Dấu ấn phương Tây trong văn học sử miền Nam 1954 – 1975


Lý Hoài Thu, Hoàng Cẩm Giang

Trong thế kỉ XX, chúng ta đã được biết đến rất nhiều các công trình văn học sử  Việt Nam với nhiều quan điểm và phương pháp khác nhau: Đó là Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm, 1943), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (Nhóm Lê Quý Đôn, 1957), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (Nhóm Văn- Sử- Địa, 1957), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (Nhóm Đại học Sư phạm, 1963) , Văn học Việt Nam 1930-1945 (Nhóm Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1961), Lịch sử văn học Việt Nam (Nguyễn Khánh Toàn, 1974)… Song cho đến nay, trong đánh giá của giới nghiên cứu văn học nói chung, chưa có mô hình nào trong đó thực sự là lí tưởng; chưa có một phương pháp nào thực sự là tối ưu. Nhiều cuộc hội thảo về văn học sử (vào các năm 1984, 2001…) đã được tiến hành nhằm “xây dựng một bộ lịch sử văn học Việt Nam hoàn thiện, có chất lượng khoa học cao và có giá trị chuẩn mực”(1). Để có được một bộ văn học sử như vậy, chúng ta không những phải tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới mà còn phải nhìn lại những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong những bộ văn học sử Việt Nam trước đây.

Giai đoạn 1954-1975, trong hoàn cảnh hai miền chia cắt, văn học miền Nam đã mang những đặc thù phong cách của văn học vùng miền. Ngành nghiên cứu và biên khảo văn học miền Nam đương thời đã phần nào thể hiện được hoạt động của địa phương lúc bấy giờ. Những công trình văn học sử của Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Phạm Văn Diêu, Lê Văn Siêu, Đỗ Khánh Hoan, Nguyễn Hữu Lợi… mang đến những cách nhìn nhận, lí giải và phương pháp tiến hành rất đa dạng và lí thú – đặc biệt trong việc tiếp thu các thành tựu nghiên cứu lý luận phê bình phương Tây. Đây là bộ phận văn học sử có nhiều điều mới mẻ và đáng quan tâm song hầu như chưa được khai thác và tìm hiểu kĩ lưỡng.

Do vậy, ở bài viết này, chúng tôi tập trung đi sâu tìm hiểu những dấu ấn của phương pháp phê bình văn học phương Tây trong các công trình văn học sử nêu trên, từ đó, đi đến một sự tổng kết, đánh giá khách quan những thành tựu cũng như những bất cập trong phương pháp viết văn học sử của các tác giả miền Nam trong tương quan so sánh với các tác giả miền Bắc viết theo quan điểm mácxít và trên cơ sở tiếp thu những thành tựu lý luận phê bình của thế giới. Hệ quả tất yếu sẽ là những bài học kinh nghiệm quý giá cho việc xác định những phương pháp nghiên cứu hiệu quả nhất cho chuyên ngành văn học sử nước ta trong thời điểm này. Trong phạm vi một bài viết, chúng tôi không khảo sát trên diện rộng tất cả những công trình nghiên cứu ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 mà chỉ tập trung vào hai bộ sách được coi là tiêu biểu nhất trên nhiều phương diện- đó là Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãngvà Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Thanh, “văn học sử bắt đầu manh nha từ trong những công trình biên soạn và các bộ sưu tập thơ văn trải qua hàng trăm năm của cha ông ta”(2). Khảo sát việc tuyển chọn thơ văn, cách sắp xếp phân loại các tác phẩm cùng nội dung các bài tựa, bài bạt, bài biểu dâng sách lên nhà vua trong các tuyển tập, chúng ta có thể nhận thấy một phần nào quan niệm của các tác giả trung đại về một số đối tượng văn học sử. Tuy nhiên, nhìn chung lại, các công trình đó mới chỉ dừng ở mức bình phẩm văn học mà chưa đạt tới trình độ nghiên cứu văn học; chỉ mới làm các tuyển tập văn học mà chưa có những thử nghiệm về biên soạn Lịch sử văn học, nhằm khái quát quá trình phát triển của văn học Việt Nam. Nói tóm lại, việc nghiên cứu Lịch sử văn học ở Việt Nam thời trung đại mới chỉ dừng lại ở những dấu hiệu ban đầu chứ chưa được ý thức như một ngành khoa học độc lập, có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng…

Văn học sử với tư cách một bộ môn khoa học thực sự chỉ bắt đầu xuất hiện khoảng giữa thế kỉ XX trong quá trình tiếp xúc văn học và khoa học nhân văn  phương Tây mà gần gũi nhất là văn học và khoa học nhân văn Pháp. Các trường học Việt Nam thời thuộc Pháp đã giới thiệu hầu như đủ các trường phái phê bình văn học của Pháp, từ trường phái phê bình của Sainte-Beuve, cho đến các trường phái thực chứng… Đặc biệt, việc cuốn Lịch sử văn học Pháp (1894) của Gustave Lanson (1857-1934) được sử dụng làm sách giáo khoa về văn học Pháp trong các trường trung học ở Việt Nam trong suốt thời Pháp thuộc, đã khiến cho phương pháp so sánh và lịch sử mà Lanson áp dụng vào công việc nghiên cứu tác phẩm văn học có một ảnh hưởng nổi bật ở Việt Nam. Kế thừa được phần tích cực của trường phái phê bình thực chứng ra đời trước đó mà Hippolyte Taine (1826-1893) là đại biểu, Lanson nhấn mạnh việc tìm hiểu tiểu sử tác giả, khảo sát các bản thảo, chú ý đối chiếu văn bản qua các lần tái bản, phải quan tâm phân tích kĩ lưỡng bản thân tác phẩm… Phương pháp tiếp cận này thực sự đã tạo ra một xu hướng mới có ý nghĩa khoa học trong công tác nghiên cứu văn học sử nước nhà.

