Đàn bà có phải là người?


Catharine A. MacKinnon 

Catharine A. Mackinnon (7/10/1946) là một luật sư, giáo viên, nhà văn, và nhà hoạt động xã hội về những đề xuất bình đẳng tính dục trong gia đình và trên trường quốc tế. Bà hiện là Giáo sư Luật tước hiệu Elizabeth A. Long tại Đại học Michigan và là Cố vấn Giới tính Đặc biệt cho Công tố viên của Toà án Hình sự Quốc tế. Mấy chục quyển sách của bà xuất bản trong nhiều thứ tiếng, bao gồm: Quấy nhiễu tính dục đối với đàn bà lao động/ Sexual Harassment of Working Women (1979), Chủ nghĩa nữ quyền không biến cải/ Feminism Unmodified (1987), Hướng về một lí thuyết nữ quyền của nhà nước/ Toward a Feminist Theory of the State (1989), Chỉ ngôn từ thôi/ Only Words (1993), Những cuộc đời đàn bà những luật lệ đàn ông/ Women’s Lives, Men’s Laws (2005), Đàn bà có phải là người?/ Are Women Human? (2006), và giáo trình chuyên đề  Bình đẳng tính dục/ Sex Equality (2001 – 2007).

Bà quan niệm sự lạm dụng tính dục vi phạm những quyền về bình đẳng. Bà đã đi tiên phong trong chủ trương pháp lí xem việc quấy nhiễu tính dục là sự kì thị về tính dục và, cùng với Andrea Dworkin, sự nhìn nhận về những tai hại của dâm thư như là những vi phạm về dân quyền. Lối tiếp cận của bà với sự bình đẳng phần lớn đã được chấp nhận ở Canada và những nơi khác. Đứng đại diện cho những người đàn bà sống sót ở Bosnia sau những tàn khốc về tính dục của Serbia, Catharine A. Mackinnon thiết lập được sự nhìn nhận của pháp luật về cưỡng bức như là một hành vi diệt chủng và chiến thắng với việc đồng cố vấn cho một bản án được xử trị giá 745 triệu đô la. Hiện nay bà làm việc với tổ chức Bình đẳng ngay bây giờ (Equality Now), một tổ chức phi chính phủ quốc tế nêu cao sự bình đẳng tính dục khắp thế giới, và với tổ chức Liên minh chống sự buôn bán về đàn bà (Coalition Against Trafficking in Women)

 *

Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân Quyền (The Universal Declaration of Human Rights) định nghĩa một con người là gì[1]. Trong năm 1948, văn bản này nói với thế giới rằng một con người, với tư cách làm người, có danh tước ra sao. Nó đã năm mươi năm tuổi rồi. Thế nhưng đàn bà đã được làm người chưa?

Nếu đàn bà là người, thì làm sao chúng tôi lại là một vụ mùa hái ra tiền từ Thái Lan trong những kiện hàng nhập vào những ổ điếm của New York?[2] Thì làm sao chúng tôi lại là nô lệ cho tính dục và sinh sản? Thì làm sao chúng tôi bị chăn nuôi, làm việc không lương suốt đời, bị thiêu khi tiền hồi môn của chúng tôi không đủ hoặc khi đàn ông đã chán chúng tôi, bị bỏ đói như những bà goá khi chồng chết (nếu chúng tôi sống sót qua lễ hoả thiêu của chồng mình), bị bán cho tính dục vì chúng tôi không có giá trị cho bất cứ thì khác? Thì làm sao chúng tôi lại bị gả bán vào hôn nhân với các giáo sĩ để chuộc cho những tội lỗi hoặc để cải thiện những triển vọng trần thế của gia đình? Thì làm sao chúng tôi, khi được cho phép làm việc có lương, lại bị ép phải làm trong những công việc hèn hạ nhất và bị bóc lột chỉ ở mức khỏi chết đói? Thì làm sao bộ phận sinh dục của chúng tôi lại bị xẻ để “thanh tẩy” chúng tôi (những phần cơ thể chúng tôi nhơ nhớp ư?), để điều khiển chúng tôi, để đánh dấu chúng tôi và định nghĩa những văn hoá của chúng tôi? Thì làm sao chúng tôi lại bị buôn bán như những đồ vật cho sử dụng tính dục và giải trí khắp thế giới trong bất cứ dạng thức nào mà kĩ thuật hiện hành khiến khả dĩ? [3] Thì làm sao chúng tôi bị ngăn cản học đọc và viết?[4]

Cùng một người dịch:

*Nữ quyền giống như cái từ đụ làm đám người lịch sự tròn xoe mắt

*Tình bạn lãng mạn và tình yêu đồng tính nữ

*Đàn bà Mĩ đang thay đổi Phật giáo ra sao

*Sự đa dạng của chủ nghĩa nữ quyền và những đóng góp vào sự bình đẳng giới

*Lược sử nữ quyền Hoa Kì

*Giới tính, tính dục và tính hành diễn tính dục (Gender, Sex, and Sexual Performativity)

