Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam sau 1986


Phùng Gia Thế

Gần đây, thuật ngữ “hậu hiện đại” được giới cầm bút VN nhắc tới ngày một nhiều trong các cuộc hội thảo, toạ đàm và các bài phê bình, nghiên cứu. Phút đầu bỡ ngỡ, mới làm quen, nó được gọi một cách đầy nghi ngờ, như một hiện tượng “quái chiêu” hoặc có hơi hướng “tội phạm”: “cái gọi là hậu hiện đại”.

Tới nay, sau khoảng hơn chục năm, dầu đã bớt đi sự ngờ vực, song giới nghiên cứu nhìn chung vẫn còn có thái độ dè dặt khi tiếp cận nó. Điều này không phải không có cơ sở. Nhiều người lo bị phê là mắc chứng sính dùng thuật ngữ mới để làm sang, để trang trí. Có người lại nghĩ ngay: nước mình đang trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá, nói “hậu hiện đại” làm chi. Có người lại cho đây là sự bày đặt khái niệm. Kẻ ôi dào, bên Tây thì trào lưu trường phái của họ cứ ồn ào xôm xả, biết đâu mà lần. Ai đó cũng có thể quan niệm: viết văn thì lúc nào mà chả rốt ráo tìm tòi, sáng tạo, nhiều giá trị văn học chẳng đã trở thành vĩnh cửu đó sao, hà tất cứ phải dán nhãn rằng hiện đại hay hậu hiện đại… Và, thêm một lý do nữa, giản dị hơn nhiều: nó khó. Khó, nhưng giàu tiềm năng, cho nên những người cầm bút VN vẫn có những quan tâm đáng kể, với hy vọng: biết đâu, từ cách tiếp cận này mà ta có thể đối thoại được nhiều hơn với văn học đương thời; biết đâu, đây lại chẳng phải là một khuynh hướng có nhiều triển vọng… Rồi nữa, ta cứ gọi mãi văn học sau 1986 là “văn học đổi mới” liệu đã thoả đáng chưa, trong khi đổi mới là bản chất của văn nghệ mọi thời? Nền văn học VN từ sau 1986, có hiện tượng nào nên gọi là “hậu hiện đại” không, hay cứ như cũ mà gọi: sự tiếp nối sử thi, phản sử thi, hay tiếp tục hiện đại hoá…?

Tôi cho rằng, việc đặt ra các thuật ngữ này hay khác để khái quát đặc điểm những giai đoạn phát triển của văn hoá – xã hội hay văn nghệ là một đòi hỏi tất yếu lịch sử, xin miễn bàn. Vậy nên, sau từ “nghệ thuật”, ta luôn luôn có các định ngữ đính kèm, kiểu: “nguyên thuỷ”, “trung cổ”, “cận đại”… Thế thì, việc dùng thuật ngữ “hiện đại”, rồi “chủ nghĩa hiện đại”, phải chăng lúc đầu không gây chút bỡ ngỡ nào hay sao cho những người thời đó quen với “trung cổ”, “phục hưng”, “cổ điển”, “khai sáng”? Tôi nghĩ là có. Nhưng dùng lâu, mà có lý thì thành quen, rồi nghiễm nhiên được thừa nhận. Vậy thuật ngữ “hậu hiện đại”, “chủ nghĩa hậu hiện đại” mà người phương Tây dùng hơn một thế kỷ nay, rồi phổ biến trong nghiên cứu hàn lâm từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước hẳn không giản đơn là chuyện nói ngược. Nó phải có lý do để tồn tại. Lý do để tồn tại của nó ở phương Tây, là hiển nhiên, cũng không bàn. Băn khoăn của người nghiên cứu ở ta tôi cho không phải chỗ đó, mà ở chỗ cái gọi là “chủ nghĩa hậu hiện đại” ấy, có ảnh hưởng gì đến ta không, cụ thể hơn, đến văn chương của ta không? Văn học Việt Nam tiếp thu gì ở trào lưu văn nghệ tiên phong này, hay dị ứng và chối bỏ nó? Ở phương Tây, trên tinh thần chống lại sự áp đặt của cái chính thống, đòi quyền sống cho các phát ngôn nhỏ, chấp nhận nhiều cách nhìn, thậm chí bất đồng, “ngộ luận”, việc biến “hậu hiện đại” thành một thứ “chủ nghĩa” xem ra thật khó khăn.