Sau hiệp định Genève, đất nước chia đôi, văn học tồn tại hợp thức dưới hai chính thể thuộc hai khối khác nhau. Văn học miền Bắc (và vùng giải phóng miền Nam) quán xuyến mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống Mĩ – nguỵ. Văn học miền Nam (ban đầu chỉ là lực lượng tại chỗ về sau ngày càng đông đảo, được bổ sung từ Hà Nội và các vùng kháng chiến hồi cư) không chủ trương định hướng sáng tác, thả lỏng cho mọi sáng tạo tự do, vì thế nhiều khuynh hướng đối lập cùng song song tồn tại: chống cộng và hoà giải, tâm lí chiến và phản chiến, lại có cả văn chương đứng ngoài chính trị… Sự phân vùng không những làm cho tính chất của văn học hiện đại Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX không còn thuần nhất mà ảnh hưởng của các trào lưu hiện đại quốc tế đến văn học dân tộc của mỗi vùng cũng thật khác nhau: “Văn học miền Bắc tiếp thu kinh nghiệm của văn học Liên Xô, Trung Quốc, ra sức xây dựng cái Ta cộng đồng, mở rộng cảm hứng sử thi, sáng tạo những điển hình con người mới theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa (…) văn học miền Nam dưới chế độ Việt Nam cộng hoà… lại đào sâu vào hình ảnh con người tự do cá nhân… đồng thời đã tiếp xúc với những trường phái mới mẻ nhất của văn học Tây Âu như trường phái Tiểu thuyết mới, Phê bình mới, Hiện sinh chủ nghĩa…”(3).

Trong bối cảnh thực tiễn sáng tác đó, dĩ nhiên sẽ có những khác biệt nhất định về mặt quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn học giữa ngành văn học sử ở hai vùng văn học khác nhau: Văn học không thể tách rời khỏi sự tác động của những điều kiện lịch sử- văn hoá- xã hội cụ thể, của lằn ranh ý thức hệ đang tồn tại như một hiện hữu lịch sử. Đồng thời, do có bản chất là những công trình khoa học, các công trình nêu trên sẽ mang những hằng số bất biến về tính khách quan của các nhận định và các quan niệm văn học sử.

Nhìn chung, “khuynh hướng”, “phương pháp luận” chủ yếu, áp đảo trong các công trình nghiên cứu văn học nói chung và văn học sử nói riêng ở miền Bắc: đó là xã hội học mác xít. Trên tạp chí Nghiên cứu Văn- Sử- Địa, Nguyễn Đổng Chi – tác giả cuốn Việt Nam cổ văn học sử (1942) viết: “Văn học sử là những thiên lịch sử ghi những phong trào văn học phản ánh quá trình đấu tranh của con người (…). Văn học sử là lịch sử của cả nhân loại hay của riêng một dân tộc về phương diện văn học. Nó đòi hỏi người viết phải có một quan điểm duy vật lịch sử và đứng trên lập trường giai cấp vô sản”(4). Trong bài khái quát mở đầu bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, các tác giả nhận định: “Khi nghiên cứu, chúng tôi cố gắng theo lập trường mác xít (…) chứng minh mối quan hệ giữa hình thái kinh tế, chính trị với hình thái văn học”(5).

Xã hội học mác xít được sử dụng từ những năm 1935-1936 (do Hải Triều và những người bạn của ông trong cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh”) và từ năm 1954, ở miền Bắc, nó được áp dụng rộng rãi như một phương pháp chính thống (và có lúc được coi là duy nhất đúng). Phải nói rằng, phương pháp xã hội học đã mang lại một cơ sở khoa học, khách quan cho việc nghiên cứu văn chương nói chung và quy luật vận động văn học sử nói riêng. Sự xuất hiện của nó đã là một bổ sung rất cần thiết cho phương pháp bình văn trung đại và kiểu phê bình ấn tượng chủ nghĩa. Tuy nhiên, nếu đẩy nó lên thành tuyệt đối, nếu mải chạy theo cái xã hội được phản ánh trong tác phẩm, thậm chí đánh đồng nó với thực tế ngoài đời, thì việc nghiên cứu văn học chỉ là “cái cớ”, là “tài liệu” để tìm hiểu xã hội, là sự chứng minh cho những định đề sẵn có. Khuynh hướng cực đoan đó gọi là “xã hội học dung tục” với những biểu hiện “tuyệt đối hoá quan điểm giai cấp, quy thành phần giai cấp của nhà văn vào nội dung văn học hoặc ngược lại”(6).

Trong khi đó, Thanh Lãng, một tác giả miền Nam, với công trình Bảng lược đồ văn học Việt Nam, lại đặt nền tảng cho toàn bộ lý thuyết văn học sử của mình dựa trên quan niệm “văn học là một sinh hoạt, một cuộc sống” và nó cũng “động đạt, thăng trầm hơn cả cuộc sống con người”(7). Như vậy, trong hệ thống phương pháp nghiên cứu của Thanh Lãng, yếu tố tiếp nhận văn học đã được khẳng định ở một vị trí cực kỳ quan trọng. Thanh Lãng đã không “nhìn” các đối tượng văn học ở một góc chết, không đặt chúng vào một chỗ đứng nhất định nào đó mà thiên kiến chủ quan của nhà nghiên cứu muốn đặt vào. Qua việc phân tích “thân phận”, “cuộc đời” của Truyện Kiều (một tác phẩm), của Nho giáo (một dòng tư tưởng)… qua các thời đại, các thế hệ độc giả với những quan điểm đánh giá khác nhau, Thanh Lãng thực sự đã chứng minh được sức sống đa dạng và sự tái sinh không ngừng của các đối tượng văn học trong thời gian. Đó chính là phương pháp tiếp cận vừa mang tính hệ thống, vừa mang tính lịch sử – cụ thể và rất phù hợp để tái hiện lại những “cuộc đời, những “tiến trình văn học”. Cụ thể hơn, đó là quá trình hình thành và tiếp nhận qua các thời đại khác nhau (điều kiện xã hội, lịch sử ảnh hưởng đến tâm lý độc giả và tác giả); sự liên hệ ảnh hưởng đồng đại và lịch đại giữa các hiện tượng văn học; bản thân diễn tiến đời sống văn học như nó đã tồn tại; những khuynh hướng chính, những nhân vật “dẫn đạo” của thế hệ văn học v.v… Qua đó, chúng ta cũng có thể thấy được những phương pháp nổi bật mà Thanh Lãng sử dụng là nghiên cứu so sánh (kể cả so sánh loại hình văn học) trên mọi cấp độ, khảo sát một cách thực chứng các tác giả, tác phẩm… dựa trên sự kê cứu tỉ mỉ và xác thực về mặt tài liệu, văn bản.

