Chủ đề và ý nghĩa trong ngôn ngữ


V.N. Voloshinov

Lời dịch giả Valentin Nikolaevich Voloshinov (1895-1936) là một nhà triết học và ngôn ngữ học kiệt xuất của Liên Xô và thế giới. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình Voloshinov đã kịp để lại nhiều tác phẩm quan trọng, trong đó hai cuốn “Phê phán chủ nghĩa Freud” và “Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ” nằm trong số những công trình triết học và ngôn ngữ học có nhiều ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20. Voloshinov và hai tác giả cùng thời là Pavel Nikolaevich Medvedev (1892-1938) và Mikhail Mikhailovich Bakhtin (1895-1975) – thường gọi là “Nhóm Bakhtin” – được coi là những vị tiền bối của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Các tác phẩm của Voloshinov có số phận rất long đong. Gây tiếng vang khi mới xuất bản và có ảnh hưởng to lớn đối với trường phái ngôn ngữ học Praha, nhưng sau đó các tác phẩm của ông bị lãng quên, nói đúng hơn là bị vùi dập, ở Liên Xô trong suốt mấy thập niên, cho đến khi chúng được dịch ra các thứ tiếng phương Tây đầu thập kỷ 1970 và được coi là những phát hiện quan trọng bậc nhất thế kỷ. Trong ba thập niên sau đó, các tác phẩm của Voloshinov (và cuốn “Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học” của Medvedev) lại bị gán một cách bất công và vô căn cứ cho một người bạn của ông là Mikhail Mikhailovich Bakhtin. Mãi đến gần đây, những nghiên cứu hồ sơ, văn bản và phong cách học mới cung cấp các bằng chứng thuyết phục cho phép khẳng định dứt khoát bản quyền trọn vẹn của Voloshinov đối với những kiệt tác của ông. Chúng tôi xin trích dịch chương 4, phần II (“Những con đường của triết học ngôn ngữ Marxist”) của cuốn “Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ”, trong đó Voloshinov đưa ra những tư tưởng đột phá về ký hiệu và ngôn ngữ học, đặc biệt là các luận điểm thiên tài về ngữ nghĩa và tính đối thoại của phát ngôn, sau này trở thành điểm tựa của các nhà tư tưởng Hậu hiện đại. 

 

Chủ đề và ý nghĩa

 

Vấn đề ý nghĩa là một trong những vấn đề khó khăn nhất của ngôn ngữ học. Trong quá trình giải quyết nó nổi lên đặc biệt rõ trong ngôn ngữ học là quan điểm độc thoại một chiều. Lý thuyết tiếp nhận thụ động không cho phép tiếp cận các đặc tính cơ bản và thiết yếu của ngữ nghĩa.

Trong khuôn khổ công trình này, chúng ta buộc phải tự giới hạn trong việc xem xét vấn đề một cách rất ngắn gọn và khái lược. Chúng ta sẽ chỉ cố gắng phác ra những hướng chính để nghiên cứu vấn đề một cách hiệu quả.

Bất kỳ một phát ngôn nào, như là một chỉnh thể, đều có một ý nghĩa xác định và duy nhất, một nội dung duy nhất. Hãy gọi nội dung của chỉnh thể phát ngôn là chủ đề [1] của nó. Chủ đề phải duy nhất, nếu không, chúng ta sẽ không có bất kỳ cơ sở gì để nói về một phát ngôn. Chủ đề của phát ngôn, về bản chất, mang tính cá nhân và không lặp lại, như bản thân phát ngôn. Chủ đề là biểu hiện của tình huống lịch sử cụ thể đã sản sinh ra phát ngôn. Phát ngôn “Mấy giờ rồi?” mỗi lần sử dụng lại có một ý nghĩa khác, và do đó, nói bằng thuật ngữ của chúng ta, có một chủ đề khác, tùy thuộc vào tình huống lịch sử cụ thể (lịch sử ở đây được hiểu với một quy mô rất nhỏ), trong đó nó được phát ra và, về bản chất, nó cũng là một bộ phận cấu thành.