Tuy thế, trong nghiên cứu khoa học, tránh sao được việc quy phạm hoá. Vậy nên, thay vì thuật ngữ “hậu hiện đại”, người ta vẫn gọi nó là “chủ nghĩa hậu hiện đại”. Tôi cho rằng, nếu không có một triết học hậu hiện đại với tư cách một trường phái (hiểu theo nghĩa cổ điển) thì vẫn có, cái gọi là văn hoá hậu hiện đại. Nghĩa là, vẫn có thái độtâm thức, hay là cảm quan hậu hiện đại. Hiển nhiên ai cũng biết, ở Việt Nam, không thể có một chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn chương theo ý nghĩa đầy đủ của thuật ngữ này. Tuy thế, vẫn có cơ sở để khẳng định: có những dấu ấn, dấu hiệu của nó. Tất nhiên, tôi không ngây thơ cho rằng đương đại là hậu hiện đại, mà chỉ muốn nói, trong cái đương đại, hàm chứa những mầm mống, dấu hiệu của thi pháp hậu hiện đại. Lý do thật không khó hiểu. Thứ nhất, sự đổi thay trong mô hình xã hội, đời sống văn hoá – lịch sử quy định những kiểu cảm nhận đặc thù của con người về đời sống. Thứ hai, những ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp của văn hoá, văn học nước ngoài, đặc biệt là ở thời đại Internet. Thứ ba, sự trương nở của nhiều yếu tố nghệ thuật truyền thống, của các thể loại truyền thống – những thứ xưa kia chưa được khai thác triệt để hoặc bị xem nhẹ, nay lại trở thành diện mạo chính, thành yếu tính của văn chương. Vậy, dấu hiệu nào được coi là “hậu hiện đại” trong văn chương ở ta?

Theo tôi, cái “hậu hiện đại” nổi bật nhất trong đây chính là “cảm quan hậu hiện đại”. Thời đại lịch sử – xã hội cụ thể hiển nhiên sẽ làm nảy sinh trong nó những kiểu tâm trạng xã hội tương ứng. Vậy, cái gì là “cảm quan hậu hiện đại”? Có thể nói vắn tắt, đó là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần của thời đại: nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính áp đặt của cái chính thống, của các phát ngôn lớn, sự đảo lộn trong các thang bảng giá trị đời sống, sự mất niềm tin, bơ vơ, lạc loài, vong thân, tâm trạng hồ nghi tồn tại và tình trạng bất an của con người… Đấy là tinh thần chung nhất. Còn sự thể hiện chúng trong văn chương lại khá đa dạng, phức tạp. Có thể lấy một ít ví dụ trong văn xuôi ở ta gần đây (bởi dung lượng bài báo, xin phép không bàn sang các thể văn khác). Chẳng hạn, ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đó là những câu chuyện về sự vô nghĩa của cuộc đời, sự bê tha nhếch nhác của con người, sự bơ vơ lạc loài của cái đẹp. Ở Phạm Thị Hoài, là câu chuyện về một thế giới vô hồn rất ít sự gần gụi mang tính người, về những cuộc chia tay. Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ám ảnh bởi sự khủng hoảng niềm tin của con người, của nhà văn vào con người và cuộc đời, sự đổ vỡ của những trật tự đời sống xã hội và gia đình, sự ngắc ngoải ngưng đọng của đời sống, sự đánh mất bản ngã, phương hướng, sự băng hoại đạo đức, sự đau đớn bơ vơ, tình trạng bất an của con người. Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà thể hiện cái nhìn về một đời sống hỗn loạn, đổ vỡ. Văn chương Tạ Duy Anh là nỗi khắc khoải đi tìm bản ngã, tìm một giá trị thật sự nhân bản trên cái đời sống đổ nát, điêu tàn, là sự loay hoay lý giải, hoá giải những nỗi đoạ đầy con người từ tiền kiếp. Nhìn đời sống như những mảnh vỡ, tiểu thuyết Hồ Anh Thái thể hiện tinh tế những nỗi hoang mang về con người…