Giống như Thanh Lãng, trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Phạm Thế Ngũ – một tác giả Nam Bộ khác, cũng mang khát vọng “dựng lên một cái nhìn” tổng thể về “toàn bộ nền văn học nước nhà”. Công trình khảo cứu của ông được Trần Hữu Tá đánh giá là “bề thế, nổi trội hơn nhiều so với tất cả các công trình khác nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc đã được công bố trong các thành thị miền Nam”(8) trong giai đoạn 1954-1975. Về công việc viết văn học sử, Phạm Thế Ngũ nhận định: “Nghiên cứu văn học sử không dừng ở mức “thống kê, mô tả” hay sắp xếp các tác giả tác phẩm, sự kiện văn học để phụng sự một chủ nghĩa chính trị nào đó mà phải mang ý nghĩa “cống hiến những tài liệu về tư tưởng học thuật văn học, hơn thế còn giúp người đọc thưởng thức mỹ văn”(9). Về vấn đề nguyên tắc, Phạm Thế Ngũ luôn nhấn mạnh đến thái độ công tâm và khách quan trong việc đánh giá các hiện tượng văn học. Ông muốn nhìn nhận văn học như một đối tượng có tính độc lập tương đối với chính trị – xã hội và chú trọng nhiều hơn đến cái đẹp, đến tính hình thức, đánh giá một giá trị văn học dựa trên chính những đóng góp về mặt nghệ thuật của nó với tiến trình văn học, trong giới hạn lịch sử mà nó ra đời. Thuộc thế hệ học giả Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc vốn tri thức phương Tây đặc biệt là tri thức văn hóa Pháp, Phạm Thế Ngũ luôn có ý thức về việc áp dụng phương pháp luận khoa học phương Tây để nghiên cứu lịch sử văn học. Về vấn đề này, Phạm Thế Ngũ đã nhiều lần khẳng định, trong những nhận xét về các nhà biên khảo khác hoặc phát biểu trực tiếp của ông:  “… ta cũng cần ghi nhận những hướng tiến bộ do những nhà biên khảo có Tây học vạch ra (…) áp dụng phương pháp mới vào việc nghiên cứu…”(10) hay: “…. ta thấy sự du nhập tăng gia của tinh thần khoa học cũng như kiến thức học thuật Tây phương. Thêm mười năm học ở nhà trường Pháp, đọc sách ở thư viện Pháp đã khiến chúng ta tiến thêm nhiều về Pháp học. Phương pháp khoa học, óc lý luận tỏ rõ từ trong việc tìm kiếm và sử dụng tài liệu đến cách trình bày lý luận cùng thiên chương”(11). Chính ý thức cao độ, tính khoa học và duy lý về phương pháp đó đã giúp cho Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của ông rất phong phú và khá toàn diện trong nội dung, song cũng thật khúc chiết, rành mạch, chặt chẽ trong kết cấu: Các “thiên”, “chương”, “mục” được sắp xếp lớp lang và rõ ràng. Phạm Thế Ngũ cũng thường xuyên áp dụng các phương pháp nghiên cứu phương Tây như văn học so sánh, loại hình học, văn hóa học… trong công trình của ông.

Trong cuốn Lịch sử văn học Anh (1969), tác giả Đỗ Khánh Hoan cũng lựa chọn một lối viết theo kiểu “thế hệ văn học”. Tác giả cũng nhấn mạnh các yếu tố “địa lý”, “nhân chủng”, “cơ cấu xã hội”, “tình hình văn hóa – lịch sử”… nhưng không đặc biệt nghiêng lệch về yếu tố nào.

Bộc lộ quan niệm về Văn học sử một cách rõ rệt hơn là Lê Văn Siêu trong Lịch sử văn học Việt Nam từ thượng cổ đến hiện đại (1956). Mặc dù cũng thừa nhận: “Văn học phản ánh trung thành cơ sở xã hội hiện tại cũng như của quá khứ. Nó phải có một lịch sử tiến hóa của nó…” song tác giả cực lực phản đối việc chủ quan hóa trong phê bình, tức là “cưỡng ép cho tác giả phải nói và nghĩ theo lối nghĩ và nói của nhà phê bình”. Ông cho rằng để dung hòa được tính khách quan của lịch sử văn học và sự đóng góp sáng tạo riêng của nhà văn học sử, là nhà văn học sử đó cũng phải chỉ ra được “phần mà tác giả đã giúp… vào sự tiến hóa tinh thần của dân tộc”(12).

Trong Việt Nam văn học sử trích yếu (1969), giáo sư Nghiêm Toản cũng nhấn mạnh: “Văn học sử là một khoa học, vốn tự nó đã rất khó, thường đòi hỏi một học vấn uẩn súc, lại cần nhiều khoa học phụ như: ngữ nguyên, từ ngữ, văn phạm, nhân chủng, xã hội, lịch sử…”(13).

Cũng như Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ, Nghiêm Toản luôn đặt văn học trong “phạm vi văn hóa gồm cả văn chương, học thuật, tư tưởng” và việc “khảo” về chúng qua “các tài liệu”(14).

Tóm lại, các tác giả miền Nam thời kỳ này mặc dù vẫn thừa nhận, vẫn kết hợp sử dụng phương pháp luận xã hội học, song họ không đặt nó trở thành phương pháp luận chủ đạo, chính yếu, chi phối toàn bộ công trình văn học sử của mình. Việc viết lịch sử văn học của họ, về mặt quan niệm là sự kết hợp của nhiều phương pháp khác nhau nhưng chủ yếu là các phương pháp nghiên cứu khoa học của phương Tây mà rõ nét nhất là của Pháp: họ đều nỗ lực viết lịch sử của bản thân đời sống văn học trong mối ràng buộc phức tạp với hình thái xã hội – tinh thần (hơn là kinh tế); mục đích lớn nhất của họ là “nghiên cứu các hiện tượng văn học cụ thể nhằm giải thích quy luật của chúng, chứ không nhằm khen chê”(15). Phần lớn họ đều hấp thụ nguyên tắc chủ đạo của nhà viết văn học sử Pháp G. Lanson, xem lịch sử văn học là một bộ phận của lịch sử văn minh, một phần tuân thủ phương pháp thực chứng của Sainte – Bruve, phần nào hấp thụ nguyên lý của H. Taine (nhưng chú trọng văn bản), phần nào theo Brunetière, chú trọng sự tiến hóa của hình thức thể loại.