*Chủ nghĩa nữ quyền cải cách giới tính*

*Phê bình nữ quyền (phần 1/2)*

*Phê bình nữ quyền (phần 2/2)

 

Nếu đàn bà là người, thì làm sao chúng tôi lại có tiếng nói nhỏ nhoi trong những suy tính cộng đồng và trong chính phủ ở những quốc gia chúng tôi sống?[5] Thì làm sao chúng tôi lại bị che giấu sau những tấm mạng và bị nhốt trong nhà và bị ném đá và bị bắn vì từ chối? Thì làm sao chúng tôi lại bị đánh gần chết, và cho tới chết, bởi những người đàn ông thân thiết với chúng tôi? Thì làm sao chúng tôi lại bị quấy rối tính dục trong chính gia đình mình? Thì làm sao chúng tôi bị cưỡng hiếp trong vụ diệt chủng tới khủng bố và loại trừ và huỷ diệt cộng đồng sắc tộc của chúng tôi, và lại bị cưỡng hiếp trong chiến tranh không tuyên chiến diễn ra hàng ngày ở mọi quốc gia trên thế giới trong cái gọi là thời bình?[6] Nếu đàn bà là người, thì làm sao những kẻ cưỡng bức chúng tôi lại hứng thú về sự cưỡng bức chúng tôi? Và, nếu chúng tôi là người, khi những điều này xảy ra, sao chẳng ai nhúc nhích gì cả?

Cần phải có nhiều tưởng tượng – và một tiêu điểm gần như bị che mắt trong những ngoại lệ nơi những kẻ ở bên lề có đặc quyền – để thấy ra một người đàn bà thực sự trong những sự bảo đảm uy nghi của Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân Quyền về cái “mọi người có quyền hưởng.” Sau hơn nửa thế kỉ, riêng cái phần nào trong tứ “mọi người” không có nghĩa chúng tôi vậy?

Ngôn ngữ rổn rang trong Điều khoản 1 khích lệ chúng tôi “hành động hướng về nhau trong một tinh thần huynh đệ.” Chúng tôi có phải là đàn ông trước khi tinh thần đó bao gồm cả chúng tôi? E rằng điều này được nhìn nhận quá theo nghĩa đen, nếu chúng tôi tất cả liên kết để “hành động hướng về nhau trong một tinh thần tỉ muội,” thì làm sao đàn ông biết nó có nghĩa cho họ nữa? Điều khoản 23 khích lệ cung cấp tiền lương công chính cho “mọi người lao động.” Nó tiếp tục nói rằng sự bảo chứng này cho một đời sống có phẩm giá con người cho “chính anh và gia đình anh.” Sao đàn bà không nơi nào được trả lương cho công việc chúng tôi làm trong chính gia đình chúng tôi vì chúng tôi không phải là “mọi người” hay vì cái chúng tôi làm ở đó không phải là “lao động”, hay chỉ vì chúng tôi không phải là “anh”? Chẳng lẽ đàn bà không có gia đình hay sao, hay là cái mà phụ nữ có không phải là một gia đình nếu không có một “chính anh”? Nếu ai đó không hề được trả lương, thấp hơn nhiều so với “thù lao công chính và thuận lợi”, được đảm bảo, thì cũng giống như ai đó trong đời sống thực tại thường chịu trách nhiệm cho sự bảo bọc của gia đình chị, khi chị bị tước đoạt việc cung cấp cho gia đình chị “một sự sinh tồn xứng đáng của phẩm giá con người,” chị có phải là người không? Và bây giờ “mọi người” đó đã có một quyền “tham gia vào việc quản lí quốc gia của anh” kể từ khi Tuyên ngôn Phổ quát được ban hành, tại sao hầu hết các chính phủ vẫn được hầu hết đàn ông điều hành? Sao phụ nữ lại im lặng trong những sảnh đường nhà nước vì họ không có một tiếng nói con người?

Một tài liệu có thể cung cấp chuyên biệt cho sự hình thành của những công đoàn và “ngày lễ định kì có lương” có thể đã gắng sức vì tính chuyên biệt để có lần nhắc nhở đàn bà, ngoài qua “việc sản phụ,” nhượng bộ hơn là trù tính. Nếu đàn bà là người trong tài liệu này, thì làm sao bạo động tại nhà, bạo động tính dục từ khi sinh tới lúc chết, bao gồm sự bán dâm và dâm thư, sự vật thể hoá tính dục một cách hệ thống và sự miệt thị đàn bà và con gái đơn giản phải bị loại ra khỏi ngôn ngữ hiển lộ?

Đã đành, sự kì thị tính dục bị cấm đoán. Nhưng bằng cách nào nó có thể bị cấm đoán trong suốt thời gian này, ngay cả một cách hoài bão, và sự chấm dứt tất cả những điều kiện này vẫn không được tưởng tượng một cách cụ thể như một phần của điều một con người như một con người, có quyền hưởng? Tại sao danh nghĩa của đàn bà tới việc chấm dứt những điều kiện này vẫn còn bị tranh luận công khai dựa trên những quyền văn hoá, quyền ngôn luận, quyền tông giáo, tự do tính dục, thị trường tự do – như thể đàn bà là những cái tạo nghĩa xã hội, tiếng nói của ma cô, vật sùng bái thiêng liêng hay tính dục, nguồn năng tự nhiên, vật đổi chác, mọi thứ ngoại trừ là những con người?