Cùng một tác giả (dịch):

*Giải kiến tạo là gì?

*10 truyện ngắn đặc sắc của Ngô Tự Lập

*Nhóm Bakhtin – những vị tiền bối của chủ nghĩa hậu hiện đại

*Quan niệm Marxist phương Tây về phê phán hệ tư tưởng và ứng dụng của nó vào phê bình văn học

*Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa muôn năm

*Thư gửi một người bạn Nhật

Từ đó có thể thấy rằng chủ đề của phát ngôn được xác định không chỉ bởi các hình thức ngôn ngữ cấu thành nên nó – như từ, cấu trúc hình thái và cú pháp, ngữ âm, ngữ điệu – mà còn bởi những yếu tố ngoài lời thuộc về tình huống. Loại bỏ những yếu tố của tình huống, chúng ta sẽ không thể hiểu được phát ngôn, giống như khi ta loại bỏ những từ quan trọng nhất. Chủ đề của phát ngôn là cụ thể – cũng cụ thể như cái khoảnh khắc lịch sử [Gạch dưới trong nguyên bản – NTL] diễn ra phát ngôn ấy. Chỉ những phát ngôn được tiếp nhận cùng với tính cụ thể trọn vẹn, như là một hiện tượng lịch sử, mới có chủ đề. Chủ đề của phát ngôn là như vậy.

Tuy nhiên, nếu chúng ta tự giới hạn ở tính độc nhất và không lặp lại của từng phát ngôn cụ thể và chủ đề của phát ngôn ấy, chúng ta sẽ là những nhà biện chứng tồi. Bên cạnh chủ đề, hay đúng hơn, bên trong chủ đề, phát ngôn còn có ý nghĩa. Ý nghĩa, khác với chủ đề, ở đây được quan niệm là tất cả những yếu tố của phát ngôn, được lặp lạitự đồng nhất ở tất cả các lần lặp lại. Tất nhiên, những yếu tố này là trừu tượng: chúng không tồn tại độc lập và cụ thể dưới hình thức biệt lập nhân tạo, nhưng đồng thời chúng cũng là bộ phận không thể thiếu, không thể tách rời của phát ngôn. Chủ đề của một phát ngôn, về bản chất, không thể chia tách được. Ý nghĩa của phát ngôn, ngược lại, được chia nhỏ thành ý nghĩa của các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nên phát ngôn ấy. Chủ đề không lặp lại của phát ngôn “Mấy giờ rồi?” gắn chặt với một tình huống lịch sử cụ thể, không thể phân chia thành các yếu tố. Còn ý nghĩa của phát ngôn “Mấy giờ rồi?” – là như nhau, tất nhiên, trong mọi hoàn cảnh lịch sử mà nó được phát ra – được tạo nên từ ý nghĩa của các từ, các hình thức quan hệ hình thái học và cú pháp, ngữ điệu nghi vấn v.v…tham gia cấu thành nên nó.

Chủ đề – đó là một hệ thống năng động, phức tạp của các ký hiệu, có xu hướng tương thích với một thời điểm nhất định của quá trình phát triển. Chủ đề – đó là phản ứng của ý thức đang phát triển đối với sự phát triển của thực tại. Ý nghĩa – đó là bộ máy kỹ thuật để thực hiện chủ đề.

Tất nhiên, không thể vạch một ranh giới cơ học tuyệt đối giữa chủ đề và ý nghĩa. Không có chủ đề nào không có ý nghĩa, và cũng không có ý nghĩa không có chủ đề. Hơn thế nữa, thậm chí không thể chỉ ra ý nghĩa của một từ đơn lẻ nào đó (ví dụ, như trong quá trình dạy tiếng nước ngoài) mà không biến nó, một cách gần đúng, thành bộ phận của một chủ đề, tức là tạo một phát ngôn – đưa ra một “ví dụ”. Mặt khác, chủ đề phải dựa vào tính ổn định nào đó của ý nghĩa, nếu không nó sẽ mất hết mối liên hệ với những gì có trước và sau nó, cũng có nghĩa là sẽ mất hết nội dung.