Vốn kiến văn sâu sắc nhất của họ – Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ – vẫn là Pháp văn, do đó quan niệm về Văn học sử Phương pháp nghiên cứu văn học sử của họ cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ trường phái phê bình khác nhau của Pháp.

Nếu như ở phần văn học Trung đại, cách thức phân kỳ ở các bộ văn học sử hai miền Nam Bắc là rất khác nhau, rất đa dạng (tiến trình văn học được phân chia theo: thể loại, ngôn ngữ, triều đại, thế kỷ…) thì bước sang thời kỳ văn học hiện đại, các bộ văn học sử này khá thống nhất trong một cách thức chung (chia lịch sử văn học dân tộc thành nhiều giai đoạn nhỏ với những mốc thời gian (năm) khác nhau; trong mỗi giai đoạn đó họ lại tiếp tục chia nhỏ hơn nữa nếu thấy cần thiết). Như vậy, những khác biệt (nếu có) giữa các bộ văn học sẽ chỉ tập trung vào vấn đề lựa chọn mốc thời gian và nguyên tắc nghiên cứu.

Với các tác giả miền Bắc, đó là sự thống nhất trong việc chọn các mốc 1858(Pháp mở màn cuộc xâm lược Việt Nam); 1900 (Kết thúc thế kỷ XIX); 1930 (Đảng cộng sản Việt Nam thành lập); 1945 (Cách mạng tháng Tám thành công). Như vậy tần số mốc thời gian lựa chọn theo sự kiện lịch sử chiếm ưu thế hơn hẳn so với các sự kiện văn học.

Trong khi đó, với các tác giả Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ, tình hình diễn biến một hướng khác. Các mốc phân kỳ: 1862 (Pháp lấy ba tỉnh miền Đông Nam Bộ; Cao Bá Nhạ viết Tự tình khúc – áng văn được coi là tác phẩm quan trọng cuối cùng của văn Nôm lịch triều); 1907(Đông Kinh nghĩa thục thành lập bắt đầu phong trào Duy tân; Nguyễn Văn Vĩnh về lập tờ báo quốc ngữ Đăng cổ tùng báo, lập nhà in và hội dịch sách đầu tiên ở Việt Nam; Tú Xương, Đào Tấn, Paulus Của từ trần; Toàn quyền Bean lập Hội đồng cải cách giáo dục để đưa tân học vào nhà trường); 1913 (Phan Bội Châu bị bắt ở Quảng Đông; Nguyễn Văn Vĩnh lập tờ Đông Dương tạp chí, dịch bài Con ve được coi là mầm mống của thơ Mới); 1932(Bảo Đại hồi loan và hô hào “cải cách học chánh”; Tự lực văn đoàn được thành lập, phong trào thơ Mới nảy sinh, Tản Đà cho in Khối tình con tập 3 kết thúc sự nghiệp thi ca của mình)… hầu như đều là những mốc mang ý nghĩa kép: Đó là năm vừa có sự kiện lịch sử, văn hoá, xã hội nổi bật, vừa có sự kiện văn học quan trọng đánh dấu điểm khởi đầu hoặc kết thúc của một khuynh hướng, một trào lưu hay một hiện tượng văn hoá. Và phần lớn chúng được lựa chọn và ý nghĩa văn học sử nhiều hơn là ý nghĩa lịch sử xã hội.

Về tiêu chí phân kỳ, Phạm Thế Ngũ chủ yếu sử dụng các tiêu chí hình thức: ngôn ngữ thể loại. Ông muốn nhìn nhận văn học sử phải độc lập với chính trị, nhà nghiên cứu văn học sử phải khách quan trong việc nhìn nhận đánh giá cái đẹp và chú trọng đến tính hình thức, tính nghệ thuật của văn học. Trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Thanh Lãng lại đưa ra một tiêu chí phân kỳ độc đáo: “Tiêu chí thế hệ”. Trong phần “Văn học thời đại mới” Thanh Lãng đã dùng phương pháp này để “cắt lát” văn học hiện đại thành ba thế hệ kế tiếp nhau: 1. Thế hệ Đối kháng (1862-1913); 2. Thế hệ Liên hiệp (1913-1932); 3. Thế hệ Đoạn tuyệt (1932-1945). Ba thế hệ trên là kết quả của phương pháp quy nạp loại hình nhà văn dựa trên sự tương đồng về mặt tư tưởng chính trị văn hoá của mỗi nhóm tác giả trong mỗi thời kỳ (“đối kháng”, “liên hiệp” hay “đoạn tuyệt” là phương thức ứng xử văn học khác nhau của mỗi nhóm tác giả với văn học phương Tây mà chủ yếu là văn học Pháp). Như vậy ở đây sự phân kỳ của Thanh Lãng vừa dựa trên những biến cố quan trọng của văn học, vừa trên những đặc điểm chính trị xã hội của thời kỳ lịch sử đó.

Như vậy, mặc dù quan niệm về tiêu chí phân kì của hai tác giả Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ không giống nhau, song cả hai ông đều kết hợp nhiều tiêu chí khác nhau (thuộc cả nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật) để phân kỳ văn học. Do đó các ông có một cách nhìn nhận không mang tính “quyết định luận”, và cũng đánh giá khách quan, thấu đáo nhiều hiện tượng văn học có giá trị nghệ thuật (như Thơ Mới, Tự lực văn đoàn). Tuy nhiên, cả hai cách lựa chọn tiêu chí phân kỳ nêu trên vẫn còn những “lỗ hổng” khiến cho diện mạo lịch sử văn học chưa thể được “lấp đầy”. Mặt khác, một bộ phận quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại là văn học cách mạng, (văn học “khu vực bất hợp pháp” thời Pháp thuộc) không được theo dõi và đánh giá.

