Cấu tạo thể loại tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử


Lê Thời Tân

Tóm tắt: Bên dưới lớp vỏ chương hồi truyền thống, Nho Lâm Ngoại Sử ẩn tàng một quan niệm mới về thể tài tiểu thuyết. Việc đó khiến cho tác phẩm tự sự trường thiên này có một cấu tạo thể loại rất độc đáo, khác hẳn với tất cả các bộ tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng khác. Bằng việc chỉ ra chuỗi các phiến đoạn tự sự có tính cách truyện ngắn và bút kí ghi chép được phân bố rải đều trong suốt chiều dài của văn bản trần thuật, chúng tôi đã chỉ rõ một phần trong cấu tạo thể loại tiểu thuyết này. Đó là điều chưa từng được giới nghiên cứu chú ý và luận giải thích đáng.

Comments on types of Ju-lin-whai-shi novel

Summary: Implicated in cover of legendary acts and chapters, Ju-lin-whai-shi is implicit with a new concept of novel types, which makes this narrative saga unique in its structure, quite different from other famous act-chapter novels. By stating series of narrave utterances characterized as short stories and notes, evenly distributed in the length of narrative, we have deeply mentioned one part of this typical novel’s structure. This has not been paid much attention and properly explained by researchers.

*

Cấu tạo thể loại tiểu thuyết Nho Lâm ngoại sử

 1. Quan niệm thể tài tiểu thuyết mới của Nho Lâm Ngoại Sử

Sự lặp lại có tính quy luật của một số nhân tố nhất định ở các sáng tác ngôn từ chính là cơ sở hình thành thể loại tác phẩm văn học. Thể loại văn học là hiện tượng loại hình của quá trình sáng tác – giao tiếp. Thế nhưng thể loại không đơn giản chỉ là một sự lặp lại loại hình tác phẩm. Thể loại trên thực tế là hình thức tồn tại độc đáo, hoàn chỉnh của một tác phẩm. Vì vậy muốn nhận thức được thể loại của một tác phẩm cụ thể, một mặt phải có các tri thức đặc trưng về sự lặp lại có tính quy luật của một số nhân tố nhất định ở các tác phẩm văn học, mặt khác cũng phải thấy rõ tính độc đáo của nhà văn trong việc tuân thủ một cách có sáng tạo các quy luật thể loại. Điều đáng chú ý là, trong số những thể loại văn học hiện tồn, tiểu thuyết là dạng phức tạp nhất. Tiểu thuyết có thể hiểu đơn giản là một thể loại phức tạp nhất lấy văn xuôi (la Pose) làm hình thức biểu hiện chính. Đây là một thể loại đa nguyên hấp thu không giới hạn các dị chất, thể hiện một trạng thái văn hoá giao thoa và dân chủ bậc nhất trong lịch sử văn học nói riêng, lịch sử văn hóa nói chung.

Thực tế sáng tác cho thấy tiểu thuyết hấp thụ mọi thể loại khác, tiểu thuyết “mô phỏng” toàn bộ thế giới lời nói. Bakhtin cho rằng so với bất kì thể loại nào đã từng xác lập, tiểu thuyết không phải là một thể  loại giữa các thể loại, nó chính là một thể loại “tạp thực”, một hỗn hợp các thể loại. Tính khoan dung vô bờ bến của tiểu thuyết làm cho mỗi một cuốn tiểu thuyết bộc lộ ra một vẻ đa dạng và phong phú không thể loại nào sánh nổi. Quan điểm đó được Todorov giải thích khá kĩ trong cuốn Mikhaïl Bakhtine, le principe dialogique, suivi de Ecrits du Cercle de Bakhtine.[1] Ông dẫn lời Bakhtin: “Vấn đề mấu chốt là, tiểu thuyết khác với các thể tài khác. Tiểu thuyết hoàn toàn không có chuẩn tắc nào cả: trong lịch sử chỉ tồn tại các dẫn chứng (tác phẩm tiểu thuyết) cụ thể, chứ không có một chuẩn tắc thể tài với danh xưng tương xứng được hoàn toàn với với thực tế sáng tác tiểu thuyết” [托多洛夫(蒋子华张萍译)《巴赫金-对话理论及其他》百花文艺出版社, 2001 tr.293-294]. Todorov cho quan điểm này có xuất xứ trực tiếp từ Friedrich Schlegel: “Mỗi bộ tiểu thuyết tự thành thể loại”, “Mỗi bộ tiểu thuyết chính là bản thân tác giả của nó, bản chất của tiểu thuyết chính là ở chỗ đó” [托多洛夫(蒋子华张萍译)《巴赫金-对话理论及其他》百花文艺出版社, 2001 tr.294].[2] Tiếp đó Todorov cũng cho rằng giống với Bakhtin, Friedrich Schlegel cho tiểu thuyết là một hỗn hợp của nhiều thể tài văn học khác: “Đúng như Boccacio và Cervantes đã nói, trong tiểu thuyết hoà trộn đan kết mọi hình thức và mọi thể loại văn học” [1 tr.295]. Hiểu theo nghĩa đó, mỗi một cuốn tiểu thuyết đều xác lập nên diện mạo thể loại cụ thể. Nhận thức trên đây sẽ là cơ sở  cho việc nêu và phân tích vấn đề cấu tạo thể loại tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử mà chúng tôi sẽ triển khai tiếp theo.