Việc nghiên cứu ngôn ngữ các tộc người nguyên thủy và ngành cổ sinh học ngữ nghĩa hiện đại đưa đến kết luận về cái gọi là tính phức hợp của tư duy nguyên thủy. Người nguyên thủy sử dụng một từ để mô tả nhiều hiện tượng đa dạng mà từ quan điểm của chúng ta thì không hề liên quan đến nhau. Hơn nữa, cùng một từ có thể chỉ những khái niệm đối nghịch – cả trên lẫn dưới, cả đất lẫn trời, cả thiện lẫn ác, v.v…Viện sĩ Marr viết: “Chỉ cần nói rằng cổ sinh học ngôn ngữ đương đại, qua các nghiên cứu của mình, cho chúng ta cơ hội tiếp cận đến một thời đại, khi một bộ lạc chỉ có một từ để sử dụng với tất cả các ý nghĩa mà nhân loại ý thức được.” [2]

Nhưng một từ mang mọi nghĩa như vậy liệu có phải là một từ hay không? – Chúng ta có thể đặt câu hỏi. Vâng, đó chính là một từ. Ngược lại, nếu ứng với một phức hợp âm thanh chỉ có một ý nghĩa duy nhất, trơ lỳ và bất biến, thì phức hợp đó không phải là từ, không phải là ký hiệu, mà chỉ là một tín hiệu. [3] Tính đa nghĩa – đó là dấu hiệu cấu thành của từ. Về cái từ mang mọi nghĩa mà Marr đề cập, chúng ta có thể nói như sau: từ ấy, về bản chất, hầu như không có ý nghĩa; tất cả là chủ đề. Ý nghĩa của nó không thể tách rời khỏi tình huống sử dụng cụ thể. Tình huống mỗi lần một khác như thế nào thì ý nghĩa của nó cũng mỗi lần một khác như thế. Do đó, chủ đề ở đây bao gồm và hòa tan ý nghĩa, không cho phép nó một cơ hội nào để kịp ổn định và đông kết. Nhưng cùng với sự phát triển của ngôn ngữ, với sự mở rộng trữ lượng các phức hợp âm thanh, ý nghĩa bắt đầu đông kết theo các tuyến ứng dụng chủ đề ngôn từ chủ yếu, được lặp lại thường xuyên nhất, trong đời sống tập thể.

Chủ đề, như chúng ta đã nói, chỉ thuộc về chỉnh thể phát ngôn, còn một từ đơn lẻ chỉ có chủ đề khi nó xuất hiện với tư cách là một chỉnh thể phát ngôn. Chẳng hạn, từ chỉ mọi nghĩa của Marr luôn xuất hiện như là một chỉnh thể (đây cũng là lý do tại sao nó không có ý nghĩa ổn định). Ý nghĩa thuộc về một yếu tố và tập hợp các yếu tố trong mối quan hệ của chúng với chỉnh thể. Tất nhiên, nếu chúng ta bỏ qua mối quan hệ với chỉnh thể (tức là với phát ngôn), thì chúng ta cũng làm mất đi ý nghĩa. Đó là lý do tại sao giữa chủ đề và ý nghĩa không thể vạch ra một ranh giới rõ ràng.

Chính xác hơn có lẽ phải trình bày mối quan hệ tương hỗ giữa chủ đề và ý nghĩa như sau. Chủ đề là giới hạn trên, hiện thực của nghĩa; về bản chất, chỉ có chủ đề mới mang ý nghĩa về một cái gì đó xác định. Ý nghĩa là giới hạn dưới của ngữ nghĩa. Ý nghĩa, về bản chất, không có nghĩa gì, mà chỉ là một tiềm năng, khả năng có nghĩa trong một chủ đề cụ thể. Việc khảo sát ý nghĩa của một yếu tố ngôn ngữ nào đó, theo định nghĩa của chúng ta, có thể đi theo hai hướng: hoặc là hướng tới giới hạn trên – đến chủ đề; trong trường hợp đó sẽ là nghiên cứu ý nghĩa tình huống của từ trong những điều kiện của một phát ngôn cụ thể; hoặc là hướng tới giới hạn dưới – giới hạn ý nghĩa. Trong trường hợp này, đó sẽ là nghiên cứu ý nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ, nói cách khác, nghiên cứu từ trong từ điển.

