Đánh thức khát vọng của học trò


Lê Văn Vỵ

Khi việc dạy học Văn ở trường phổ thông chăm chắm vì mục đích thi cử (thi HS giỏi, thi tốt nghiệp, thi ĐH, CĐ) thì việc giã từ những mục đích cao cả, vì mục đích thực dụng trước mắt là một tất yếu. Nếu đề ra thi tốt nghiệp THPT, BTTH không thoát khỏi các khuôn mẫu xơ cứng thì việc học cho đến luyện thi cũng không thoát khỏi lối học thi cử.

 “Hành lang hẹp” và vị thế của thầy giáo trong giờ giảng Văn

Đã 30 năm trực tiếp giảng dạy Văn học ở trường phổ thông, tôi đã ngẫm ra những nghịch lý trớ trêu ấy. Chúng tôi đã từ chân trời của những khát vọng, những điều tuyệt vời mà rơi xuống dạy văn thực dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thi cử của học trò. Cái gọi là tích luỹ của tôi trong bấy nhiêu năm dạy văn bắt đầu từ dạy HS để đi thi. Không ít đồng nghiệp đã từng muốn được chia sẻ, muốn được học hỏi chút kinh nghiệm luyện thi môn Văn của tôi mà mỗi lần nhắc đến niềm tự hào trong tôi đã nhường chỗ cho sự tiếc nuối. Này nhé: Đề thi tốt nghiệp THPT hay BTTH hai đề chọn 1. Mỗi đề có từ 2 câu, trong đó có 1 câu phụ (2 điểm) và 1 đến 2 câu chính. Câu phụ có mấy dạng sau đây: Dạng 1: Tóm tắt tác phẩm văn học. Trong chương trình văn 12 có vài tác phẩm tự sự (thuộc văn học Việt Nam) và dăm tác phẩm tự sự văn học nước ngoài. Thầy giáo có thể tóm tắt và cho HS tóm tắt. Dạng 2: Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Điều này không khó, chỉ hướng dẫn HS học thuộc lòng là đâu vào đấy. Dạng 3: Nêu tóm tắt cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học của tác giả. Về cuộc đời có thể trình bày: Năm sinh, năm mất, quê quán, gia đình, cuộc đời tác giả (lưu ý những sự kiện liên quan đến văn học). Về sự nghiệp sáng tác văn học có thể trình bày quan điểm sáng tác văn học, các giai đoạn sáng tác, tác phẩm chính, giá trị nội dung, nghệ thuật, đánh giá tác giả… Như vậy, “thi gì học nấy” đã khiến cho thầy giáo có sáng tạo cũng chỉ “trong hành lang hẹp” (Nguyễn Minh Châu). Và đây là một rào cản trong tiến trình dạy văn trong trường phổ thông.

Thức dậy khát vọng trong HS qua mỗi giờ Văn

Dạy – học bất cứ môn nào quan trọng nhất là thức dậy khát vọng học tập trong HS. Khi HS nguội tắt nhiệt huyết và lòng đam mê thì kết quả không như mong muốn là một tất yếu. Quả là có một phần của SGK (chúng tôi đã có khảo sát từ phía HS và sẽ trở lại vấn đề này trong một dịp khác), có một phần từ thầy cô mà môn Văn ngày một nhạt dần với học trò. Có hàng loạt nghịch lý diễn ra: Thời gian rất có hạn mà tri thức thì không cùng, môn học thì quá tải mà thời gian, sức học của HS thì có hạn. Tác phẩm văn chương (đặc biệt là những tác phẩm xuất sắc) khai thác mãi vẫn không hết ý nghĩ sâu xa, mà thời gian trên lớp lại rất hạn hữu. Vì vậy, thắp sáng khát vọng cho HS qua mỗi giờ giảng là điều quan trọng hơn là cung cấp, nhồi nhét cho HS một mớ kiến thức. Con đường học tập là con đường suốt đời. Thắp sáng ngọn lửa cho HS là một cách để các em đam mê, dấn thân vào con đường tri thức nhân loại. Có thể nói, tri thức trong giờ giảng của thầy giáo là tri thức cơ bản, tri thức ban đầu để HS tự đi tiếp trên con đường chông gai ấy.

Đối với môn Văn trong nhà trường có điều kiện để thức dậy khát vọng trong HS. Đó là khát vọng sống cao đẹp mà mỗi giờ giảng văn từ vẻ đẹp của hình tượng, của ngôn ngữ thầy giáo có thể tạo được một không khí văn chương, không khí ngự trị của cái cao đẹp, thức dậy trong các em biết bao khát vọng sống tuyệt vời. Theo đó “Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu là áng văn bi tráng về người nông dân dấn thân vì nghĩa cả, ánh lên vẻ đẹp của đạo lý, của lẽ sống của dân tộc và chỉ hai câu văn thôi: “Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc thấy lại thêm buồn/ Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì nghe càng thêm hổ” cũng đủ để thầy trò đối thoại với nhau về sống, chết, về nhục vinh, vấn đề của muôn đời, muôn người. Hoặc chỉ một câu trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao: “Ai cho tao lương thiện?” cũng đủ để cho thầy và trò nghiền ngẫm về nỗi xót xa, đau đớn, phẫn uất của người nông dân trước cách mạng, về tấn bi kịch không được làm người lương thiện…

Thức dậy khát vọng trong lòng học trò, thức dậy lòng yêu tiếng Việt, biết nói lời hay, ý đẹp, biết tích luỹ làm giàu vốn ngôn ngữ phong phú của mình là công việc không chỉ ngày một, ngày hai.

Thức dậy khát vọng học trò trong những giờ giảng văn là tạo ra bầu không khí văn chương. Đó là một bầu không khí cởi mở dân chủ, bầu không khí đối thoại. Bước vào giờ giảng là bước vào một không khí được sẻ chia, được trao đổi, tâm tư, ở đó, thầy và trò bình đẳng với nhau trong quá trình khám phá và sáng tạo. Mọi áp đặt, mọi thiên kiến chủ quan, mọi bài xích và thoá mạ sẽ giết chết không khí văn chương. Bao nhiêu năm đi dạy, chúng tôi đã kiên nhẫn, đã khuyến khích để lắng nghe được ý kiến từ học trò. Một câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ, vừa sức; một ánh mắt thiện cảm, một lời động viên khích lệ, một sự chờ đợi không nôn nóng, một sự tranh thủ thêm nhiều ý kiến, một giả định, một nhận xét thoả đáng, đó là những gì ngoài văn chương hết sức cần thiết để nhen lên khát vọng từ học trò vốn dĩ đã nguội lạnh. Kể cả những lúc chấm bài cho HS cần trân trọng từng sáng tạo của các em, sửa chữa những lỗi nhỏ bằng những nét bút, con chữ hết sức cẩn trọng là một việc làm có ý nghĩa.

Để cho HS được nói lên những ý nghĩ chân thật tự sâu thẳm tâm hồn mình là một điều cần thiết và kể cả những lúc HS vào cuộc tranh luận, tôi lắng nghe, chưa bao giờ tôi đánh mất vị thế của mình là nhân vật “trung tâm” của giờ lên lớp.

Nguồn: http://www.gdtd.vn

Leave a Reply