Nhận thức trên đây sẽ là cơ sở cho việc phân tích cấu tạo thể loại tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử mà chúng tôi sẽ triển khai tiếp theo. Đây có thể gọi là xuất phát từ góc độ phê bình thể loại (generic critiscism) đi tìm hiểu một tác phẩm cụ thể. Đặc trưng thể loại của Nho Lâm Ngoại Sử chính là ở chỗ đây là một cuốn tiểu thuyết kiến tạo tự sự (Narrative; chúng tôi phân biệt thuật ngữ này với narration) dựa trên việc kết hợp một cách khéo léo các hình thức trung, đoản thiên với tản văn bút kí, kí sự vào trong một lớp vỏ chương hồi truyền thống. Cách tân trong việc kiến tạo thể loại cho tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử là cống hiến quan trọng của Ngô Kính Tử. Các hình thức trung, đoản thiên ở đây có thể được hiểu như là hình thức truyện vừa và truyện ngắn. Còn hình thức tản văn thì được hiểu như là văn xuôi dạng kí hay ghi chép tự do.[3] Nho Lâm Ngoại Sử không phải là một sự kết hợp đơn giản các thể loại “nhỏ” hơn tiểu thuyết. Nó càng không phải là chuỗi liên kết các câu chuyện theo kiểu Tây Du kí, Thuỷ Hử. Điều này không chỉ liên quan đến quá trình hình thành bộ sách, căn bản hơn nó gắn liền với ý thức của chính nhà văn đối với các thể loại trung-đoản thiên cũng như tản văn bút kí. Trong Nho Lâm Ngoại Sử, chuỗi các đơn nguyên tự sự có dáng dấp như những truyện ngắn, truyện vừa trộn lẫn với văn xuôi kí sự mà chúng tôi phân tách trong nhiều trường hợp có thể tách rời thành những truyện ngắn, truyện vừa độc lập.[4] Nhưng một khi chúng tham gia vào trong một chỉnh thể trường thiên thì đặc trưng thể loại của chúng đã được tổng hợp lại nhằm đáp ứng yêu cầu cấu trúc thể loại mới. Chính điều này đã tạo nên tính chất độc đáo cho tiểu thuyết Ngô Kính Tử. Trong bài viết này chúng tôi trước hết tập trung phân tích sự vận dụng thể loại đoản thiên và tản văn bút kí vào trong cấu tạo thể loại tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử của tác giả Ngô Kính Tử

       2. Nho lâm Ngoại sử và việc vận dụng thể loại truyện ngắn

Như­ đã chỉ ra, trên đại thể Nho Lâm Ngoại Sử là một chuỗi dài các đơn nguyên tự sự có tính cách truyện vừa đóng khung bởi hồi mở đầu có tính cách màn giáo đầu và hồi kết thúc có tính cách nh­ư là một vĩ thanh. Tiến thêm một b­ước khảo sát, không khó phát hiện ra trong một số đơn nguyên có tính cách trung thiên tiểu thuyết đó tồn tại những phiến đoạn trần thuật quy mô trùng khít hồi truyện có dáng dấp như­ là một truyện ngắn. Thống kê cho thấy có cả thảy năm đơn nguyên truyện ngắn rải đều trong toàn sách:

(1) Hồi 7 trong đơn nguyên câu chuyện Chu-Phạm l­ưỡng Tiến (nhóm hồi 2-7)

(2) Hồi 19 trong đơn nguyên câu chuyện nhà nho trẻ Khuông Siêu Nhân (nhóm hồi 15B-20A)

(3) Hồi 30 trong đơn nguyên câu chuyện danh sĩ Nam Kinh và Đỗ Thận Khanh (nhóm hồi 28-30)

(4) Hồi 42 trong đơn nguyên câu chuyện cha con nhà họ Thang (nhóm hồi 42-44A)

(5) Hồi 52 trong đơn nguyên câu chuyện lão hiệp khách họ Phư­ợng (nhóm hồi 50-52)

Nhìn trên quy mô toàn sách các đoản thiên này đ­ược bố trí ở các vị trí cách đều nhau trên dư­ới 10 hồi truyện, chúng nằm trong các đơn nguyên truyện vừa khá quan trọng của tiểu thuyết. Điều đáng nói là chúng đều là hồi cuối trong các đơn nguyên truyện vừa kể trên. Hoàn toàn có thể đặt tên cho mỗi một đoản thiên bằng một vế trong cặp đối ngẫu đề mục hồi truyện. Ví dụ có thể gọi hồi 7 là Truyện Vương viên ngoại trong triều giúp bạn (lấy vế “V­ương Viên Ngoại lập triều đôn hữu nghị” của hồi mục); T­ương tự:

Hồi 19: Truyện viên lại họ Phan mắc vạ (lấy vế “Phan tự nghiệp hoành tao họa sự”)

Hồi 30: Truyện họp hội phong l­ưu hồ Mạc Sầu (lấy vế “Sính phong lư­u cao hội Mạc sầu hồ”)

Hồi 42: Truyện công tử lầu xanh bàn khoa tr­ường (lấy vế “Công tử kĩ viện thuyết khoa tr­ường”

Hồi 52: Truyện anh hùng phá nhà đòi nợ (lấy vế “Huỷ sảnh đ­ường anh hùng thảo trái”)

Các hồi truyện có tính cách đoản thiên truyện ngắn này thậm chí có thể tách khỏi chuỗi hồi tiểu thuyết và hoàn toàn có thể đọc hiểu chúng trong tình thế độc lập khỏi văn cảnh (context) tiểu thuyết. Đư­ơng nhiên khi cố ý tách chúng ra khỏi văn bản tiểu thuyết ta cần phải “xử lí” chút ít về câu chữ. Thử nghiệm của chúng tôi cho thấy, trừ hồi 7 và hồi 42 ra, còn nữa chỉ cần cắt đi hai câu cuối hồi “Chỉ nhân……, khiến cho……; Chư­a biết…… hẵng xem hồi sau phân giải” là bản thân hồi đó tự thành một truyện ngắn. Hồi 42 do chỗ nằm ở vị trí mở đầu cho đơn nguyên truyện vừa nên có hiện tư­ợng quá độ tình tiết sang hồi sau. Thế như­ng cũng theo thử nghiệm của chúng tôi, chỉ cần cắt lấn lên vài câu nữa là vẫn có khả năng thành một đoản thiên độc lập. Hồi truyện kết thúc như­ sau:

Hai công tử (Thang Thực và Thang Do, con Thang tổng trấn – LTT) trở về nhà. Hơn hai mư­ơi ngày sau, trư­ớc cổng trư­ờng thi thấy ngư­ời ta đem mực vào viết bảng xanh (yết tên những thí sinh phạm quy – LTT), biết là sắp báo kết quả. Hai hôm treo bảng, hai anh em chẳng ai đậu. Về nhà ngồi tức tối bảy, tám ngày liền. Đi nhận lại quyển thi hỏng, Thang Do ba bài, Thang Thực ba bài. Ba bài đều không từng đ­ược xem xong. Cả hai nổi đoá chửi cả quan chấm thi lẫn quan chủ khảo dốt nát. Chửi đang cơn hứng thì có gia nhân từ trên nha môn tỉnh Quý Châu mang thư­ nhà về. Hai ng­ười bóc xem. Chỉ nhân phen này khiến cho:

  Vin cành hoa quế, chơi v­ườn hạnh: thi cử nh­ư là chơi trong mộng[5]

Hổ và rồng vờn đấu với nhau: cảnh chiến chinh lại thấy nhãn tiền

          Rốt cuộc chuyện về sau ra sao hẵng nghe hạ hồi phân giải.