Sự phân biệt giữa chủ đề và ý nghĩa cùng với nhận thức đúng đắn về mối quan hệ của chúng có tầm quan trọng rất lớn để xây dựng một khoa học đích thực về ngữ nghĩa. Cho đến nay, tầm quan trọng đó hoàn toàn chưa được hiểu đúng. Sự phân biệt nghĩa thường dùng và nghĩa ít gặp, giữa nghĩa chính và nghĩa phụ, giữa nghĩa hẹp và nghĩa rộng…của từ – về bản chất là chưa đầy đủ. Xu hướng chủ yếu, làm cơ sở cho tất cả những sự phân biệt như thế – xu hướng đề cao khía cạnh cơ bản, thường dùng của ý nghĩa, được xem như là có thực và bền vững – là hoàn toàn sai lầm. Ngoài ra, vẫn còn có sự hiểu lầm về chủ đề mà chúng ta, tất nhiên, tuyệt đối không thể quy thành một nghĩa ít gặp hoặc nghĩa phụ của từ.

 

Vấn đề tiếp nhận chủ động

 

Sự phân biệt giữa chủ đề và ý nghĩa trở nên đặc biệt rõ ràng trong mối liên hệ với vấn đề về sự hiểu, mà chúng ta sẽ đề cập vắn tắt ở đây.

Chúng ta đã có lần bàn về lối hiểu thụ động trong ngôn ngữ học, trong đó câu trả lời bị loại bỏ từ trước. Mọi sự hiểu thực sự đều chủ động và là mầm mống của câu trả lời. Chỉ có sự hiểu chủ động mới có chủ đề; một quá trình hình thành chỉ có thể có được nhờ một quá trình hình thành khác.

Hiểu phát ngôn của người khác có nghĩa là tự hướng về phát ngôn đó, tìm cho nó một vị trí thích hợp trong bối cảnh tương ứng. Với mỗi từ trong phát ngôn mà chúng ta đang trong quá trình hiểu, chúng ta liệt kê ra cả một tập hợp các từ đối ứng của chính mình. Số lượng và trọng lượng của các từ đó càng lớn, cách hiểu của chúng ta càng sâu sắc và chắc chắn.

Như vậy, mỗi yếu tố khả phân mang nghĩa của phát ngôn – và toàn bộ phát ngôn như là một chỉnh thể – được chúng ta phiên dịch sang một ngữ cảnh tương ứng, chủ động khác. Mọi sự hiểu đều mang tính đối thoại. Sự hiểu đối lại với phát ngôn, hệt như những lời đối đáp trong một cuộc đối thoại. Sự hiểu tìm kiếm cho mỗi từ của người nói một đối từ. Chỉ khi cố hiểu một từ trong tiếng nước ngoài ta mới tìm kiếm “chính từ ấy” trong ngôn ngữ của mình mà thôi.

Vì vậy, không thể nói rằng ý nghĩa thuộc về từ theo cách hiểu thông thường. Về bản chất, ý nghĩa thuộc về cái từ nằm giữa những người nói, tức là, ý nghĩa ấy chỉ nảy sinh trong quá trình hiểu chủ động, hồi ứng. Ý nghĩa [Gạch dưới trong nguyên bản – NTL] – không nằm trong từ, không nằm trong tâm hồn của người nói, cũng không nằm trong tâm hồn của người nghe. Ý nghĩa là hiệu ứng của tương tác giữa người nói và người nghe trên chất liệu của một phức hợp âm thanh nhất định. Đó là một tia lửa điện, chỉ xuất hiện khi ta kết nối hai điện cực khác nhau. Những người bỏ qua chủ đề, vốn chỉ có ở sự hiểu hồi ứng chủ động, khi cố gắng xác định ý nghĩa của từ chỉ có thể tiếp cận giới hạn dưới, ổn định, tự đồng nhất của nó – thực tế là họ đã ngắt dòng điện mà lại muốn bật đèn. Chỉ có dòng giao tiếp lời nói mới đem lại ánh sáng ý nghĩa cho ngôn từ mà thôi.