Những sự thiếu sót trong Tuyên ngôn Phổ quát không chỉ mang tính ngữ nghĩa học. Là một đàn bà thì “chưa phải là một cái tên cho một cung cách làm người,”[7] không có trong cái tài liệu mang tính thị kiến nhất này trong những tài liệu về quyền con người. Nếu chúng tôi đo lường cái thực tại về thân phận đàn bà trong tất cả phức biến của nó chống lại những sự bảo đảm của Tuyên ngôn Phổ quát, không chỉ phụ nữ không có những quyền tuyên ngôn này đảm bảo – hầu hết đàn ông trên thế giới cũng không có quyền như đàn bà vậy – nhưng thật khó để thấy, một khuôn mặt đàn bà trong thị kiến của Tuyên ngôn này về nhân loại.

Đàn bà cần địa vị con người đầy đủ trong thực tại xã hội. Vì điều này, Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân Quyền phải thấy những cung cách đàn bà một cách tách biệt bị tước đoạt những quyền con người như một sự tước đoạt nhân tính. Để cho giấc mơ vinh quang của Tuyên ngôn Phổ quát trở thành sự thực, để cho nhân quyền trở thành phổ quát, cả cái thực tại nó thách thức lẫn cái tiêu chuẩn nó thiết lập cần phải thay đổi.

Khi nào đàn bà sẽ là người? Khi nào vậy?

Hồ Liễu dịch. Trích Chương 4 (từ trang 41-43) cuốn sách “Đàn bà có phải là người? và những cuộc đối thoại quốc tế khác” của Catharine A. MacKinnon, Ấn quán Belknap thuộc Ấn quán Đại học Harvard, 2006.


[1] Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân Quyền của Liên hợp quốc (1948), xem tại địa chỉ G. A. Res. 217, U. N. GAOR, 3d Sess., at 72 – 76, U. N. Doc. A/810 (1948). Mọi trích dẫn từ Tuyên ngôn Phổ quát trong tiểu luận này có thể tìm thấy ở đây.

[2] Để có dữ liệu hỗ trợ cho tất cả phát biểu về bạo động chống đàn bà trong bản phân tích này, xin xem Radhika Coomaraswamy, Tường trình nạp cho báo cáo viên đặc biệt về bạo động chống đàn bà, những nguyên nhân và hậu quả, Uỷ ban Nhân quyền Liên hiệp quốc/ Commission on Human Rights, 50th Sess., Agenda Item 11 (a), U. N. Doc. E/CN.4/1996/53 (1996); Radhika Coomaraswamy, Tường trình của báo cáo viên đặc biệt về bạo động chống đàn bà, những nguyên nhân và hậu quả, U. N. ESCOR Hum. Rts. Comm’n, 52d Sess., Prov. Agenda Item 9(a), U. N. Doc. E/CN.4/1996/53 (1996); Radhika Coomaraswamy, Tường trình, U. N. ESCOR Hum. Rts. Comm’n, 53d Sess., Prov. Agenda Item 9(a), U. N. Doc. E/CN.4/1997/47 (1997).

[3] Xin xem “Buôn bán về đàn bà và con gái”, Tiểu ban về Giải quyết Nhân quyền 2002/51 E/CN.4/RES/2002/51 (23, tháng Tư, 2002). Bộ Ngoại giao Hoa kì ước tính rằng khoảng 800.000 người bị buôn bán trên quốc tế hàng năm, hầu hết là đàn bà và trẻ em. Xem Báo cáo số 7 về buôn bán người(Tháng Sáu năm 2003).
[4] Đa số người mù chữ trên thế giới là đàn bà. Xin xem UNESCO, Niên giám thống kê 1997, trang 2 – 6, bảng 2 – 2 (ước tính 28,8 % đàn bà trên thế giới và 16,3% đàn ông trên thế giới bị mù chữ).
[5] Xin xem “Liên hiệp Liên quốc hội”, Đàn bà trong các Quốc hội, từ năm 1945 – 1995: Một nghiên cứu thống kê thế giới.

[6] Xin xem “Ngày Mười một tháng Chín của đàn bà: Nghĩ lại luật Quốc tế về tranh chấp.”

[7] Richard Rorty, “Chủ nghĩa nữ quyền và Chủ nghĩa thực dụng,” trang 30 Quý san Michigan trang 231, 234 (Mùa Xuân 1991) (“Điểm trung tâm của MacKinnon, như tôi đọc bà, rằng “một người đàn bà” chưa phải là danh xưng cho một cung cách làm người”).

Nguồn: Bản dịch giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn

 

Leave a Reply