Như chúng tôi đã phân tích trong các phần trước, đối tượng mà  các công trình văn học sử theo quan điểm mác xít hướng đến, trước hết phải là những yếu tố nội dung. Nền văn học ấy có biểu hiện “chủ nghĩa yêu nước”, “tinh thần dân tộc”, “tính chất nhân đạo”, “tính đấu tranh” không? Việc nghiên cứu “tác giả” trở thành thứ yếu và phụ thuộc vào các yếu tố nội dung ấy. Các bộ văn học sử miền Bắc “đặc biệt coi trọng thái độ chính trị của từng tác gia”(16) cũng như “ý thức đấu tranh giai cấp” của họ(17). Phương hướng nghiên cứu tác giả phổ biến là xuất phát từ “tình hình xã hội, trạng thái đấu tranh giai cấp, cùng những nhân tố xã hội đã quyết định tính chất và khuynh hướng của các dòng văn học”, rồi mới “lần lượt nghiên cứu từng tác gia” – một kết luận đã được ấn định trước và vừa được chứng minh(18). Cách tiếp cận như vậy có ưu điểm là nó đã chỉ ra được sự tác động của yếu tố xã hội lịch sử với mỗi tác gia, nhưng nhược điểm là chưa thể hiện được ảnh hưởng, đóng góp trở lại, riêng biệt và không thể thay thế tác gia đó với nền văn học dân tộc.

Xét một cách tổng thể, số lượng các tác gia được nghiên cứu độc lập ở cả hai công trình của Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ trên đều rất lớn: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên: 70 tác gia; Bảng lược đồ văn học Việt Nam: 39 tác gia – chưa kể đến những tác gia được nhắc đến hoặc được rút ra làm luận cứ, luận chứng cho các chương mục. (Trong khi đó, bộ Lược thảo – bộ có số lượng tác gia được nghiên cứu vào loại nhiều nhất ở miền Bắc cũng chỉ có 22 tác gia). Rõ ràng sự chênh lệch số lượng này thể hiện những quan niệm khác nhau về sự lựa chọn tác gia tiêu biểu của mỗi vùng miền.

Về cơ cấu đội ngũ tác gia, do nghiên cứu dựa trên những tiêu chí thuộc về hình thức nghệ thuật, thuộc về bản thân đời sống văn học hơn là những tiêu chí nội dung, tiêu chí chính trị xã hội nên Phạm Thế Ngũ và Thanh Lãng đã có sự mở rộng cơ cấu nghiên cứu tác gia. Một số tác gia – do thái độ chính trị “có vấn đề cần bàn” – nên không được giới nghiên cứu mác xít lúc ấy nhắc đến hoặc nhắc một cách dè dặt trên tinh thần phê phán là chủ yếu như Chu Mạnh Trinh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Tôn Thọ Tường,  Phan Thanh Giản, Nguyễn Tường Tam, Dương Khuê, Hồ Biểu Chánh… thì công trình của Phạm Thế Ngũ và Thanh Lãng lại được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng – tất nhiên về mặt đóng góp với đời sống học thuật, văn hoá, văn học nước nhà.  Thêm vào đó, việc Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ quan tâm nhiều hơn đến văn học miền Nam nói chung và các tác gia miền Nam nói riêng (như Bùi Hữu Nghĩa, Hồ Biểu Chánh…) cũng góp phần mở rộng hơn cơ cấu tác gia nghiên cứu (cũng chính là mở rộng thêm diện mạo văn học dân tộc).

Cả Phạm Thế Ngũ và Thanh Lãng đều có ý thức tìm hiểu, đánh giá một tác gia thông qua tổng số lớn nhất, chuẩn xác nhất những tư liệu, văn bản trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tác giả. Đánh giá khá đầy đủ khối lượng tác phẩm đã đành, hai ông còn quan tâm đến các công trình nghiên cứu, các cuộc tranh luận, bàn luận của các nhà nghiên cứu khác về tác giả rồi qua đó đưa ra những luận điểm của riêng mình. (Đó chính là cách các ông đã làm khi trích dẫn liên tục các ý kiến khác nhau về trường hợp Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Vũ Trọng Phụng…) bằng một phương pháp thực chứng rõ rệt. Hai ông cũng luôn có ý thức đặt nhà văn vào bối cảnh văn hoá, xã hội, lịch sử cụ thể của thời đại, của thế hệ anh ta để đánh giá những đóng góp và của những giới hạn không thể vượt qua của nhà văn đó. Đó cũng là lý do chủ yếu của những nhận định: “Nhưng tất cả chỉ là tương đối. Cái mà ngày nay ta cho là khuyết điểm. Ta nên nhớ Nguyễn Trọng Thuật viết truyện vào cái thời mà mục đích của nghệ thuật là phục vụ luân lý, đạo đức, chính nghĩa (…). Nguyễn Trọng Thuật, bởi vậy là người ở trong thế hệ ông”(19); hoặc: “Muốn biết chính những nhà nho đã hiểu và thưởng thức văn Nôm như thế nào thì phải trở lại đọc những bài phê bình theo lối trực giác giản ước của mấy nhà phê bình lớp trước ấy”(20). Đây chính là những dấu hiệu của sự kết hợp giữa quan điểm lịch sử cụ thể với phương pháp nghiên cứu văn học lịch sử  vốn rất được “ưa chuộng” sau này.

Những phương pháp chủ yếu trên kết hợp với các thao tác cụ thể: phân tích, bình luận, thống kê… là sự biểu hiện bước đầu tính khoa học của công trình nghiên cứu. Đó là những phương pháp mà giới văn học sử phương Tây đã sử dụng ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, trong đó có phương pháp xã hội học mác xít. Sự kết hợp nhiều phương pháp khác nhau là một yêu cầu tất yếu đối với một đối tượng phức tạp, “đa diện”, “đa trị” như lịch sử văn học và ở mặt này giới nghiên cứu miền Nam đã có những đóng góp đáng ghi nhận.