 

Đánh giá và ý nghĩa

 

Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang một trong những vấn đề quan trọng nhất của khoa học về ngữ nghĩa, vấn đề về mối tương quan giữa đánh giá và ý nghĩa.

Bất kỳ từ nào được nói ra trên thực tế đều không chỉ có chủ đề và ý nghĩa, theo nghĩa dẫn chiếu, hay khách thể, của nó mà còn có sự đánh giá, tức là, mọi nội dung dẫn chiếu trong ngôn ngữ đời thực đều được nói hoặc viết trong mối liên hệ với một trọng âm đánh giá nhất định. Không có từ nào không có trọng âm đánh giá. Trọng âm đánh giá này là gì và nó liên quan như thế nào đến phương diện chỉ sự của ý nghĩa?

Tầng dễ thấy nhất nhưng đồng thời cũng là tầng bề ngoài nhất của sự đánh giá xã hội trong từ được truyền tải nhờ ngữ điệu biểu cảm. Ngữ điệu, trong phần lớn trường hợp, được quy định bởi tình huống gần gũi nhất – và thường là bởi những hoàn cảnh thoáng qua nhất của tình huống. Tuy nhiên, ngữ điệu cũng có thể có vai trò quan trọng hơn. Dưới đây là một ví dụ cổ điển về việc sử dụng ngữ điệu trong ngôn ngữ đời sống. Dostoevsky, trong “Nhật ký một nhà văn” kể lại câu chuyện sau đây:

“Một chủ nhật, đã về đêm, tôi tình cờ đi cách một đám sáu người thợ say rượu khoảng mười lăm bước gì đó, và đột nhiên tôi tin chắc rằng ta có thể thể hiện tất cả các suy nghĩ, cảm xúc và thậm chí cả một chuỗi suy luận sâu sắc chỉ bằng một từ, cái từ cực kỳ đơn giản ấy (Dostoevsky nói đến cái từ văng tục phổ biến nhất – V.V.). Thoạt tiên, một gã trong bọn rít lên cái từ ấy lên bằng một giọng the thé và cương quyết để diễn tả thái độ phủ nhận khinh bỉ nhất về điều gì đó mà bọn họ bàn cãi với nhau trước đó. Phản ứng lại anh ta, một người khác lặp lại đúng cái từ ấy, nhưng với một ngữ điệu và ý nghĩa hoàn toàn khác – nói chính xác, ý anh ta là hoàn toàn nghi ngờ về tính đúng đắn trong thái độ phủ nhận của người đầu tiên. Người thứ ba đột nhiên nổi cáu với gã đầu tiên. Cục cằn và nóng nảy, anh ta nhảy vào cuộc tranh cãi, hét vào mặt gã kia cũng vẫn cái từ ấy, nhưng để chửi mắng. Thế rồi, đến lượt gã thứ hai lại nổi cáu với gã thứ ba, kẻ phạm thượng, để chặn họng anh ta với ý thế này: “Cái gì, hở, việc gì đến mày? Tao với Philka đang nói chuyện nhẹ nhàng, vậy mà mày không đâu nhảy bổ vào chửi nó!” Và, tất cả những ý này, gã nói chỉ bằng cái từ đơn giản ấy, bằng tên gọi cực kỳ ngắn gọn của cái vật kia, ngoại trừ việc giơ tay và tóm lấy vai anh chàng thứ ba. Thế rồi, đột nhiên, gã thứ tư, nhỏ tuổi nhất trong bọn, người cho đến lúc này vẫn im lặng, chắc là đột nhiên tìm ra giải pháp cho vấn đề đang gây tranh cãi, cũng vào cuộc, mừng rỡ giơ tay cao, hét ầm lên… “Ơ-rê-ka”, chắc các bạn nghĩ vậy? Tìm thấy rồi, tìm thấy rồi? Không, chẳng có Ơ-re-ka nào cả, và cũng chẳng tìm thấy gì; gã chỉ nhắc lại đúng cái từ ít khi có trong từ điển ấy, chính cái từ ấy, có điều, anh ta hét lên một cách mừng rỡ, vừa hét vừa lên cơn lắc, theo cách tôi nghĩ là quá đà, bởi vì, người thứ sáu, người nhiều tuổi nhất và cáu kỉnh nhất, có vẻ không “nghĩ” vậy. Ông ta ngay lập tức ngăn sự vui mừng ấu trĩ của thằng bé lại bằng cách quay sang cậu ta và nhắc lại bằng một giọng trầm trầm cáu kỉnh… Vâng, vẫn cái từ bị cấm nói trước mặt phụ nữ ấy – lần này nó có nghĩa rõ ràng và chính xác là: “Việc gì mà mày phải hét, muốn rách họng à”. Vậy đấy, không nói bất một từ nào khác, họ lần lượt lặp đi lặp lại chỉ một từ, cái từ yêu thích nhất ấy, sáu lần liên tiếp, và hiểu nhau một cách hoàn hảo. Đó là một chuyện thực mà tôi được chứng kiến!” [4]

