Dân quạ đình công


Mồng bảy tháng Bảy năm Canh Thân,
Chiếu lệ bắc cầu sang sông Ngân.
Hằng hà sa số cu li quạ,
Bay bổng về trời dường trảy quân.
Hai bên bờ sông đậu lóc ngóc,
Con thì kêu đói, con kêu nhọc.
Đường sá xa xuôi việc nặng nề,
Phần lũ con thơ ở nhà khóc.
Bỗng nghe lệnh Trời truyền khởi công,
Nào con đầu cúi, con lưng cong,
Thêm thầy huyện Bẻo đứng coi việc,
Đụng đâu đánh đó như bao bông.
Ngán cho cái kiếp làm dân thiệt!
Làm có, ăn không, chết chó chết!
Cắn cỏ kêu Trời, Trời chẳng nghe,
Một con bay lên đứng diễn thuyết:
“Hỡi đồng bào, nghe tôi nói đây!
Dân quyền thạnh nhứt là đời nay,
Việc mà chẳng phải việc công ích,
Không ai có phép đem dân đày.
Trối kệ Hoàng Ngưu với Chức Nữ,
Qua được thì qua, không thì chớ;
Quốc dân Ô Thước tội tình gì,
Mà bắt xâu bơi làm khổ sở?
Anh em ta hè, về quách thôi! ”
Luôn thể kéo nhau vào cửa trời,
Động trống đăng văn ầm đế tọa,
Ngai vàng bệ ngọc rung rinh, rơi.

Có tin dân quạ nổi cách mệnh:
Trời sai thiên lôi ra thám thính,
Đầu đen máu đỏ quyết hi sinh.
Ngừng búa, thiên lôi không dám đánh.
Tức thì chiếu Trời vạch mây ra,
Đánh chữ đại xá Trời ban tha;
Dân quạ ở đâu về ở đó.
Từ nay khỏi bắc cầu Ngân Hà.

ờ té ra:
Mềm thì ai cũng nuốt,
Cứng thì Trời cũng nhả!
Hằng hà sa số cu li quạ,
Bay về hạ giới kêu “khá khá” (*).

C.D.

Đăng trong Phụ trương văn chương
của Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.726 (2.6.1928)

——————

(*) Theo một số nguồn tư liệu khác nhau thì Phan Khôi làm bài vè Dân quạ đình công vào khoảng năm 1911, kể về sự kiện thường được gọi là vụ án xin xâu ở Quảng Nam năm 1908. Về văn bản bài vè, một số bản sưu tầm đã in (ví dụ Nguyễn Q. Thắng trong Từ điển tác giả văn hoá Việt Nam, 1999; Phan Thị Mỹ Khanh trong Nhớ Cha tôi Phan Khôi, Đà Nẵng 2001, tr 150 – 152) có những chênh lệch về câu chữ. Tôi cho rằng văn bản công bố ở đây là bản do chính Phan Khôi cho đăng ở Đông Pháp thời báo năm 1928 nên văn bản đáng tin cậy hơn (NBS).

 

Leave a Reply