Nhà văn hậu hiện đại, phải chăng đang tuyên dương cho một thứ chủ nghĩa hư vô? Không phải vậy. Tôi cho rằng trách nhiệm công dân của họ vẫn rất cao, song họ cảm thấy rất rõ “sự bất lực” của mình. Văn chương hậu hiện đại hình như còn có xu hướng khước từ những sứ mệnh cao cả mà lịch sử từng đặt lên vai nó. Nhà văn, không dám đứng giữa trận đồ bát quái của cuộc đời để tuyên ngôn nữa. Viết, với họ giờ như một nghiệp chướng, hay chỉ là một cuộc chơi ngôn từ thôi. Chưa bao giờ như lúc này, văn chương nói nhiều đến thế về giới hạn của văn chương. Nó oằn mình đau đớn. Nó mong manh, nhỏ bé. Như kiếp hoa dại. Nếu thuật ngữ “cảm quan hậu hiện đại” được xác nhận thì tôi gọi đây là biểu hiện của kiểu cảm quan đặc thù ấy.

Để chuyên chở, thể hiện thái độ hậu hiện đại, phải có những hình thức nghệ thuật đặc thù. Tôi chỉ nói ở phương diện chung nhất: hình thức của cái nhìn – hình thức thế giới quan như một dấu hiệu quan trọng của tư duy hậu hiện đại. Đó là những chuyển động trong mô hình truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp như một nguyên tắc cấu trúc để thể hiện câu chuyện tâm thức thời đại: sự đa dạng và dịch chuyển liên tục của các điểm nhìn nghệ thuật; không có nhân vật trung tâm, lý tưởng; sự vặn gẫy vai nhân vật và vai tính cách trong hình tượng; vô số các hình tượng nhại; nhiều kết thúc; có thể “tháo dỡ” được; sự chuyển dịch, pha trộn làm đứt gẫy những giới hạn thể loại truyền thống; một cuộc “chơi” thể loại, kiểu truyện ngắn – tư liệu, truyện ngắn – nhật ký, truyện ngắn – dòng chảy ý thức, truyện ngắn – chân dung. Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương luôn luôn có nhiều tuyến chạy ngược – xuôi theo lối kết cấu song hành xoắn vặn, dung chứa ngồn ngộn những hỗn tạp, khốc liệt, đau đớn của cuộc đời, nhiều khi nó bơ vơ chẳng gặp nhau như kiếp người chẳng thể gặp nhau; nhiều tuyến truyện, nhiều nhân vật bị cố ý bỏ quên; rồi lối kể nhảy cóc; sự sáng tạo các điểm nhìn dị biệt; sự dung hợp nhiều thủ pháp hội hoạ, âm nhạc và điện ảnh; sự làm nhoà cái tinh tuyển và cái bình dân trong ngôn ngữ tiểu thuyết bởi những thanh âm trong trẻo và cả những tạp âm; sự “vênh lệch”, phi lý trong đối thoại; hiện tượng “dìm” nhân vật trong bể ngôn từ, như nhân vật bị chìm lỉm đi, vô tăm tích giữa cuộc đời. Đọc Nguyễn Việt Hà, thấy tác giả hầu như rất hạn chế việc phân tích nhân vật bằng tài hiểu tâm lý của mình. Điểm nhìn và ngôi kể liên tục được dịch chuyển, thay đổi.