Tất cả sáu “phát ngôn” của sáu người thợ đều khác nhau, dù đều chỉ gồm một từ duy nhất. Về bản chất, từ này chỉ là một điểm tựa cho ngữ điệu. Cuộc nói chuyện ở đây được thực hiện bằng ngữ điệu, thể hiện sự đánh giá của những người tham gia. Những sự đánh giá ấy, cùng với ngữ điệu tương ứng với chúng, được xác định hoàn toàn bởi bối cảnh xã hội gần nhất của cuộc đàm thoại – đó là lý do tại sao chúng không cần bất kỳ một điểm tựa dẫn chiếu nào. Trong ngôn ngữ đời sống, ngữ điệu thường có một ý nghĩa hoàn toàn độc lập với các thành phần mang nghĩa của lời nói. Vật liệu ngữ điệu tích tụ bên trong thường tìm thấy lối thoát ra bằng những kết cấu ngôn ngữ hoàn toàn không thích hợp với ngữ điệu cụ thể ấy. Khi đó, ngữ điệu không tham dự vào ý nghĩa trí tuệ, khách thể của kết cấu ấy. Chúng ta thường bày tỏ cảm xúc của mình bằng cách dùng ngữ điệu biểu cảm và sâu sắc với một từ nào đó ngẫu nhiên xuất hiện, thường là trạng từ hay từ đệm rỗng. Hầu như mọi người đều có những từ đệm và trạng từ, hoặc đôi khi là cả một cụm từ có ngữ nghĩa trọn vẹn, yêu thích của mình. Nhưng chúng thường được sử dụng thuần túy cho việc xử lý bằng ngữ điệu những tình huống và tâm trạng, thường là vặt vãnh nhưng đôi khi cũng quan trọng, trong đời sống. Những từ đệm như: “Chà chà”, “Ờ ờ”, “Được được”, “Nào nào”, v.v… có tác dụng như những “van giảm áp” ngữ điệu như vậy. Đặc trưng thông thường của những từ đệm như vậy là điệp âm, tức là sự kéo dài nhân tạo về hình thức âm thanh, mục đích là cho phép loại bỏ hoàn toàn ngữ điệu tích lũy. Dĩ nhiên, cùng một từ đệm yêu thích có thể được phát ra với rất nhiều ngữ điệu khác nhau, tùy thuộc vào sự đa dạng của tình huống và tâm trạng trong đời sống.