Về tiêu chuẩn để đánh giá tác phẩm văn học, các nhà nghiên cứu mácxít ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975 khá thống nhất trong quan điểm. Trên tạp chí Văn- Sử- Địa số 17 (tháng 5/1956), Văn Tân – tác giả của hai bộ Sơ thảo Sơ giản đã khẳng định tiêu chuẩn để định giá trị một tác phẩm văn hoá là “tiêu chuẩn chính trị” và “tiêu chuẩn nghệ thuật” trong đó tiêu chuẩn thứ nhất bao giờ cũng được đặt trước tiêu chuẩn thứ hai(21). Thêm nữa, trong tiêu chuẩn thứ nhất (“nội dung”) họ luôn hướng sự quan tâm đến nội dung “phản ánh sinh hoạt xã hội” đến tính chức năng của nội dung đó hơn là những nội dung tự thân của nó. Với phương pháp này, nhiều mối quan hệ giữa các tác phẩm văn học và môi trường sáng tác, bối cảnh lịch sử, xã hội xung quanh tác giả tức là với những yếu tố “ngoài văn học”đã được làm sáng tỏ. Song cũng chính vì thế mà tính nghệ thuật, tính hình thức hay những liên hệ nội tại của tác phẩm đôi khi lại bị coi nhẹ hoặc chưa được nghiên cứu đầy đủ, số lượng tác phẩm được trích giảng không thật nhiều (trừ Lược thảo) và chưa thể hiện được sự đa dạng của phong cách văn học do sự “sàng lọc” của các tiêu chí chính trị nội dung nêu trên.

Trong ba bình diện nghiên cứu tác phẩm văn học về mặt lý luận: 1) Cấu trúc văn bản; 2) Bình diện tâm lý – xã hội; 3) Bình diện dân tộc- thời đại thì Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ đều dành sự chú ý cho cả ba.

Về cấu trúc văn bản, cả hai nhà nghiên cứu đều quan tâm đến tính chỉnh thể của tác phẩm văn học: họ nghiên cứu tác phẩm văn học trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật mà không thiên lệch về bên nào. Tuy nhiên, họ chưa đặc biệt phân tích mối liên hệ qua lại chặt chẽ giữa nội dung và nghệ thuật. Cách làm phổ biến vẫn là tách riêng “nội dung” (cốt truyện, tư tưởng, nhân vật…) và “nghệ thuật” (kết cấu, bố cục, ngôn từ, thể cách…) như hai mục độc lập trong qúa trình phân tích tác phẩm (thao tác chủ yếu họ sử dụng: lược thuật, phân tích, bình giảng…).

Mặc dù vậy, chúng ta vẫn nhận thấy – dù không thường xuyên – dấu hiệu của thi pháp học trong công trình của họ: Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ đều có đề cập nhiều lần đến “quan niệm” của nhà văn về con người về nghệ thuật, và sự ảnh hưởng của quan niệm ấy đến các yếu tố khác của tác phẩm. (Ví như Phạm Thế Ngũ viết về Lê Văn Trương: vì nhà văn quan niệm con người lý tưởng phải là một “người hùng”, một “siêu nhân” nên “tiểu thuyết của ông có khuynh hướng lý tưởng (….) khuynh hướng luận đề”(22). Theo dõi những “khái niệm công cụ” khi phân tích tác phẩm, chúng ta nhận thấy họ cũng đã có nhắc và bàn đến “không gian”, “thời gian”, “chất thơ”, “kết cấu”, “cảnh trí”, “phong cách”, “ngôn từ”… trong tác phẩm. Tóm lại, dưới ánh sáng phân tích của khoa học phương Tây, họ phân chia các tác phẩm thành nhiều lớp để tiếp cận nó, và đã bước đầu chạm đến thi pháp học, đặc biệt là Thanh Lãng. Đơn cử như khi ông khái quát: “Lưu Trọng Lư là thi sĩ của những âm thanh rền rĩ, êm đềm tản mát trong cỏ cây…”(23)hay “Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân nó  thơ thứ nhất ở khung cảnh, một khung cảnh trong đó mọi cái đang tàn tạ, chập chờn, nó thơ ở trong quan niệm thời gian đang tiêu mòn, lả lướt…”(24).

Còn  Phạm Thế Ngũ, đôi khi ông nghiêng về phê bình ấn tượng và đặc biệt chú ý tính “mỹ cảm”, “xúc cảm nghệ thuật” của tác phẩm – như đoạn viết về tiểu thuyết Nhất Linh sau đây: “Thêm vào những khung cảnh về quê quen thuộc để giác quan nhuộm tươi ánh sáng đồng nội hay ký ức ôn lại kỷ niệm ấu thơ, ao ước in bóng chòm tre những đêm sao, luống cải nở hoa vàng có bướm trắng bay lượn (…) hồn mộng vẫn chập chờn đôi cách bướm trắng, hình ảnh của một hạnh phúc thiên đường đã trót để lỡ”(25).

Về mối liên hệ ngang trên bình diện tâm lý xã hội, cả hai nhà nghiên cứu đều phân tích đến sự phản ánh tâm lý xã hội, tâm lý thời đại của tác phẩm văn học, tuy nhiên, đó không phải là sự phản ánh trực tiếp, đơn giản các sự kiện xã hội mà thông qua những “bộ lọc” riêng: Phạm Thế Ngũ chú ý đến hai  khía cạnh quan niệm nghệ thuật và quan niệm nhân sinh của thời đại, còn Thanh Lãng thì đặt tác phẩm vào tâm lý chung của thế hệ mà tác phẩm được sinh ra. Không chỉ phân tích ảnh hưởng của “tâm lý xã hội – tâm lý thời đại” lên quá trình sáng tác, hai nhà nghiên cứu trên còn đặc biệt lưu ý tác động của nó đến qúa trình tiếp nhận văn học. Đây là một nét mới, hiện đại, là đóng góp riêng của hai công trình này với ngành văn học sử Việt Nam. Khi tìm hiểu một tác phẩm, hai ông luôn có ý thức tìm hiểu thái độ và cách thức tiếp nhận của độc giả đương thời hoặc ở nhiều thời khác nhau. Quay trở lại trường hợp Tố Tâm: Phạm Thế Ngũ đã viết hẳn một mục mang tựa đề “Người đương thời với Tố Tâm” để “hiểu rõ tại sao Tố Tâm đã gây được một tiếng vang lớn, đã chinh phục được độc giả”; nguyên nhân chính là do tiểu thuyết này đã “ứng hoạ” đã đáp ứng được nhu cầu tâm lý của lớp độc giả trẻ lúc bấy giờ. Thanh Lãng cũng dành đến hai trang để nói về “ảnh hưởng ngoài ý muốn tác giả” của tiểu thuyết Tố Tâm với công chúng thế hệ 1913-1932.