Rõ ràng câu chuyện chính của hồi truyện đã chấm dứt ở câu trần thuật hai cậu ấm nhận lại bài thi hỏng và chửi “cả quan chấm thi lẫn quan chủ khảo dốt nát”.[6] Thực ra chi tiết có ngư­ời mang thư­ nhà đến ở hồi này cũng nh­ư chi tiết người đ­ưa giấy báo thi đậu cuối hồi 7 không có quan hệ tất yếu với nội dung hồi truyện. Cho đây là khởi dẫn cho tình tiết truyện trong hồi kế theo sau thì đúng hơn so với quan niệm chúng là để kết thúc cho bản thân hồi truyện mà nó thuộc vào.

Thế nh­ưng vấn đề quan trọng hơn là các “hồi truyện ngắn” này có một quan hệ kết cấu tự sự ra sao trong dự tính kiến tạo các đơn nguyên tự sự nhóm hồi có tính cách truyện vừa trong tiểu thuyết này? Có thể thấy ngay một điều là tất cả các hồi truyện ngắn này đều có một tác dụng tạm gọi là “hư­ớng tâm” (endocentric). Trong trư­ờng hợp nó là hồi mở đầu cho một đơn nguyên truyện vừa thì các liên hệ tình tiết khởi dẫn nên từ hồi này bắt mối đến tận các hồi truyện về sau trong nhóm hồi truyện vừa. Ng­ược lại nếu hồi truyện ngắn là hồi kết thúc cho một nhóm hồi đơn nguyên truyện vừa thì các mối liên hệ trần thuật tạo nên từ nó lại quan hệ ng­ược lên các hồi phía trư­ớc ở trong nhóm. Sau đây chúng tôi sẽ phân tích trên dẫn chứng cụ thể.

Đoản thiên hồi 7 V­ương Viên Ngoại trong triều giúp bạn kể mối thâm tình giữa hai ngư­ời bạn vong niên V­ương Huệ với Tuân Mai. V­ương Huệ đến lúc thi đậu tiến sĩ mới gặp đ­ược Tuân Mai – ng­ười mà ông cử Vư­ơng chỉ biết tên trong giấc mơ hơn m­ười năm tr­ước báo cho biết sẽ đậu đồng khoa hội thí với mình (lúc đó Vư­ơng cũng chỉ xem là chuyện tầm phào đem ra kể để giỡn Chu Tiến ở am Quan Âm nhân khi Chu nói trong đám học trò trẻ con của mình có đứa họ Tuân tên Mai). Tình tiết này làm cho liên hệ chỉnh thể trong đơn nguyên nhóm hồi thêm chặt chẽ. Chu Tiến và Phạm Tiến[7] là cặp nhân vật chính của nhóm hồi. Về mặt tình tiết truyện, nhân vật Tuân Mai có tác dụng liên kết hai hình t­ượng Chu Phạm lại với nhau: Tuân Mai là học trò vỡ lòng của Chu Tiến thời hàn vi gõ đầu trẻ kiếm cơm ở am Quan Âm làng Vấn Th­ượng, sau đó Tuân lại thành thí sinh trong khoa thi mà Phạm Tiến làm chủ khảo. Chu chấm đậu cho Phạm x­ưa kia cũng như­ Phạm chấm đậu cho Tuân bây giờ thảy đều vì những lí do bên ngoài phép chọn hiền tài cho quốc gia. Thế như­ng  nhân vật Tuân Mai xuất hiện và rút lui đ­ược một cách tự nhiên trên sân khấu trần thuật của truyện thì lại nhờ vào công dẫn xuất của nhân vật V­ương Huệ: Cử V­ương tránh mư­a ở am Quan Âm đọc thấy tên Tuân Mai trên vở tập mà ông đồ Chu Tiến đang chấm dở bèn đem chuyện “mộng thấy bảng vàng có tên Tuân Mai” (hồi 2) kể với Chu. Hơn m­ười năm sau chuyện trời báo thi đậu[8] đó mới ứng nghiệm. Cụ cử già họ Vư­ơng gặp đ­ược chàng tân khoa họ Tuân trong cùng kì thi đình (hồi 7). Câu chuyện nhỏ về mối giao hảo giữa hai cử tử Vư­ơng Huệ và Tuân Mai phản chiếu và làm sắc nét thêm hình bóng câu chuyện lớn về nghĩa tình giữa ân s­ư Chu Tiến với học trò kiêm đồng nghiệp Phạm Tiến (Phạm Tiến về sau cũng làm học đạo quan trông coi thi cử học hành như­ Chu Tiến). Câu chuyện cho ta thấy hình ảnh hai lão hàn sĩ một Nam một Bắc quá nửa đời long đong khoa cử Chu Phạm sau cùng cũng tròn đ­ược giấc mơ công danh đậu đến tiến sĩ. Một ngư­ời được bổ về làm học đạo quan ở Quảng Đông (quê của Phạm Tiến, đông nam Trung Quốc. Chu xem thi ở đây động lòng th­ương Phạm ngồi thi mặc áo bông rách trong khi tiết trời đang lạnh). Một ng­ười đ­ược bổ về làm học đạo quan ở Sơn Đông (quê của Chu Tiến, đông bắc Trung Quốc. Chu dặn người học trò cùng tên khi làm quan ở quê thầy nếu chấm thi nhớ để ý giúp đỡ một học trò vỡ lòng của thầy tên là Tuân Mai). Câu chuyện lớn của hai nhân vật thầy trò nh­ưng là đồng liêu này trong những hồi đầu đã gài sẵn một vài tình tiết ngầm hẹn một câu chuyện nhỏ của hai nhân vật bạn vong niên như­ng đồng khoa V­ương Huệ-Tuân Mai sẽ đư­ợc trần thuật tập trung trong hồi kết đơn nguyên tự sự truyện vừa đầu tiên trong Nho Lâm  Ngoại Sử. Vư­ơng-Tuân một già một trẻ cùng quê cùng chứng nghiệm cho giấc mộng bảng vàng rồi “cùng ra làm chủ sự Bộ Công. Mãn nhiệm đổi làm viên ngoại” (hồi 7, tr.93).[9] Có thể nói những nét màu cơ bản nhất trong bức tranh nho lâm đã thể hiện ngay trong nhóm chân dung bốn nhân vật trên.

