Đề xuất một cách nhìn đối với việc đổi mới dạy và học văn


Hoàng Hồng Hà

Môn Văn học đang đứng trước những áp lực của xu hướng thực dụng trong xã hội hiện tại. Niềm say mê văn chương và sự chọn lựa của học sinh phổ thông đối với môn Văn đang suy giảm. Thực tế này ai cũng có thể nhận xét. Tuy nhiên, còn một thực tế nữa cũng có thể khiến chúng ta suy ngẫm: trong lớp công dân trẻ, niềm say mê với thơ văn, niềm yêu thích đối với ngôn từ đẹp và giàu hàm ý, niềm mong muốn viết được, nói được tiếng Việt một cách hay hơn, đẹp hơn, sang trọng hơn… vẫn là những say mê, những mong muốn thực sự hiện hữu.

Nghịch lý là trong khi thực tế môn Văn đang bị hạ giá èo uột trong sự lựa chọn khối thi  vào đại học, trong chọn ngành chọn nghề, thì sinh viên các trường đại học sau 4 – 5 năm được giải phóng hoàn toàn khỏi nỗi khổ học Văn, được học đúng chuyên ngành mình mong muốn, đặc biệt ở các chuyên ngành thời thượng như kinh tế, tài chính, kỹ thuật công nghệ…  lại đổ xô đi học kỹ năng mềm, lo sợ rằng mình thiếu kỹ năng mềm thì sẽ không xin được việc, không thể thăng tiến dễ dàng và nhanh chóng trong công việc. Một trong các “kỹ năng mềm” mà khoá học nào cũng ca tụng và tập trung rèn luyện cho học viên là “kỹ năng trình bày vấn đề”, “kỹ năng thuyết trình”, “kỹ năng nói trước công chúng”, “kỹ năng viết một đề án/ một hồ sơ hay, sáng tạo, thú vị”. Một đòi hỏi khác, chưa nổi bật và cụ thể thành các tiêu chí, nhưng được nhiều nhà tuyển dụng cho biết rất chú ý tìm kiếm, đó là những phẩm chất nhân văn – chưa hẳn đã dám nhắm tới những mục tiêu cao xa như chấn chỉnh tình trạng bạo lực xã hội, gian lận thương mại, suy giảm y đức… mà chỉ nhắm vào những mục tiêu cơ bản: để hợp tác tốt hơn trong công việc, để hiểu biết con người, để chấp nhận sự khác biệt văn hoá…, nhưng cũng rất khó tìm thấy phẩm chất này trong các ứng viên.

Khi không có một nền tảng căn cốt gốc rễ sâu bền, thì việc viết tốt hay nói tốt là một điều bất khả. Những phẩm chất nhân văn cũng không phải là thứ mà một khoá học ngắn ngày có thể trang bị được cho học viên. Chỉ có thể dạy những thủ thuật xảo thuật dối gạt cảm xúc của người đối diện, những xảo thuật dùng được một thời gian ngắn là “hết bài”, hoặc “đụng hàng” nhan nhản do được sản xuất theo quy trình công nghiệp. Người học có được một kỹ năng ngụy trang, những nguyên liệu cần thiết cho sự ngụy trang này đầy rẫy trên Internet. Kết quả cuối cùng là một con người với những mảng miếng tâm hồn vay mượn, được đánh bóng bằng sự thành đạt bề ngoài, lo sợ, cảnh giác và do đó bài xích bất kỳ sự chân thành thực sự nào có nguy cơ làm tan rã lớp ngụy trang của anh ta.

Mặt khác, từ một góc nhìn khách quan hơn, có thể coi những kiểu trò chuyện cụt ngủn của giới trẻ, những biến dạng méo mó hình hài của ngôn ngữ chat, những cụm từ được thành lập theo motip “sát thủ đầu mưng mủ” bông phèng giễu cợt vẻ đẹp hài hòa của ngôn ngữ có thể là một xu hướng phản kháng lại cách dạy, cách nói, cách giảng và cả cách nghĩ quá áp đặt, cứng nhắc trong nhà trường. Phản ứng này không nhằm một mục tiêu cao xa là loại trừ ngôn ngữ có tính “chính thống”, đây chỉ là một phản ứng để ngôn ngữ điều chỉnh phần nào cách tiếp cận với những thế hệ người dùng mới. Song, do tình trạng này kéo dài, hoặc những điều chỉnh có phần chậm chạp, người trẻ chấp nhận dần một chuẩn mực thấp của sự diễn đạt, theo kiểu nói vậy mà vẫn hiểu được đấy thôi, chỉ cần thế thôi miễn hiểu là được rồi, tất yếu dẫn đến sự dễ dãi trong cách nghĩ cách nói. Đến lúc cần, việc viết lách đối với sinh viên đại học, nhất là sinh viên các khối ngành kinh tế kỹ thuật và thậm chí sinh viên các ngành khoa học xã hội, trở thành một việc vất vả, khó có thể sửa chữa được hoàn toàn, sửa chữa một cách sâu sắc, vì bản thân căn cốt đã hỏng mất rồi.