Trong tất cả các trường hợp này, chủ đề gắn liền với mỗi phát ngôn (bởi lẽ mỗi phát ngôn của sáu thợ thủ công có một chủ đề riêng) được thực hiện hoàn toàn bởi ngữ điệu biểu cảm mà không hề được sự trợ giúp bởi ý nghĩa của từ và các quan hệ ngữ pháp. Một sự đánh giá như thế, và ngữ điệu tương ứng với nó, không thể vượt ra khỏi giới hạn chật hẹp của tình huống gần nhất và của một tiểu thế giới xã hội sát sườn. Sự đánh giá như vậy, trên thực tế, chỉ có thể được gọi là một hiện tượng phụ, đi kèm, của ngữ nghĩa.

Tuy nhiên, không phải mọi đánh giá đều như vậy. Có thể lấy bất kỳ một phát ngôn nào, ngay cả một phát ngôn với một vùng ngữ nghĩa rộng nhất và dựa vào một lượng thính giả xã hội lớn nhất, ta vẫn thấy rằng sự đánh giá là cực kỳ quan trọng. Quả thực, ở đây, sự đánh giá không thể được thể hiện đầy đủ bằng ngữ điệu, nhưng nó quyết định việc lựa chọn và định vị tất cả các yếu tố ngữ nghĩa chính của phát ngôn. Không thể có một phát ngôn mà không có sự đánh giá. Mỗi phát ngôn trước hết là sự định hướng có đánh giá. Vì vậy, trong một phát ngôn trong đời sống, mỗi yếu tố đều không chỉ mang ý nghĩa mà còn đánh giá. Chỉ có những yếu tố trừu tượng, được tiếp nhận trong hệ thống ngôn ngữ, chứ không phải trong cấu trúc phát ngôn, mới tỏ ra không có sự đánh giá. Chủ trương chỉ nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ trừu tượng còn dẫn đến một thực tế là hầu hết các nhà ngôn ngữ học tách rời sự đánh giá với ý nghĩa, xem nó là phụ, là một yếu tố của ý nghĩa, một sự biểu hiện quan hệ của cá nhân người nói đối với đối tượng của lời nói.[5]

Trong giới nghiên cứu tiếng Nga, G. Shpett (Г. Шпетт) coi sự đánh giá như là nghĩa rộng của từ. Nét đặc trưng ở ông là sự phân biệt rạch ròi giữa ý nghĩa khách thể và trọng âm đánh giá mà ông định vị vào những lĩnh vực khác nhau của thực tại. Sự tách biệt ý nghĩa khách thể và đánh giá như vậy hoàn toàn không thể chấp nhận được, và lý do là ông không nhận thấy những chức năng sâu xa hơn của sự đánh giá trong lời nói. Ý nghĩa khách thể được hình thành bằng sự đánh giá, bởi lẽ chính sự đánh giá xác định ý nghĩa khách thể nào sẽ lọt vào tầm nhìn của người nói – cả tầm nhìn gần nhất lẫn tầm nhìn xã hội rộng lớn hơn của một nhóm xã hội. Hơn nữa, cũng chính sự đánh giá có vai trò sáng tạo trong sự thay đổi của ý nghĩa. Sự thay đổi ý nghĩa, về bản chất, luôn luôn là đánh giá lại: đó là sự di chuyển một từ nhất định từ bối cảnh giá trị này sang bối cảnh giá trị khác. Một từ hoặc được nâng lên một thứ bậc cao hơn, hoặc đôi khi bị đưa xuống hạng thấp hơn. Sự tách rời ý nghĩa và đánh giá không tránh khỏi dẫn đến thực tế là ý nghĩa của từ, một khi không còn gắn với quá trình xã hội sống động (nơi nó luôn luôn thấm đẫm sự đánh giá), sẽ bị bản thể hóa, biến thành một thực tại duy tâm, tách biệt khỏi quá trình hình thành lịch sử.