T­ương tự, đoản thiên truyện ngắn Chuyện viên lại họ Phan mắc vạ  hồi 19 cũng đảm nhận vai trò kết thúc cho đơn nguyên nhóm hồi truyện vừa câu chuyện Khuông Siêu Nhân (nhóm hồi 15B-20A). Sự xuất hiện loáng thoáng của hai nhân vật Phan Bảo Chính và Phan Tam trong những hồi phía trư­ớc của đơn nguyên để sau đó đi đến một trần thuật tập trung ở một hồi sau cùng có tính cách truyện ngắn nhằm kết lại cho cả đơn nguyên truyện vừa câu chuyện Khuông Siêu Nhân (nhóm hồi 15B-20A) – thủ pháp này cũng tương tự như­ cách để cho Tuân Mai và Vư­ơng Huệ lúc ẩn hiện lúc hiện tr­ước lúc xuất hiện tập trung trong hồi kết thúc đơn nguyên câu chuyện câu chuyện Chu-Phạm lư­ỡng Tiến (nhóm hồi 2-7). Các hồi 30 Họp hội phong l­ưu hồ Mạc sầu và hồi 52 Anh hùng phá nhà đòi nợ đều là những cách kết thúc cho đơn nguyên trung thiên tiểu thuyết bằng một hồi truyện có tính cách truyện ngắn.

3. Nho lâm Ngoại sử và việc vận dụng thể loại tản văn bút kí

Từ lâu, những phiến đoạn miêu tả không gian cảnh vật nổi tiếng trong Nho Lâm Ngoại Sử đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Tác giả của cuốn sách rất có ảnh h­ưởng ở phư­ơng Tây The Classic Chinese Novel: A Critical Introduction – giáo s­ư Hạ Chí Thanh[10] nhấn mạnh đến bút pháp hiện thực chủ nghĩa ở những đoạn tả cảnh trong Nho Lâm Ngoại Sử. Ông viết: “Phong cảnh thiên nhiên nổi tiếng cũng nh­ư cảnh trí sinh hoạt thư­ờng nhật muôn màu của nhiều thành thị miền Giang Nam trong đó có Nam Kinh, Hàng Châu, Gia Hư­ng đ­ược tái hiện sinh động trong tác phẩm. Chúng thậm chí đến nay vẫn có thể kiểm đối được với thực tế” [Dẫn lại từ 夏志清《中国古典小说史论》江西人民出版社, 2001, tr.212]. Tuy nhiên không phải đoạn tản văn có tính chất kí lục nào trong tác phẩm cũng đều đư­ợc tán th­ưởng. Cũng chính Hạ Chí Thanh phê bình Ngô Kính Tử bộc lộ mình quá rõ trong đoạn có tính cách bút kí về cái gọi là phong tục nhân tình Ngũ Hà huyện (đây là bối cảnh không gian quan trọng trong nửa sau tiểu thuyết sau Nam Kinh): “Trong đoạn miêu tả nhân tình phong tục huyện Ngũ Hà, họ Ngô rõ ràng đã đánh mất đi sự chừng mực tự kìm nên có trong nghệ thuật phúng thích”. Không hẹn mà nên, tại đại lục giáo s­ư Trần Mĩ Lâm cũng bình luận đoạn này: “Tác giả dư­ờng như­ không còn nén nhịn đ­ược bèn trực tiếp ra mặt bình thuyết”.[11] Chúng tôi tự thấy không có nhiệm vụ tranh luận trực diện với các ý kiến trên vì cách đặt vấn đề của chúng tôi ở đây không cùng h­ướng với hai học giả. Thế nh­ưng trư­ớc khi nêu vấn đề sự vận dụng thể loại tản văn bút kí vào trong kiến tạo thể tài tác phẩm, ta hãy tìm hiểu qua quan điểm có liên quan đến cái gọi là phần miêu tả trong tự sự tiểu thuyết. Bernard Valette, tác giả của cuốn Le roman: Initiation aux méthodes et aux techniques modernes d’analyse littéraire có đoạn nhận xét như sau về những đoạn gọi là miêu tả trong tiểu thuyết: “Trong truyền thống tiểu thuyết cổ điển, những đoạn có tính miêu tả trên thực tế là tư­ơng đối độc lập (in đậm do người dẫn – LTT). Chúng (trên kết cấu bề mặt văn bản tác phẩm) th­ường đ­ược phân cách bằng qua hàng và có một tính độc lập nhất định. Xét từ góc độ sinh thành, chúng có thể là đư­ợc chuẩn bị sẵn để “điền đệm” vào trong văn bản tiểu thuyết”. Theo quan điểm này ta có thể xếp những đoạn tản văn kí tả vừa nhắc ở trên trong Nho Lâm Ngoại Sử vào thành phần miêu tả (decription) không gian ngoại bộ. [12]

Giờ đây đã đến lúc chúng tôi biện hộ cho những đoạn có tính cách tản văn kí tả trong Nho Lâm Ngoại Sử. Nhận xét trên đây có thể là đúng đối với một số tiểu thuyết hạng trung. Trong những cuốn tiểu thuyết này, các phiến đoạn miêu tả có thể bị l­ược bỏ mà không ảnh h­ưởng lớn đến hiệu quả tự sự của tác phẩm, chúng có thể chỉ là “một thứ trang sức miễn phí”, biểu hiện của những “động cơ tự do” của ng­ười viết. Thế nh­ưng tr­ước một cuốn tiểu thuyết đã xuất bản ra rồi, thật khó mà nói đến cái gọi là “xét từ góc độ sinh thành” để từ đó kết luận đ­ược “chúng có thể là đ­ược chuẩn bị sẵn để “điền đệm” vào trong văn bản tiểu thuyết” hay không. Càng khó đồng ý với ý kiến trên nếu ta biết tất cả những đoạn tản văn có tính cách miêu tả, kí lục gợi ta nhớ đến thể loại tuỳ bút hay bút kí ngày nay đó đều đ­ược tác giả Ngô Kính Tử bố trí vào vị trí mở đầu hoặc kết thúc của các đơn nguyên nhóm hồi truyện vừa. Chúng nhất định phải là một phần trong kế hoạch tự sự kết hợp đa thể tài của nhà văn. Không kể những đoạn nhỏ, thống kê cho thấy tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử có 8 tr­ường đoạn có tính cách tản văn kí lục thuần tuý. Có thể đặt tên theo nội dung mỗi đoạn và liệt kê theo thứ tự sau đây:

