Đề tựa Trích diễm thi tập



Hoàng Đức Lương

Thi ca không lưu lại được hết ở đời cũng có lý do. Người xưa đối với thơ, có khi lấy “nem chả” mà hình dung, có khi lấy “gấm thêu” mà so sánh. Nem chả là vị tuyệt ngon trong thiên hạ, gấm thêu là màu tuyệt đẹp trong thiên hạ, hễ đã là người có miệng, có mắt thì đều biết quý trọng, không dám khinh thường và bỏ qua. Đến như thơ, thì lại là màu sắc ngoài mọi màu sắc, không thể ngắm bằng con mắt thông thường; là mùi vị ngoài mọi mùi vị, không thể nếm với khẩu vị thông thường. Chỉ có chính thi nhân mới có năng lực nhìn ra màu sắc ấy và nghiệm thấy mùi vị ấy. Đó là lý do thứ nhất khiến cho thi ca không lưu lại hết ở đời.

Từ Lý – Trần dựng nước đến nay, [nước ta] vẫn gọi là nước văn hiến. Các bậc “tao nhân mặc khách” nhờ tài năng riêng mà nổi tiếng với đời, lẽ nào lại chẳng có ai? Nhưng những người học thức nhiều, danh vọng lớn, giữ chức vụ trọng yếu ở trong quán các, thì vì công việc bó buộc, không còn chút nhàn rỗi để biên soạn. Còn những người làm quan xa, chức vị thấp, cùng những kẻ lận đận ở nơi trường ốc thì đều mãi lo làm tròn phận sự của mình. Đó là lý do thứ hai khiến cho thi ca không lưu lại hết ở đời.

Thỉnh thoảng, cũng có người ham thích công việc [sưu tập] thì lại bị người khác chê bai là trách nhiệm nặng nề mà sức quá mỏng; thành thử, nếu có xúc tiến cũng đến [bỏ dở] nửa chừng. Đó là lý do thứ ba khiến cho thi ca không lưu lại hết ở đời.

Sách vở về đời Lý – Trần, loại được truyền bá rộng rãi, phần nhiều chỉ là sách chép việc nhà Phật. [Như thế] có phải là lòng sùng Nho không sâu sắc bằng lòng sùng  Phật đâu! Chỉ vì đạo Phật không bị cấm đoán, [nên bao nhiêu trước tác nhà Phật] đều được đem khắc bảng gỗ [để truyền lại]. Còn thơ văn thì nếu chưa được trộm phép thánh chỉ, tức chưa dám cho ban hành. Đó là lý do thứ tư khiến cho thi ca không lưu lại hết ở đời.

Xét ra, với 4 lý do kể trên bó buộc, [lại] trải qua ba triều đại ròng rã, thì dẫu những đồ vật bằng vàng, bằng đá, được quy giùm thần giúp chăng nữa, cũng đến phải tan tác đắm chìm, huống chi là tập sách còn sót, tờ giấy mỏng manh, ở tận đáy rương, đáy hòm, sau cơn binh hỏa mà còn có thể giữ nguyên được, không hề gì hay sao?

Đức Lương này đối với môn “thi học” chỉ còn biết dựa vào các lưu phái thi ca đời Đường, còn như thơ các đời Lý – Trần thì không có căn cứ nào để khảo sát, đính chính. Một đôi khi có nhặt được dăm chữ nửa câu ở nơi chỗ “giấy rách vách nát” thì thường vỗ sách mà thở than, có ý thầm đổ lỗi cho các bậc học thức tài danh đương thời. Than ôi! Há có một nước văn hiến, dựng nước đã mấy nghìn năm, thế mà không có lấy một chút sách vở gì làm bằng, đến nỗi phải quay lại đọc sách của các tác gia đời Đường, chẳng cũng đáng đau xót lắm thay!

Để  bổ  cứu những thiếu sót [đã qua], tôi không tự lượng sức mình, quên đi cái lẽ thường là không có bằng cứ thì chẳng ai tin, và nỗi lo lắng trách nhiệm nặng mà sức quá mỏng, bôn ba sưu tập, hỏi han khắp nơi. [Thế mà] tất cả những gì thu thập được cũng chỉ là một hai trong trăm ngàn phần. Bèn chọn lọc rộng [thêm] ở [những trứ tác của] các vị đang tại triều, nhặt lấy những gì tinh túy nhất, rồi sắp xếp, phân loại thành các thiên, được 6 quyển, đặt tên là Trích diễm. Và tiếp vào cuối quyển, cũng xin mạo muội phụ vào một ít sáng tác vụng về [của tôi], dùng làm lời giáo huấn trong gia đình.

Vả chăng, việc phẩm bình, cân nhắc văn chương mà có chút ý vị, là ở chỗ, cốt sao cho [thơ văn được] truyền bá rộng ra, ngõ hầu tránh được lời chỉ trích của người sau đối với hiện nay, như [chúng ta] hiện nay đã chỉ trích người xưa vậy.

                                    Mùa xuân năm thứ hai mươi tám, niên hiệu Hồng Đức (1497).

Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1478) là HOÀNG ĐỨC LƯƠNG, người huyện Gia Lâm, giữ chức hoa lang tham nghị đề tựa (1).

HUỆ CHI dịch

 

………………………………………………………………………….

(1)  Bản sao chép là kinh kinh không có nghĩa tạm chữa lại là vãng vãng.

Leave a Reply