Các nhân vật chính ở đây dường như đều có khả năng thế chỗ nhà văn trong việc kể chuyện. Mỗi cá nhân như một “nguyên tử” được đặt ở vô số các giao điểm. Nó tự kể chuyện mình, kể về cái nhìn của mình với người khác. Hiện thực là những diện mạo khác nhau tuỳ vào cách người ta suy cảm về nó. Một sự kiện lại có thể được nhìn từ nhiều phía, với những thời điểm trần thuật không trùng nhau. Rồi lối truyện của nhiều chuyện, văn bản của nhiều văn bản, tính phân mảnh của chủ thể, trần thuật phi trung tâm, cố ý lộ rõ sự can thiệp của tác giả vào câu chuyện, biến tiểu thuyết thành một trò chơi ngôn từ, một sự thăm dò, thử nghiệm của nghệ thuật… Rồi chất hài hước, nghịch dị và nhại được sử dụng như một nguyên tắc tổ chức tác phẩm. Nó không chỉ là thủ pháp, mà trở thành hình thức của cái nhìn. Chống lại sự đơn điệu, nhại trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, cái hài, cái nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái… vừa “lột tả” được một phần bản chất có thật của đối tượng, vừa dung hợp được cái bác học của suy tư, cái suồng sã của văn hoá bình dân, sức mạnh vô địch của trào tiếu dân gian. Và, với lối tự nhại, văn chương chẳng những là sự hoài nghi về các trật tự đời sống mà còn là sự nghi ngờ chính những khả năng, sứ mệnh mà người ta thường đặt ra cho nó.

Đọc Tạ Duy Anh, có thể nhận ra sự khai thác tinh tế đến run rẩy các điểm nhìn, sự chồng xếp các lớp thời gian, sự kiện, sự soi chiếu từ nhiều góc nhìn khác nhau các môtíp chủ đề, nhân vật… Nhiều người sẽ hỏi: dấu hiệu này, không có trong văn học hiện đại sao? Vậy ai dám quả quyết rằng không thể tìm thấy những dấu vết của nghệ thuật dân gian, trung đại trong văn chương hiện đại? Ai bảo chủ nghĩa lãng mạn không có yếu tố hiện thực?… Vẫn đề ở chỗ, trong các biểu hiện ấy, đâu là sự trú chân, là thủ pháp và đâu là yếu tính của nghệ thuật, là hình thức tư duy của nhà văn. Văn chương hậu hiện đại tuyệt đối không phải sự đoạn tuyệt với truyền thống. “Hậu hiện đại không phải là sự cáo chung của Hiện đại (…) mà là một quan hệ khác với Hiện đại” (J.F. Lyotard). Tôi thấy trong đây nhiều yếu tố của truyền thống vẫn được làm trương nở trong văn chương hậu hiện đại. Ví như, về nguyên tắc tổ chức tác phẩm, có nhiều dấu hiệu của kiểu tổ chức đồng dao, đề cao tính phân mảnh của đối tượng, hình thức huyền thoại… Những cách tân nghệ thuật như thế, phải chăng đã ít nhiều làm thay đổi cách đọc văn học của công chúng. Và cũng từ đây, bao ngõ ngách của đời sống được xới lật, bao tầng vỉa tâm thức của con người được khám phá, nhiều tìm tòi thử nghiệm được chứng thực.

Tôi cho rằng, có nhiều hướng cách tân văn học mà “hậu hiện đại” chỉ là một. Ở ta, đường hướng này lại không tách bạch. Nó vừa là sự tiếp thu văn học nước ngoài, vừa là sự khơi dậy những ngọn nguồn, những “mẫu” có từ truyền thống. Thậm chí, nó đi cùng với quá trình hiện đại hoá hình thức – một quá trình ít nhiều bị đứt mạch bởi giai đoạn “văn học sử thi”. Không nên dè dặt với cái mới, với cả cái mới chưa hay. Tôi cho rằng việc phát triển văn chương theo khuynh hướng hậu hiện đại là một xu hướng cần được cổ vũ. Đấy không phải là sự sao chép, cóp nhặt, lai ghép tuỳ tiện, mà là sự thay đổi của hệ hình tư duy, và trên hết, là đòi hỏi tất yếu của lịch sử – xã hội và bản thân văn học. Có thể gọi được chăng, đây là khuynh hướng phát triển văn chương theo hướng hoà nhập với tiến trình văn học thế giới, bên cạnh các khuynh hướng tìm tòi thử nghiệm khác của nền văn học Việt Nam sau 1986 nhiều màu vẻ?

Đại Lải, tháng 5/2007

Nguồn: Văn Nghệ, ngày 8/12/2007

Leave a Reply