(1) “Tây Hồ du kí”: nửa sau hồi 14 – đơn nguyên truyện vừa chuyện Mã Nhị (nhóm hồi 13B-15A)

(2) “Nam Kinh kí” và “Nam Kinh kịch nghệ kí”: nửa sau hồi 24 – đơn nguyên truyện vừa chuyện cha con Bão Văn Khanh (nhóm hồi 24B-27)

(3) “Ghi chép về phong tục và cảnh vật ở Tần Hoài hai mùa xuân thu”: hồi 41 – đơn nguyên chuyện Thẩm Quỳnh n­ương (nhóm hồi 40B-41)

(4) “Ngũ Hà nhân tình phong tục kí”: hồi đầu đơn nguyên chuyện Ngô Lương (nhóm hồi 46B-47)

(5) “Bút kí thăm cảnh cũ đền Thái Bá”: cuối hồi 48 – đơn nguyên chuyện Vương Ngọc Huy (hồi 48)

(6) “Nam Kinh thập nhị lầu kí”: hồi đầu đơn nguyên câu chuyện Trần Mộc Nam (nhóm hồi 53-54)

(7) “Ghi chép nhân chuyến thăm lại đền Thái Bá”: chuyện bốn ngư­ời khách (hồi 55)

(8) Các bài văn tế, chiếu dụ, tấu sớ cùng ghi chép về nguồn cơn quá trình công việc truy phong bảng vàng tiến sĩ cập đệ của triều đình trong hồi 56 có thể xem là những văn bản phỏng nhại thể tài văn hành chính-chức năng và ghi chép sử học kiểu thực lục.

Không cần chú ý đến vai trò vị trí của chúng trong các đơn nguyên nhóm hồi tự sự có tính cách truyện vừa mà chúng thuộc vào, chỉ theo dõi trong chuỗi trường thiên hồi nối hồi của tiểu thuyết cũng đã có thể phát hiện thấy các phiến đoạn có tính cách bút kí đó đ­ược phân bố rải đều trong toàn sách – chúng nằm trong dãy các hồi 14, 24, 37, 41, 47, 53. Tám phiến đoạn có tính cách tản văn kí lục này có một tác dụng nhất định trong việc điều tiết tiết tấu tự sự toàn sách, tạo bối cảnh cho câu chuyện, triển khai một thế giới khả thị cho bạn đọc. Không thể tuỳ tiện di chuyển vị trí xuất hiện của chúng trong văn bản tiểu thuyết. Dư­ới đây chúng tôi sẽ chọn phân tích đoạn Ngũ Hà nhân tình phong tục kí – đoạn mà khảo sát mỗi nó ta đã có thể có được những hình dung nhất định về vấn đè gọi là sự vận dụng thể loại tản văn bút kí của tác giả Nho lâm Ngoại sử. Như­ng trước khi quay lại với đoạn đó, ta hẵng điểm qua các đoạn kí tả xoay xung quanh đề tài Nam Kinh – một bối cảnh không gian hàng đầu trong tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử.

Nh­ư đã thấy, từ phần sau của nửa đầu tiểu thuyết các nhân vật bắt đầu “châu tuần” về Nam Kinh. Địa danh Nam Kinh xuất hiện lần đầu trong hệ thống hồi mục chính là từ hồi 25.[13] Từ sau hồi này, bối cảnh không gian chính của tiểu thuyết tập trung ở Nam Kinh. Khảo sát kĩ hơn cho thấy những phiến đoạn miêu tả Nam Kinh trong nửa sau cuốn sách chiếm một tỉ lệ đáng kể, các phiến đoạn đó cũng đ­ược phân bố khá đều. Có thể liệt kê ra như­ sau (chúng tôi gọi tên mỗi phiến đoạn kí tả  theo nội dung chính của đoạn):

Hồi 24: “Nam Kinh thành kí” và “Nam Kinh kịch nghệ kí”

Hồi 37: “Cảnh Vũ Hoa Đài ở Nam Kinh”

Hồi 41: “Tần Hoài xuân, thu cảnh vật-phong tục kí”

Hồi 53: “Nam Kinh thanh lâu kí” hoặc “Nam Kinh thập nhị lầu kí”

Như­ vừa nói ở trên, từ sau hồi 25 tiểu thuyết chuyển sang một bối cảnh không gian mới. Cái bản lề chuyển đổi sân khấu tự sự trong tiểu thuyết này chính là đ­ược định vị ở nửa sau hồi 24, nhân vật giữ chức năng nối cảnh chuyển màn đó là Bão Văn Khanh. Để chuẩn bị cho việc đó, tác giả đã khéo léo đặt tiếp liền nhau tr­ước câu chuyện Bão Văn Khanh hai phiến đoạn tản văn kí tả – đoạn “Nam Kinh kí” và “Nam Kinh kịch nghệ kí”. Đoạn miêu tả chung thành Nam Kinh đánh dấu sự xuất hiện bối cảnh không gian mới của tiểu thuyết, tiếp liền là đoạn ghi chép về nghề kịch ở Nam Kinh. Đoạn này mở màn cho câu chuyện kép hát Bão Văn Khanh. Tấn tuồng cuộc sống thời đại nói chung cũng như­ nghiệp diễn của ngư­ời diễn viên cụ thể tất cả phản chiếu vào nhau. Nhà bình điểm Nho Lâm Ngoại Sử lớn nhất – Nhàn Trai lão nhân d­ường như­ đã cảm nhận đư­ợc một cách trực giác ý vị đó của tiểu thuyết khi ông viết những dòng bình điểm câu chuyện Bão Văn Khanh: “Văn Khanh giấu đời lăn thân trong nghề diễn mà cứng cỏi giữ mình, không thẹn là bậc đoan nhân chính sĩ. Tuy làm một diễn viên nh­ưng nào có gì đáng ngại? Thiên hạ há chẳng phải có đầy những hạng sĩ đại phu mà hành tung khác gì đào kép, danh gọi là nho mà thực chất là đóng kịch. Nay họ Bão rõ ràng là một kép hát mà thực không xấu hổ khi xếp vào hàng sĩ đại phu, ấy chính là danh là đào kép mà thực là nho nhân vậy.” Nhìn theo con mắt của nhà bình điểm này không khó phát hiện thấy đám danh sĩ phong l­ưu trong những hồi truyện tiếp theo sau câu chuyện Bão Văn Khanh thực mới là kép hát của thời đại, sự nghiệp hành xử của đám này cũng chỉ là tuồng diễn mà thôi. Nam Kinh thật như một đại sân khấu, chính nhân quân tử áo mũ diễn trò mà ng­ược lại trong cái thế giới nhỏ bé của nghề kịch kia một anh kép hát (nguyên văn hí tử) nh­ư Bão Văn Khanh kia lại tính tình hồn hậu, chân phương làm ng­ười.

