễn ngôn đẫ xuất hiện rất nhiều trong các bài nghiên cứu đủ loại, nhiều đến mức không sao có thể định nghĩa thông suốt hết. Đã có rất nhiều định nghĩa về diễn ngôn, theo các góc độ khác nhau, ngôn ngữ, văn hóa, song về lí luận văn hoc thì còn rất ít.… Nhiều định nghĩa được đưa ra trong cuốn sách Diễn ngôn học ở Nga năm 2006, hoàn toàn không thấy vấn đề văn học.[1] Nhiều nhà khoa học xác nhận đó là khái niệm còn bỏ ngỏ, mỗi người nghiên cứu sử dụng theo cách hiểu riêng, nhưng phần nhiều đi theo ngữ học và văn hóa học. Vì thế, mặc dù văn học rất hấp dẫn, trong bài viết này tôi muốn lưu ý đến diễn ngôn trong nghiên cứu văn học.

  • Ngôn ngữ trong hoạt động

    Con Quạ là một bài thơ được viết cho đám đông tiêu dùng (consommation de masse), hoặc giả – để lấy lại lời nói của Poe, là một bài thơ được sáng tạo “cốt để tìm hiểu thời thượng” (connaitre la vogue). Và quả thật, bài thơ đã có được “sự ưa chuộng đương thời”. Trong diễn từ mang tính thi ca này hướng đến đám đông, lời nói của con chim – con chim vừa là đầu đề của bài thơ vừa là nhân vật chính nữa – là cái trục trên đó toàn bộ cỗ máy phải quay, như tác giả đã hoàn toàn nhận thức đầy đủ.

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM»

Nghệ thuật kể chuyện của nhà văn Tove Jansson

Truyện của Tove Jansson cho ta cảm giác rằng quả thật cuốn sách bà viết sẽ chẳng bao giờ xong được, bởi có quá nhiều điều hấp dẫn để kể, và bởi với người kể chuyện này thì phía trước luôn luôn sẽ là “Một cánh cổng mới dẫn vào một ngày mới khó tin đầy cơ hội, khi mọi điều có thể xảy ra nếu bạn không từ chối nó.” (Những cuộc phiêu lưu li kì của Mumi Bố, trang 207). Hay nói như như một triết gia nhỏ bé Too-ticky (trong một truyện khác của bà) thì “Tất cả mọi thứ đều rất không chắc chắn, và đó chính xác là điều khiến cho tôi cảm thấy thật an tâm.”

  • Truyện ngắn “Lolita” (Heinz Von Likhberg)

    Tờ Tin tức Frankfurt có đăng bài báo của nhà nghiên cứu văn học người Đức Mikhail Maar về Nabokov (“Nabokov đã biết gì?”, 3/2004), trong đó kể lại, vào khoảng năm 1916, 40 năm trước sự ra đời tiểu thuyết Lolita của Nabokov, “nhà văn Berlin ngày nay bị lãng quên” Heinz Von Likhberg đã công bố câu chuyện Lolita, tác phẩm được coi là “phác thảo cho tiểu thuyết nổi tiếng thế giới”. Bài báo của M.Maar đã gây ra chấn động lớn, khiến cho hầu như tất cả những người trước kia không đọc Likhberg, thì nay, ai cũng đọc tác phẩm này, và họ đều nhận ra, qua cốt truyện, ý tưởng chính tiểu thuyết của Nabokov có nét tương đồng với câu chuyện của Likhberg.

  • Thơ Ngô Tự Lập: Những vì sao đen

    Many months have passed, drenched in sweat

    But I have returned

    To boldly place on the table

    Two hands, two five-pointed stars

    Stories of war and shipwreck don’t attract me

    When I close my eyes, two stars fly into the darkness

  • Màu tự do của đất (giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012)

    Nhà thơ Trần Quang Quý quê Thanh Thủy, Phú Thọ. Hiện công tác tại Nxb. Hội Nhà văn.