Từ góc nhìn này, xin thử để xuất một ý kiến nhỏ về việc thay đổi cách nghĩ về môn Văn, cách dạy và học Văn để sản phẩm giáo dục đáp ứng được nhu cầu thực tế và nâng cao vai trò của giáo dục văn học trong việc xây dựng một con người toàn diện.

  1. Dạy văn dưới góc nhìn phát triển cá nhân

Có thể kết nối văn học, học văn, dạy văn và việc bồi dưỡng nền tảng phẩm chất nhân văn cho người học, đồng thời quan niệm dạy văn như một cách phát triển những phẩm chất cá nhân của mỗi người?

Câu trả lời đương nhiên là: có

Bởi vì thực chất việc phát triển những phẩm chất cá nhân cũng là bồi dưỡng nền tảng phẩm chất nhân văn cho người học, chỉ là một mà thôi, và là một trong các chức năng, thuộc tính cơ bản của văn học: nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ… Các chức năng này chỉ có thể phát huy sức mạnh của nó khi người đọc được trực tiếp “gặp gỡ”, thâm nhập văn bản tác phẩm.

Khi định hướng thêm nhiều những nhiệm vụ khác nhau cho việc giảng dạy văn học, đề cao tính nhận thức, tính giáo dục, chúng ta đã xa dần tính thẩm mỹ, làm suy giảm yếu tố cảm xúc, sáng tạo, khiến cho việc học tác phẩm trong nhà trường trở nên nặng nề, dẫn đến tình trạng văn mẫu, chép lại đề cương dàn ý từ các tài liệu “học tốt” hoặc từ chính gợi ý của thầy cô, triệt tiêu cách nghĩ, cách tiếp xúc cá nhân với văn bản tác phẩm một cách trực tiếp và tự do. Điều khác nhau cơ bản giữa việc một độc giả trẻ chọn mua và say mê một quyển sách trong hiệu sách và một học sinh ngán ngẩm soạn bài giảng văn phòng khi giáo viên kiểm tra, là việc độc giả trẻ kia được tự do tiếp xúc thẳng với tác phẩm mà không cần trả lời những câu hỏi về bố cục, ý nghĩa, đại ý…Anh ta tự do tiếp nhận những ý nghĩa mà tác phẩm mang lại cho mình, với một sự chủ động không lo lắng, hoàn toàn thoát khỏi kiểu đọc văn cứng nhắc, giáo điều.

Trên báo Văn nghệ số 10, 7 – 3 – 2009, GS. Trần Đình Sử có bài viết Con đường đổi mới cơ bản phương pháp dạy – học văn. Một trong những khẳng định mạnh mẽ của bài báo là: đổi mới phương pháp dạy học văn phải lấy việc trở về với văn bản làm tâm điểm. GS. TS. Huỳnh Như Phương cũng bàn đến việc “Dạy lý luận văn học cũng vậy, không phải là dạy một thứ lý luận do ông thầy hay các giáo trình tái chế mà là dạy những lý thuyết văn học từng cọ xát, tranh biện, chuyển hoá lẫn nhau và người sinh viên cần được tiếp cận với thông điệp của chính các “giáo chủ” chứ không phải chỉ thông qua lăng kính của “kẻ truyền giáo”[i].