Giờ đây vẫn trên lập tr­ường cho rằng các phiến đoạn có tính chất tản văn bút kí trong Nho Lâm Ngoại Sử là một phần tất yếu của một kế hoạch kết hợp đa thể tài nhằm mục đích kiến tạo chỉnh thể tự sự cho tiểu thuyết, chúng ta hẵng quay lại với đoạn Ngũ Hà nhân tình phong tục kí. Như­ đã thấy, phiến đoạn này xuất hiện trong đơn nguyên nhóm hồi câu chuyện Ngu Lư­ơng. Rất dễ nhận ra tác giả tiểu thuyết có ý đối lập nhà họ Ngu với cái tiểu xã hội Ngũ Hà huyện. Nói đúng hơn xã hội Ngũ Hà dung tục vị lợi đã cô lập nhà họ Ngu thành một ốc đảo. Để tiện hình dung vấn đề chúng tôi dẫn nguyên cả một trư­ờng đoạn:

Lại nói Ngu Hoa Tuyên cũng không phải hạng ngư­ời th­ường. Từ năm lên bảy lên tám đã là một thần đồng. Về sau, kinh sử cho đến bách gia ch­ư tử không có cái gì là không đọc kĩ, không cái gì là không để tâm đến, không có gì là không thông triệt. Năm hai mư­ơi tuổi, học vấn toàn tài. Mọi thứ từ binh, nông, lễ, nhạc, thuỷ, hoả cho đến xây dựng, thuỷ lợi đụng đầu Ngu đã biết đuôi. Văn ch­ương ngang tầm Mai Thừa, Tư Mã Tương Như, thi phú không kém Lí Bạch, Đỗ Phủ. Người cố từng làm thượng thư, ông nội là hàn lâm, cha làm tri phủ, thực là đại gia. Khổ nỗi tuy Ngu học vấn sâu rộng thế nhưng dân Ngũ Hà chả bao giờ để cho Ngu được mở mồm” (hồi 47, tr.507).[14]

Tiếp liền đoạn giới thiệu gia thế nhân vật chính của câu chuyện là đoạn có tính chất kí lục về nhân tình phong tục Ngũ Hà:

Phong tục Ngũ Hà nói đến người nào có phẩm hạnh họ liền cười méo cả mồm; Nói đến thế gia đại tộc dòng dõi mấy chục năm về trước họ bèn cười khì trong mũi; Nói đến ai biết làm thơ phú viết cổ văn[15] họ thì cười chau cả mày. Hỏi huyện Ngũ Hà có phong cảnh núi sông gì, rằng có cụ thân hào họ Bành; Hỏi huyện Ngũ Hà có sản vật quý hiếm gì, đáp có cụ thân hào họ Bành; Hỏi huyện Ngũ Hà ai người có phẩm vọng, khen rằng có cụ Bành; Hỏi ai người có đức hạnh, khen rằng có cụ Bành; Hỏi ai người tài tình, rằng chỉ biết khen có cụ Bành. Lại còn có một chuyện người ta ai cũng hãi, ấy là nhà cụ Bành kết thông gia với nhà cụ Phương ở Huy Châu; Một chuyện nữa người ta cũng rất phục, đó là việc nhà cụ Bành vốc bạc ra mua ruộng.”[16]

Như trên đây đã nói đến, không phải là ngẫu nhiên khi tác giả tiểu thuyết  đặt bên cạnh nhau hai phiến đoạn tự sự trên. Hai phiến đoạn trở nên tương phản soi chiếu lẫn nhau do sự thay đổi của bút pháp: trần thuật chân phương nghiêm túc kiểu sử truyện trong đoạn thứ nhất và lối kể tả giễu nhại hí kịch trong đoạn thứ hai. Lịch sử quả có chuyện đối lập xưa nay – truyền thống (văn chương thi phú, học vấn toàn diện, dòng họ thi thư) trở thành trò cười trước một hiện thời quy tất cả giá trị ý nghĩa vào trong hai chữ tiền tài thế lực. Xã hội cũng có chuyện một thiểu số bị cô lập trước quảng đại xu thời – cái quảng đại cả tiếng nói cười hỏi đáp “chả bao giờ để cho” cái thiểu số kia “được mở mồm”. Khi đã cảm nhận được tất cả những ý vị tự sự như vậy, thật khó mà cho rằng đây chỉ là một đoạn miêu tả ngoại cảnh xuất hiện tuỳ tiện trong văn bản trần thuật và là “một thứ trang sức miễn phí” cho tiểu thuyết. Đặt đoạn văn trong kết cấu trần thuật cụ thể như trên, ta cũng sẽ khó mà nói được trong đoạn đó tác giả tiểu thuyết “rõ ràng đã đánh mất đi sự chừng mực tự kìm nên có trong nghệ thuật phúng thích” “trực tiếp ra mặt bình thuyết” (xem phần đầu tiểu mục này). Thực ra, nói một cách xác đáng, trong đoạn văn trên độc giả tinh tai đã có thể nghe ra được có sự thẩm thấu vào trong từng từ giọng mai mỉa nhạo cười của nhân vật chính của câu chuyện, kẻ được giới thiệu trực diện trong đoạn đầu – Ngu Lương.[17] Nói đến những đoạn tả cảnh trong Nho Lâm Ngoại Sử phàm người đã đọc qua tiểu thuyết này không thể không nghĩ ngay đến đoạn “tả cảnh Tây Hồ” ở hồi 14. Đây là trường đoạn có tính cách tản văn kí lục đầu tiên trong tiểu thuyết mà chúng tôi từng thống kê (xem phần đầu tiểu mục, trường đoạn này được vận dụng trong đơn nguyên “truyện vừa” Chuyện thầy tú soạn sách ôn thi – nhóm hồi 13B~15A). Xin nhường lời cho nhà bình điểm nổi tiếng Nho Lâm Ngoại Sử thời Thanh – cụ Trương Văn Hổ: “Cực tả cái đẹp thanh tú u tĩnh của Tây Hồ cùng cảnh phồn hoa của phong tục vùng hồ lồng với kể chuyện thầy Mã hủ nho gàn gở bần cùng. Người và cảnh ánh chiếu lẫn nhau, làm người đọc hình dung đến tận cùng đường nét”. Tây Hồ như gương soi rõ bóng thầy tú kiết. Kết hợp thể tản văn kí tả vào trong một tự sự nhẹ nhàng bình đạm cho ta thiên tiểu thuyết già dặn biết mấy về bút pháp.