    Tác phẩm chính: Viết tặng em trong ngôi nhà chật(thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 1990); Mắt thắm (thơ, Nxb. Lao động, 1993), Giấc mơ hình chiếc thớt (thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 2003), Siêu thị mặt (thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 2006), Cánh đồng người (thơ song ngữ Việt – Anh, Nxb. Hội Nhà văn, 2010), Bờ sông trăng sáng (truyện ngắn, Nxb. Hội Nhà văn, 2010), Màu tự do của đất(thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 2012)

EBOOKS VÀ CHUYÊN ĐỀ»

Chuyên đề: Giáo sư Đinh Gia Khánh với sự nghiệp nghiên cứu và đào tạo về văn hóa – văn học truyền thống

Ngày 14-10, Trường ĐH KHXH&NV (ĐH Quốc gia Hà Nội) phối hợp với Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tổ chức hội thảo “Giáo sư Đinh Gia Khánh với sự nghiệp nghiên cứu và đào tạo văn học – văn hóa truyền thống Việt Nam“.  Ban Tổ chức Hội thảo nhận được hơn 40 tham luận của các nhà khoa học, trong đó đa số là học trò nhiều thế hệ của Giáo sư Đinh Gia Khánh. Nội dung các bài viết thể hiện sự tưởng kính, tri ân, khẳng định và tôn vinh Giáo sư Đinh Gia Khánh trên nhiều phương diện

  • Cây bút, đời người (Tập chân dung văn học,Nxb. Hội Nhà văn, 2005)

    Lần này, xin phép được kính trình bạn đọc và các đồng nghiệp một tập chân dung đầy đặn hơn. Có những người tôi đã thử viết một hai lần, lần này xin tiếp tục đưa ra những cách giải thích mới. Tôi biết các hoạ sĩ vẽ chân dung có thói quen trở đi trở lại với những khuôn mặt đã quen, mỗi lần đưa ra một phác thảo khác. Tôi mong những bài viết này của tôi cũng được đối xử như vậy. Và trên hết cả, tôi hy vọng không chỉ những người được tôi nói tới mà các bạn văn khác và nói chung tất cả những ai quan tâm đến đời sống văn học đương đại có thể tìm thấy ở những trang sách sau đây những điều bổ ích.

  • Mênh mông chật chội (tiểu luận-phê bình,Nhà xuất bản Tri Thức,Hà Nội, 2009)

    Khi bắt tay tập hợp bài vở cho cuốn sách này, người viết thoáng nhớ lại tình cảnh tương tự của mình cách nay chừng mươi năm: chốc chốc lại phải xem những cái mình đã viết là viết về văn chương hiện tại hay về văn chương quá khứ, để đưa vào tập Sống với văn học cùng thời thay vì đưa  vào tập Đọc lại người trước đọc lại người xưa, hoặc ngược lại .

  • Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hoá trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới 1945

    Theo ý chúng tôi trong nghiên cứu văn học đây là cách hiểu nên được thống nhất sử dụng.  Nó hợp lý bởi lẽ nó không đặt văn học trong sự phụ thuộc một cách máy móc vào các sự kiện lịch sử mà có chú ý tới tính độc lập tương đối của văn học.  Nói cách khác nó xem xét văn học dưới góc độ văn hoá, tức là những yếu tố có tính chất lặp đi lặp lại trong sáng tác và phổ biến bao gồm môi trường hoạt động, chủ thể, nguyên tắc chỉ đạo sáng tác (thi pháp), thể loại…  – đây là những đặc điểm chúng tôi sẽ trở lại ở đoạn dưới.  Và bởi lẽ, những đặc điểm của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đã tồn tại liên tục, nên hai chữ hiện đại với nội dung xác định của nó đến nay vẫn dùng được.  Đặt bên cạnh hàng chục thế kỷ của văn học trung đại, thì thời gian của văn học hiện đại chưa phải là dài, những quy luật chủ yếu của nó đang phát huy tác dụng.

HỒ SƠ VĂN HỌC»

Về thời điểm ra đời bài thơ Nam quốc sơn hà

Gần đây, đã có thêm những ý kiến mới về tác giả cũng như thời điểm ra đời của bài thơ. Có lẽ người đầu tiên đặt lại vấn đề tác giả của bài thơ này là Hà Văn Tấn. Ông cho rằng: “Không có một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt

  • Diện mạo văn học Việt Nam Pháp ngữ

    Nhìn nhận văn học như một di sản và có chức năng chuyển tiếp lịch sử còn có ý nghĩa thực hành một ý thức mang tính nhân bản. Những nhà văn hay các tác phẩm chúng tôi trình bày ở đây có thể không phải là những con người xuất chúng hay nổi danh, hoặc cũng không phải là những kiệt tác

  • Mục lục tuần báo “Cười”, Huế, 1934

    “Cười”, báo trào phúng, văn chương; ra hàng tuần. Năm thứ nhất, số 1 ra ngày 1/10/1937; số cuối cùng: s. 5 (22/4/1938). Sáng lập: Lê Thanh Cảnh; Chủ bút: Trần Thanh Mại; Tòa soạn: 58 Rue de Gia Long, Huế; sau là 47 Rue de Gia Hội, Huế.