Việc tiếp cận văn bản tác phẩm một cách trực tiếp, lấy “văn bản tác phẩm làm tâm điểm” không phải là một lý thuyết hoàn toàn mới mẻ, nhưng nếu nhìn từ cả phía xã hội lẫn phía giới chuyên môn, đây có lẽ là một giải pháp cho việc giảng dạy môn Văn với một không khí tự do hơn trong nhà trường. Để thoát khỏi cách hiểu thô thiển về việc tiếp xúc trực tiếp với văn bản, GS. Trần Đình Sử đưa ra một số gợi ý: chú trọng dạy phương pháp đọc cho học sinh, giáo viên phải nghiên cứu mọi khả năng tạo nghĩa của văn bản, có thái độ phê phán chọn lọc, có lý lẽ đối với các cách hiểu khác nhau về văn bản; coi trọng thời gian tự đọc của học sinh; thầy giúp học sinh tìm ra “điểm chưa xác định” hay “điểm còn để trống” của văn bản… Thực tế, tất cả những điều này đòi hỏi bản lĩnh của người thầy. Trong một thế giới tự do hơn, thầy cũng cần  biết cách chấp nhận rủi ro, chấp nhận sự khác biệt của học trò.

Tất nhiên bên cạnh đó vẫn còn gánh nặng trách nhiệm của giáo viên, còn vấn đề điểm số, để học sinh đạt kết quả trong một kỳ thi, học sinh lấy được một tấm bằng… môn Văn và người dạy Văn cũng đang còn chịu nhiều ràng buộc. Chúng tôi đề xuất góc nhìn này không với mục tiêu bài xích hệ thống giảng dạy và đánh giá môn Văn hiện nay, mà để môn Văn được dạy trong sự hài hoà với những kỹ năng cá nhân, có chú trọng đến sự phát triển cá nhân, nhằm đạt được mục tiêu đầu tiên và cơ bản của các ngành nhân văn là “tạo ra những con người biết suy nghĩ độc lập, có tư duy phản biện, và có những kỹ năng cần thiết để có thể tham gia vào xã hội với tư cách là một chủ thể tự do”[ii] Giờ học Văn phải gần hơn với cái nhu cầu có thật: làm cách nào để diễn đạt tốt, để xây dựng được niềm vui đọc sách, để phát triển theo khả năng của mỗi cá nhân, để phát triển “khả năng độc lập tư duy, phán đoán sắc bén, ra quyết định hợp lý và giải quyết vấn đề có hiệu quả, cũng như kỹ năng diễn đạt và giao tiếp thành công với người khác”[iii].

Rõ ràng ở đây đã có sự kết nối giữa việc học Văn, dạy Văn với việc xây dựng một nền tảng nhân văn cho cá nhân, hình thành một văn hoá cá nhân để tạo ra một trí thức trẻ của xã hội với một chuẩn mực nhất định về văn hoá, bất kể trí thức đó thuộc lĩnh vực nào. Để thực hiện mục tiêu này cần nhiều thay đổi đồng bộ. Thay đổi đầu tiên dễ thực hiện và có thể bắt đầu ngay từ các nhà giáo là thay đổi phương pháp. May thay sự thay đổi này cũng khá hợp thời: một số phương  pháp dạy học mới đang được đưa vào áp dụng rộng rãi tại các trường PTTH và cả ĐH, thậm chí có những thời điểm đi đến đâu cũng thấy “giáo án điện tử” và “thuyết trình nhóm”. Tuy nhiên, nếu không thống nhất triết lý cơ bản của việc “trở về với văn bản làm tâm điểm” và sự tự do của người đọc, người học, chúng ta sẽ dễ rơi vào chỗ lấy đổi mới phương pháp làm một sự thoả mãn nhất thời và vô bổ.

  1. Một vài trao đổi kinh nghiệm từ thực tế ứng dụng phương pháp mới tại các trường PTTH và ĐH

Khác với những lớp học truyền thống đầy cảm hứng và dành cho một đối tượng người học khá chọn lọc khi giáo dục đại học còn đang ở trong giai đoạn “giáo dục tinh hoa”, hiện nay trừ một số trường như ĐH Sư phạm, ĐH KHXHNV, nơi Khoa Ngữ Văn và các môn Văn học vẫn giữ thế mạnh truyền thống, tại các trường ĐH khác, với các chuyên ngành có môn Văn học, Tiếng Việt trong chương trình, các lớp học Văn, Tiếng Việt có sĩ số có thể từ 80 sinh viên trở lên cho đến 200. Lớp đông là một vấn đề đối với cảm hứng giảng dạy và kỹ thuật của thầy, lớp đông với nhiều đối tượng và nhiều mức độ quan tâm khác nhau càng là một thử thách. Áp dụng phương pháp mới (phân nhóm, bài tập lớn, thuyết trình, sử dụng máy tính và projector…) là điều bắt buộc, nếu muốn quản lý tốt các lớp đông này.