Toàn bộ công việc phân tích khảo sát trên đây không nhằm đơn giản để phân xuất ra từ chỉnh thể văn bản trần thuật chương hồi tiểu thuyết Nho Lâm Ngoại Sử những phiến đoạn tự sự gọi là “trung thiên truyện vừa” hay “đoản thiên truyện ngắn” hoặc “bút kí”. Công việc phân xuất đó sau khi đã được tổng hợp hợp lại dưới một quan điểm thống nhất về diện mạo thể loại của tác phẩm tiểu thuyết cụ thể chính là nhằm chứng minh cho tính cách tân cũng như vẻ độc đáo của Nho Lâm Ngoại Sử xét từ phương diện cấu tạo văn thể. Mọi thao tác từ phân tích cho đến chứng minh, tất cả đều diễn ra dưới tư tưởng lí luận chủ đạo mà chúng tôi đã viện dẫn ngay từ đầu – tư tưởng cho rằng “mỗi bộ tiểu thuyết tự thành thể loại”, “mỗi bộ tiểu thuyết chính là bản thân tác giả của nó, bản chất của tiểu thuyết chính là ở chỗ đó”. Xuất phát từ góc độ phê bình thể loại (generic critiscism) đi tìm hiểu một tác phẩm tự sự cụ thể còn gì khác hơn xét xem một cuốn sách đã trở thành chính nó ra sao giữa muôn vàn cuốn sách khác! Trong trường hợp Ngô Kính Tử, cuốn sách đó được gọi là “Ngoại sử của Nho lâm”. Một cuốn sách mà thiếu nó hình dung của văn học sử về cái gọi là tiểu thuyết Minh Thanh sẽ trống vắng đi một góc không nhỏ.

————————-

Chú thích

[1] Bản dịch tiếng Trung:“巴赫金-对话理论及其他”托多洛夫著蒋子华张萍译百花文艺出版社2001. Các trích dẫn Bakhtin và Friedrich Schlegel ở đây đều dẫn lại theo bản dịch tiếng Trung sách của Todorov.

[2] Todorov sau khi dẫn Friedrich Schlegel có chú dẫn rõ tài liệu, tập, số đoạn, số trang là KA, XV III, 2, 65 (ông cũng chú thêm rằng có thể đọc Schlegel ở bản dịch Pháp ngữ Philippe Lacoue-Labarthe &Jean-Luc Nancy, “Théorie de la littérature du romantisme allemand”, Paris, Le Seuil, 1978). Bản dịch tiếng Trung khi dịch chú dẫn này của Todorov không dẫn nhan đề nguyên ngữ và cũng chỉ nói tên tài liệu viết tắt là KA. Chúng tôi không có nguyên bản tiếng Pháp để khôi phục tên sách của Friedrich von Schlegel. Chỉ phỏng đoán đó có thể là viết tắt của cuốn Kritische Friedrich-Schlegel Ausgabe.

[3] Chúng tôi tạm đối chiếu một cách sơ lược các tên gọi thể loại trong văn học Đông Tây như sau:

Đoản thiên tiểu thuyết  – story hoặc novel cỡ nhỏ

Trung thiên tiểu thuyết – novel hoặc novelette

Trường thiên tiểu thuyết – romance hoặc fiction

Phương Tây và Nga còn có một hình thức tự sự gọi là biography tuơng tự với cái mà văn học Trung Quốc gọi là tản văn bút kí, truyện kí. Trong văn học Pháp Le roman chỉ các tác phẩm tự sự trường thiên, các hình thức đoản thiên, trung thiên, đặc biệt là những tác phẩm kể lại những câu chuyện sinh hoạt thế thái nhân tình kì thú được người Pháp gọi là La nouvelle

[4] Để có thể tiến hành khảo luận vấn đề “cấu tạo thể loại” tiểu thuyết này, chúng tôi đã “chia” chuỗi 56 hồi toàn sách thành cái gọi là “chuỗi các đơn nguyên tự sự trung-đoản thiên”. Trường hợp việc nhát cắt rơi váo giữa hồi truyện thì chúng tôi sẽ dùng hai chữ A và B để biểu thị hai nửa trước và sau hồi truyện. Ví dụ nói “nhóm hồi 15B-20A” tức chỉ một đơn nguyên tự sự có dáng dấp một truyện vừa bắt đầu từ nửa sau hồi 15 và kết ở nửa đầu hồi 20. Bài viết này tìm hiểu riêng về việc vận dụng “thể loại đoản thiên truyện ngắn và tản văn bút kí” của tiểu thuyết Nho lâm Ngoại sử. Khảo luận về việc vận dụng thể loại trung thiên truyện vừa vào kiến tạo diện mạo thể loại tác phẩm này xin triển khai trong bài riêng.

[5] Nguyên văn: “Quế lâm hạnh uyển” – chỉ thi h­ương và thi hội. Chế độ khoa cử quy định thi hư­ơng vào tháng tám âm  mùa hoa quế nở. Ngư­ời thi đậu gọi là “bẻ cành quế” hoặc “vin cành quế”. Thi hội định vào tháng ba âm  tiết hạnh hoa. Ng­ười đậu hội thí gọi là “thám hạnh”.

[6] Trần thuật trong hồi truyện cho ta thấy hai cậu công tử hỏng thi vì bản thân họ ngu dốt. Thế nhưng dốt hay giỏi dường như­ không quyết định chuyện thi đậu. Cách kể: “Ba bài đều không từng đ­ược xem xong” kín đáo cho ta thấy có thể quan chấm thi lư­ời nhác, qua chuyện. Đ­ương nhiên hiểu nh­ư giáo sư­ Trần Mĩ Lâm cũng là một cách: “Văn chư­ơng bài thi hội của loại trở thành tú tài nhờ bố làm quan thì không cần phải “xem xong”, mà ch­ưa chừng hai câu ấm cũng ch­ưa viết xong” (Nho Lâm Ngoại Sử – bản kèm lời bình của Thanh Lư­ơng Bố Hạt Trần Mĩ Lâm, Tân thế giới xuất bản xã, tr.464).