 

Biện chứng của ý nghĩa

 

Muốn hiểu sự hình thành lịch sử của chủ đề và ý nghĩa do nó thực hiện, mà chúng ta không thể không nghiên cứu sự đánh giá của xã hội. Sự hình thành của ý nghĩa trong ngôn ngữ luôn luôn gắn liền với sự hình thành quan điểm giá trị của một nhóm xã hội nhất định, mà sự hình thành quan điểm giá trị – theo nghĩa là tổng hòa của tất cả những gì có ý nghĩa, có tầm quan trọng đối với nhóm này – là hoàn toàn được xác định bởi sự mở rộng cơ sở hạ tầng kinh tế. Dựa trên sự mở rộng cơ sở hạ tầng, không gian thực tại (có thể tiếp cận, có thể hiểu và có tầm quan trọng đối với con người) cũng được mở rộng một cách hiện thực. Một người chăn súc vật nguyên thủy hầu như không quan tâm đến điều gì, và gần như không có điều gì liên can đến anh ta. Con người ở cuối thời kỳ tư bản chủ nghĩa thì quan tâm trực tiếp đến mọi thứ, đến tận những góc hẻo lánh nhất của trái đất, đến cả các ngôi sao xa xôi. Sự mở rộng tầm nhìn giá trị như vậy diễn ra một cách biện chứng. Những khía cạnh mới của thực tại, khi tham gia vào lĩnh vực lợi ích xã hội, khi gắn với ngôn từ và cảm xúc của con người, sẽ không để yên các yếu tố có trước của thực tại, mà đấu tranh với chúng, đánh giá lại chúng, di chuyển vị trí của chúng trong sự thống nhất của tầm nhìn. Quá trình hình thành biện chứng này được phản ánh trong sự hình thành ngữ nghĩa. Ý nghĩa mới được bộc lộ trong nghĩa cũ và nhờ nghĩa cũ, nhưng là để chống lại nghĩa cũ và tái tạo nó.

Do đó mà có cuộc đấu tranh không ngừng của các trọng âm đánh giá trong từng khu vực ngữ nghĩa của thực tại. Trong thành phần của ý nghĩa không có gì đứng trên sự hình thành, không có gì độc lập với sự mở rộng biện chứng của tầm nhìn xã hội. Một xã hội trong quá trình hình thành ngày càng mở rộng nhận thức của nó về thực tại đang hình thành. Trong quá trình này, không có gì có thể hoàn toàn ổn định. Do đó, ý nghĩa – một yếu tố trừu tượng, tự đồng nhất – bị chủ đề hấp thụ, bị các mâu thuẫn sống động của chủ đề xé vụn, để rồi trở về dưới hình thức một ý nghĩa mới, tự đồng nhất, cũng với một sự ổn định nhất thời như vậy.

Ngô Tự Lập dịch từ tiếng Nga

 

Chú thích

——————

[1] Khái niệm này, tất nhiên, chỉ là quy ước. Chủ đề ở đây bao hàm cả sự thực hiện của nó. Vì vậy không nên lẫn lộn khái niệm của chúng ta với chủ đề của tác phẩm nghệ thuật. Gần gũi với khái niệm của chúng ta có lẽ là “Tính thống nhất chủ đề”.

[2] «По этапам яфетической теории», trang 278.

[3] Điều này cho thấy rằng ngay cả một từ nguyên thủy sơ khai nhất, mà Marr nói đến, cũng hoàn toàn khác với tín hiệu, là thứ mà một số người cố gắng quy ngôn ngữ về. Bởi lẽ nếu một tín hiệu có mọi nghĩa, thì đó chính là thứ có ít khả năng thực hiện chức năng tín hiệu nhất. Tín hiệu có rất ít khả năng thích ứng với sự thay đổi điều kiện của tình huống, và, về bản chất, sự thay đổi của tín hiệu đồng nghĩa với việc thay thế nó bằng một tín hiệu khác.

[4] “Полное собрание сочинений Ф. М. Достоевского”, 1906, тập IX, tr. 274 — 275.

[5] Đó chính là định nghĩa sự đánh giá của Anton Marty, người đã có những phân tích cực kỳ chi tiết và tinh tế về ý nghĩa của lời nói. Xem А. Marty «Untersuchungen zur Grundlegung der allgemeinen Grammatik und Sprachphilosophie» (Halle, 1908).ListenRead phonetically

Nguồn: Bản dịch giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn

Leave a Reply