Phương pháp nghiên cứu tiểu sử tác giả đôi lúc cũng được áp dụng để giải thích và bình luận tác phẩm. Đó là trường hợp Phạm Thế Ngũ giải thích về tính lý trí trong thơ Thế Lữ(26) hay chất hiện thực trong phóng sự Vũ Trọng Phụng(27)… hoặc Thanh Lãng lý giải vấn đề tôn giáo của thơ Hàn Mặc Tử, mối sầu riêng trong Giọt lệ thu – Tương Phố(28).

Sự khám phá tác phẩm văn học trên bình diện văn hoá- lịch sử cũng là một điểm mạnh của hai công trình nêu trên. Cả Phạm Thế Ngũ và Thanh Lãng đều dành một phần quan trọng của công trình để nghiên cứu những tri thức văn hoá, nghệ thuật cần thiết cho việc tìm hiểu tác phẩm (như bối cảnh văn hoá, học thuật… của từng giai đoạn; vấn đề ngôn ngữ văn tự, tính chất vùng miền trong văn học…). Đặc biệt là Phạm Thế Ngũ, do lấy cơ sở xuất phát là sự vận động các thể loại trong tiến trình văn học dân tộc nên ông đã theo dõi rất kỹ qúa trình hình thành phát triển của mỗi thể loại từ truyền thống đến hiện đại. Ông chỉ rõ cho người đọc con đường tiểu thuyết đã đi từ “truyện Nôm” của văn học trung đại, đến “tiểu thuyết dịch” và “phóng tác” thời cận đại và những tiểu thuyết thực sự của văn học hiện đại: Đó là con đường vừa kế thừa, tiếp thu vừa vượt qua những giá trị truyền thống  của dân tộc, đồng thời cũng là con đường không ngừng sáng tạo ra những yếu tố mới. Nhà nghiên cứu đã áp dụng rất thành thục các phương pháp loại hình học văn hoá, loại hình thể loại tác phẩm… để có được những phân tích xác đáng và có giá trị nêu trên.

Ở cấp độ quốc tế, Phạm Thế Ngũ và Thanh Lãng cũng đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc nghiên cứu quát trình giao lưu, ảnh hưởng của văn hoá – văn học phương Tây (chủ yếu là văn học Pháp) đến văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Những ảnh hưởng  này được phân tích đến cấp độ của từng tác phẩm: về cốt truyện và mô hình thể loại (“tiểu thuyết phóng tác” của Hồ Biểu Chánh), về phương pháp sáng tác (“cổ điển”, “lãng mạn”, “tượng trưng” trong thơ 1932-1945), về chuẩn mực thể loại (“tiểu thuyết tâm lý” của Hoàng Ngọc Phách, “truyện đường rừng” của Lan Khai…). Hướng tiếp cận văn học so sánh và phương pháp nghiên cứu loại hình tuy chưa được tiến hành một cách đồng bộ, hệ thống  song cũng đã phát huy hiệu quả rõ rệt – đặc biệt trong giai đoạn diễn ra qúa trình hiện đại hoá văn học dân tộc dựa trên sự tiếp thu “các yếu tố” hiện đại từ văn học thế giới.

*

Các nhà văn học sử miền Nam, do điều kiện lịch sử xã hội khác miền Bắc, đã tiếp xúc với rất nhiều nguồn sách báo ngoại văn, đặc biệt là sách báo của Anh, Pháp. Trong một thời gian dài cuốn Lịch sử văn học Pháp của Gustave Lanson từ khi ra đời vào 1894 đã ảnh hưởng rất nhiều đến các nhà viết văn học sử Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Ngay cả các nhà viết văn học sử sau này ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 cũng không nằm ngoài ảnh hưởng ấy. Về phương pháp phân kỳ lịch sử văn học, Lanson vẫn khảo sát theo thế kỉ và thời đại. Bên cạnh đó “ông quy nạp các loại hình nhà văn theo trường phái triết học, tôn giáo. Đặc biệt ông chú ý nhiều đến nhân tố văn hóa, chú ý soi sáng văn học bằng các sự kiện văn hoá…”(29). Xét hệ thống phân kỳ văn học sử của Phạm Thế Ngũ, đem so sánh hệ thống ấy với hệ thống phân kỳ lịch sử văn học Pháp của Lanson, ta thấy rất gần gũi. Đặc biệt, việc tách văn học khỏi những khoa học xã hội khác, việc coi trọng những nhân tố văn hoá trong khi lí giải về các hiện tượng văn học của ông cũng rất giống quan điểm của Lanson về văn học. Thanh Lãng cũng chịu ảnh hưởng của Lanson về quan niệm văn chương nhưng ông chịu ảnh hưởng nhiều hơn ở cách quy nạp loại hình nhà văn (Lanson phân chia lịch sử văn học Pháp thành 7 thời kì tương ứng 7 thế hệ nhà văn). Bên cạnh đó, Thanh Lãng còn chịu ảnh hưởng về phương pháp phân kỳ theo thế hệ nhà văn của Albert Thibaudet: Bộ Lịch sử văn học (từ năm 1789) đã chia văn học Pháp thành 5 thế hệ nhà văn kể từ 1789 đến trước thế chiến lần thứ nhất.