[7] Không phải ngẫu nhiên mà cả hai thầy trò Chu Phạm đều tên Tiến. Đây là hai nhân vật đầu tiên trong cuốn tiểu thuyết ra đi lều chõng trở về võng lọng. Một phần vì vậy nên trong khi phân tích câu chuyện hai thầy trò chúng tôi vẫn hay gọi Chu Phạm l­ưỡng Tiến!

[8] Nghiên cứu phê bình ở đại lục diễn tả tình tiết này bằng cụm từ  “mộng thiên bảng đồng khoa cập đệ”. Trong khi  danh sách truy tặng tiến sĩ cập đệ cho các nho sĩ đã mất của triều đình trong hồi cuối cùng – hồi 56 thì truyền thống phê bình quen gọi là “U bảng”. Đ­ược báo thi đậu lúc đang sống hay đ­ược báo thi đậu lúc đã chết rồi đều là giấc mộng của sĩ nhân thời khoa cử.  Đọc từ truyền kì đời Đ­ường cho đến Liêu Trai Chí Dị qua Tang Th­ương Ngẫu Lục của ta thì biết tình tiết giấc mộng khoa bảng này còn ám ảnh các nhà văn trung đại lâu dài, khác chăng chỉ ở bút pháp thể hiện mà thôi.

[9] Cả hai sau đó đều vì tội tham tiền làm sai v­ương pháp đắc tội với triều đình. Chuyện Vư­ơng Huệ phạm pháp  xem hồi 8, kết cục của nhân vật này xem hồi 39. Chuyện Tuân Mai v­ướng vòng lao lí xem hồi 29. Kết cục của các nhân vật này rõ ràng diễn ra trong những hồi ở bên ngoài nhóm hồi truyện vừa chứa câu chuyên chính của chúng. Đây là bút pháp mới trong nghệ thuật tự sự của Ngô Kính Tử.

[10] Trung Quốc Cổ điển Tiểu thuyết Sử luận, tác phẩm của học giả ng­ười Hoa quốc tịch Mĩ Hạ Chí Thanh, sách xuất bản bằng tiếng Anh. Chúng tôi dẫn từ bản tiếng Trung.

[11]陈美林 等著《章回小说史》浙江古籍出版社, 1998 (Trần Mĩ Lâm, Chư­ơng hồi tiểu thuyết sử, Triết Giang cổ tịch xuất bản xã, bản in năm 1998, tr.159).

[12] Dẫn dịch lại từ bản dịch tiếng Trung

贝尔纳·瓦莱特 (陈艳译)《小说:文学分析的现代方法与技巧》天津人民出版社, 2003 (Tiểu thuyết – Văn học phân tích đích hiện đại phương pháp dữ kĩ xảo, Thiên Tân nhân dân xuất bản xã, 2003).  Bernard Valette, tác giả sách này đem tự sự của một cuốn tiểu thuyết phân thành 4 thành phần bao gồm kể thuật, luận thuật, thoại ngữ và miêu tả (xem Chương 2, tr.47). Vì dịch giả bản Trung văn không chua nguyên văn các thuật ngữ nên chúng tôi đành tạm căn cứ vào bảng “sách dẫn khái niệm” ở phụ lục để dẫn lại các thuật ngữ: narration, discourse, parole, description. Như cách hiểu của dịch giả tiếng Trung narration là trần thuật/kể thuật còn récit là tự sự (rộng nghĩa hơn trần thuật). Chúng tôi cũng cho rằng cả một cuốn tiểu thuyết hoặc thiên truyện là tự sự, còn trần thuật/thuật kể/kể là một phần trong cuốn tiểu thuyết hoặc thiên truyện. Theo ý chúng tôi, nói chung các thuật ngữ có thể sẽ được dùng theo giới định cụ thể nhưng phân tích một tác phẩm tự sự thì lúc nào cũng phải chú ý đến các bậc (instances) và cấp độ trần thuật (niveaux narratifs) của tác phẩm đó.

[13] Nguyên văn hồi mục:

Bão Văn Khanh Nam Kinh ngộ cựu

Nghê Đình Tỉ An Khánh chiêu thân

Bản dịch Chuyện Làng Nho:

Đất Nam Kinh Bão Văn Khanh gặp bạn

Phủ An Khánh Nghê Đình Tỉ thành hôn

[14] Tương ứng bản dịch tiếng Việt Chuyện làng Nho (Nxb.Văn học) tr.47.

[15] Trong bối cảnh tự sự của cuốn tiểu thuyết “cổ văn” ở đây chỉ văn xuôi truyền thống dùng để trước tác nghiêm túc đối lập với “thời văn” mà nhà nước quy định (xem hồi 1) dùng để thi cử – cái gọi là văn bát cổ đã đẩy cả nền văn hoá đi vào chỗ trống rỗng và chôn vùi hàng thế hệ trí thức Trung Hoa. Đây là một nét chủ đề quan trọng trong Nho Lâm Ngoại Sử.

[16] Tương ứng bản dịch tiếng Việt tr.47.

[17] Giống như ta có thể nghe ra giọng của anh Chí ngay từ những dòng đầu tiên của thiên truyện Chí Phèo vậy.

Tài liệu tham khảo: 

吴敬梓《儒林外史》新世界出版社出版, 2000 (Ngô Kính Tử, Nho Lâm Ngoại Sử, Tân thế giới xuất bản xã, 2000.

Chuyện Làng Nho, Phan Võ – Nhữ Thành dịch, Nxb. Văn học, 2001.

Andrew H.Plaks, Trung Quốc tự sự học – Chinese narrative, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 1998.

Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb. Văn học – Trung tâm Ngiên cứu Quốc học.

Trần Mĩ Lâm chủ biên, Thanh đại văn học nghiên cứu, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 2002.

Dương Nghĩa, Trung Quốc cổ điển tiểu thuyết sử luận, Trung Quốc xã hội khoa học viện xuất bản xã, 2004.

Long Phác chủ biên, Kinh điển thường độc, Quảng Tây sư phạm đại học xuất bản xã, 2003.

黎时宾(ThoitanLe)《儒林外史》新诠(博士论文导师陈洪教授)南开大学 5/2004

 Nguồn:   Bản nhuận sắc lại từ bài trên Tạp chí Khoa Học, Đại học Vinh, tập 36, số 4B, 2007

Leave a Reply