  • Chứng từ Thanh Tâm Tuyền (1 và 2)

    Còn lại chút gì là văn chương.

    Đó không còn phải là một tham vọng nữa. Mọi tham vọng chìm lặn tuyệt tích. Hết ngoi ngóp. Trên mặt hồ buổi sáng phẳng lặng không cả dấu sóng của bất cứ vật gì rớt. Tất không thể có bàn tay chết đuối chới với đã khuấy. Chỉ nổi là những búp khói trắng ùn trùng trùng như  một đám vườn trồng.

    Văn chương không thể còn là tham vọng.

VĂN HỌC NHÀ TRƯỜNG»

Bài ca ngất ngưởng: Từ văn bản đến hướng tiếp cận

Nói đến thơ hát nói Nguyễn Công Trứ, người ta lại không thể không nhắc đến Bài ca ngất ngưởng. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho cá tính và phong cách văn chương (thơ ca) Nguyễn Công Trứ.

  • Thảo luận: Vấn đề “văn bản nhật dụng” trong Chương trình Ngữ văn Trung học

    “Văn bản nhật dụng” là một vấn đề mới trong Chương trình Ngữ văn Trung học. Bài viết này tập trung trao đổi với các tác giả sách giáo khoa Ngữ Văn 12 về cách đặt vấn đề “văn bản nhật dụng” và cách diễn giải của nhà làm sách về vấn đề gọi là “văn bản nhật dụng”.

  • Về cách đặt vấn đề “văn bản nhật dụng” trong chương trình dạy học Ngữ văn THCS

    Nội dung cập nhật-thời sự, đề cập vấn đề bức thiết có thể được nhấn mạnh thích đáng khi học kiểu văn bản nghị luận hay tác phẩm văn học chính luận là phù hợp với thực tiễn tạo lập văn bản. Không cần đề xuất cái gọi là “VBND” gây rối rắm trong nhận thức hệ thống và lúng túng trong thao tác nhận diện văn bản

  • Phác thảo chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực

    Bài viết phác thảo những nét lớn của một chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực. Đây có thể là phương án thích hợp cho chương trình Ngữ văn của Việt Nam sau năm 2015. Bản phác thảo này đề xuất đổi mới căn bản và toàn diện chương trình: từ quan niệm về đặc trưng môn học đến mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập. Đó phải là một chương trình tích hợp triệt để, lấy học sinh làm trung tâm và chú trọng giúp học sinh phát triển các kỹ năng giao tiếp theo hệ thống các chuẩn cần đạt thay cho việc cung cấp nhiều kiến thức cho người học.

Recent Articles

Bài ca ngất ngưởng: Từ văn bản đến hướng tiếp cận

Nói đến thơ hát nói Nguyễn Công Trứ, người ta lại không thể không nhắc đến Bài ca ngất ngưởng. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho cá tính và phong cách văn chương (thơ ca) Nguyễn Công Trứ.

Thảo luận: Vấn đề “văn bản nhật dụng” trong Chương trình Ngữ văn Trung học

“Văn bản nhật dụng” là một vấn đề mới trong Chương trình Ngữ văn Trung học. Bài viết này tập trung trao đổi với các tác giả sách giáo khoa Ngữ Văn 12 về cách đặt vấn đề “văn bản nhật dụng” và cách diễn giải của nhà làm sách về vấn đề gọi là “văn bản nhật dụng”.

Về cách đặt vấn đề “văn bản nhật dụng” trong chương trình dạy học Ngữ văn THCS

Nội dung cập nhật-thời sự, đề cập vấn đề bức thiết có thể được nhấn mạnh thích đáng khi học kiểu văn bản nghị luận hay tác phẩm văn học chính luận là phù hợp với thực tiễn tạo lập văn bản. Không cần đề xuất cái gọi là “VBND” gây rối rắm trong nhận thức hệ thống và lúng túng trong thao tác nhận diện văn bản