Tóm lại, những ảnh hưởng từ các hệ thống và mô hình văn học sử phương Tây (đặc biệt là Pháp) đến các bộ văn học sử miền Nam giai đoạn 1954-1975 là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, đây là sự tiếp thu có chọn lọc những gì phù hợp với đặc thù văn hóa dân tộc, với bản thân nền văn học dân tộc, đồng thời thể hiện được phần nào tính sáng tạo của mỗi nhà nghiên cứu. Cả Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ đều chỉ lựa chọn ở trường phái Lanson hay một trường phái nào khác của phương Tây những phương pháp nào mà hai ông cho là phù hợp với văn học Việt Nam.

Không ai có thể phủ nhận một thực tế là do nhiều nguyên nhân lịch sử văn hoá mà hai miền Nam Bắc có xuất phát điểm khác nhau, có hành trang khác nhau khi bước vào thời kỳ hiện đại. Các nhà nghiên cứu văn hoá học từng nhận xét: “Văn chương miền Nam Hà đã gần như có hẳn những phương pháp, những quy luật, một cá tính tách biệt hẳn sự phát triển của văn chương Bắc Hà từ ngã rẽ Nguyễn Hoàng”(30  và “Do di sản văn hoá quá khứ không nặng nề, tính chất quan phương chính thống, tính chất “cổ điển”, “báo học” chưa thấm sâu vào văn học viết miền Nam  nên sự kiện đại hoá ở đây đã diễn ra nhẹ nhàng trôi chảy hơn miền Bắc”(31). Chính xuất phát điểm đó đã tạo cho văn chương miền Nam nói chung và thể loại khảo cứu phê bình ở miền Nam nói riêng một tâm thế luôn sẵn sàng đón nhận yếu tố mới, yếu tố “hiện đại”- mà chủ yếu có khởi nguồn từ ngoại lai.

Đặc biệt, sau năm 1954, sự chia cắt về lãnh thổ, về chính trị, về chính sách văn hoá giữa hai miền đã tạo nên những khác biệt lớn về hướng phát triển văn học Nam-Bắc như chúng tôi đã từng đề cập phía trên. Chính sách văn hoá rộng mở và sự có mặt của quân đội nước ngoài trên lãnh thổ miền Nam khiến cho sách ngoại văn không thể kiểm soát được. Phong trào dịch thuật cũng phát triển mạnh mẽ “… năm 1972 số sách dịch tại miền Nam chiếm tỷ lệ 60% tổng số sách xuất bản”(32). Những nguồn sách này mang những trào lưu tư tưởng khác nhau và đã chi phối không nhỏ đến các tác giả: Mỗi tác giả đều thoải mái lựa chọn cho mình một lý thuyết, một quan điểm thích hợp và ứng dụng vào văn học nước nhà.

Thêm vào đó, chúng tôi muốn nói tới một nguyên nhân xuất phát từ cá nhân nhà nghiên cứu. Cả Phạm Thế Ngũ và Thanh Lãng đều là những giáo sư giảng dạy văn chương với nền tảng kiến thức chủ yếu được tiếp nhận từ các trường đào tạo của Pháp nửa đầu thế kỉ XX. Do đó, trong công trình của hai ông, dấu ấn của văn hoá Pháp và phong cách khoa học Pháp – thái độ đề cao sự duy lý, rõ ràng, minh xác song vẫn coi trọng sự thưởng thức mỹ cảm – vẫn sâu đậm hơn dấu ấn của văn hoá Anh, Mỹ. Cả hai ông đều cố gắng tách khoa học văn học ra khỏi chính trị và nghiên cứu nó như một đối tượng khách quan với những phương pháp phù hợp với đối tượng ấy.

Những thành công và thiếu sót của các tác giả trong việc áp dụng các phương pháp khoa học vào nghiên cứu văn học sẽ là những gợi ý quý báu cho các nhà nghiên cứu lịch sử văn học đầu thế kỉ XXI viết lại các bộ văn học sử mới cho nước nhà

_______________

(1) Văn học sử – những quan niệm mới, những tiếp cận mới. Viện Thông tin KHXH, H, 2002, tr.1.

(2) Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX. Viện Văn học. Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2002, tr.1015.

(3) Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX. Sđd, tr.100.

(4), (18), (21) Nghiên cứu Văn – Sử – Địa (1954-1959). Những vấn đề lịch sử ngữ văn. Viện Văn học. Nxb. Khoa học xã hội, H, 2004, tr.403, 516, 509.

(5) Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam. Nhóm Lê Quý Đôn. Nxb. Xây dựng, Hà Nội, 1956-1957, tr.8.

(6) Lại Nguyên Ân. 150 thuật ngữ văn học. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002, tr.283.

(7), (19), (23), (24) Thanh Lãng: Bảng lược đồ văn học Việt Nam. Tập 1. Nxb. Phong trào văn hóa, Sài Gòn, 1967, tr.21, 514.

(8), (9), (10), (11), (20), (22), (25), (26), (27), (28) Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên. Tập 1. Nxb. Đồng Tháp, 1999, tr.9, 658, 209, 675, 209, 550, 642, 579, 523, 499.

(12) Lê Văn Siêu: Lịch sử văn học Việt Nam từ thượng cổ đến hiện đại. Nxb. Thế giới, Sài Gòn, 1956, tr.11.

(13), (14) Nghiêm Toản: Việt Nam văn học sử trích yếu. Nhà sách Vĩnh Bảo, Sài Gòn, 1949, tr.3.

(15), (29) Văn học Việt Nam thế kỉ XX. Phan Cự Đệ (chủ biên). Nxb. Giáo dục, H, 2004, tr.711, 54.

(16) Văn Tân: Sơ thảo văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957, tr.6.

(17) Văn học Việt Nam. Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ, Hoàng Như Mai. Nxb. Khoa học xã hội, 1961, tr.17.

(30) Nguyễn Văn Xuân: Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân. Nxb. Đà Nẵng, 2001, tr.55.

(31) Trần Nho Thìn: Văn học Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa. Nxb. Giáo dục, H, 2003, tr.292.

(32) Trần Trọng Đăng Đàn: Văn hóa văn nghệ Nam Việt Nam 1954-1975. Nxb. Văn hóa thông tin, H, 2000, tr.432.

Nguồn: Nghiên cứu văn học số 3/2007

 

Leave a Reply