Trong khi đó, ở bậc Phổ thông, xu hướng chuẩn bị giáo án điện tử, thay đổi phương pháp giảng dạy cũng vô cùng mạnh mẽ. Kết quả ban đầu đáng mừng là giáo viên chúng ta có thể dạy thơ, dạy văn xuôi và dạy cả các bài ôn tập văn học sử bằng các bài giảng powerpoint, có màu sắc âm thanh thu hút, bắt mắt. Chúng ta có thể chia nhóm cho học sinh chuẩn bị và thuyết trình. Tuy nhiên, sau đó, nỗi băn khoăn về việc học sinh học được gì, về việc vấn đề không được khắc sâu, không được khẳng định… đã khiến chúng ta trăn trở, và rồi kết cục đôi khi là chúng ta phải giảng lại, tóm lại, khắc sâu ghi nhớ bằng những câu cú súc tích, nặng nề hàn lâm mà học sinh phải học vẹt rồi phát biểu lại (đôi khi một cách ngô nghê) trong các giờ dò bài.

Vấn đề là, trong khi sử dụng các phương pháp giảng dạy mới, chúng ta cũng cần trao đổi để thấy rõ cái nào là không phù hợp với đặc trưng môn học của mình. Đơn cử 2 phương pháp thường được dùng: dạy học theo nhóm và sử dụng phương tiện hỗ trợ.

Khi dạy học theo nhóm, có thể phát huy những ưu điểm mà ai cũng thấy. Có thể sơ bộ tổng kết các ưu điểm của phương pháp này theo kiểu 4C: Choice (Sự lựa chọn), Challenge (Thách thức), Control (Sự kiểm soát), Co-operation (Hợp tác)[iv]. Phương pháp này giúp người học  ý thức được khả năng của mình, có thể thể hiện hoặc không thể hiện bản thân trước nhóm, trước lớp, nhưng việc so sánh (ngầm và cả không ngầm) là một trong những thao tác tất yếu, nâng cao động cơ học tập, niềm tin vào việc học tập, nâng cao khả năng vận dụng lý thuyết, phân tích tác phẩm trình bày tổng hợp vấn đề, đồng thời cải thiện mối quan hệ giữa các cá nhân, tăng khả năng làm việc theo nhóm, tôn trọng các giá trị dân chủ, đồng thời tính đồng đội sẽ làm giảm nỗi lo âu, nỗi sợ thất bại trong từng người học.

Nhưng bên cạnh đó, dạy môn Văn theo hình thức nhóm đồng thời có những nhược điểm: một nhiệm vụ được phân công theo nhóm là nhiệm vụ đòi hỏi tính cộng tác của người học, tính trao đổi và thống nhất quan điểm trình bày. Quá trình thảo luận và đi đến sự thống nhất này có thể bóp nghẹt một cách vô thức những tư duy cá nhân của người học, khiến người học cảm thấy không cần thiết hoặc ngại, lười có những tư duy cá nhân theo chiều sâu. Hứng thú mở những chuyến đi một mình vào thế giới bên trong tác phẩm, mà không có bạn đồng hành, có thể bị suy giảm hoặc triệt tiêu hoàn toàn. Từ đó dẫn tới khả năng tư duy độc lập của người học kém đi và những sáng tạo chiều sâu mang tính độc đáo cá nhân cũng dần dần giảm hẳn, chỉ còn lại một kiểu quan điểm được phát biểu theo kiểu hàng công nghiệp, những khám phá làng nhàng ở mức độ không sâu lắm, chỉ dừng lại ở khả năng chấp nhận của đám đông mà thôi. Nói cách khác, “nhóm” là một kiểu “tư duy đám đông” khá nguy hiểm, nếu giáo viên không khuyến khích sự độc lập làm việc, không khuyến khích tư duy cá nhân, chính “nhóm” sẽ làm ra các “thế bản” mới, thay thế cho các chính bản mà người học Văn cần tiếp cận.

Tương tự, việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ như Powerpoint, laptop, projector… có vẻ khá hiện đại.  Tuy nhiên, các slide powerpoint sau thời kỳ đầu làm mưa làm gió với các hiệu ứng, hình ảnh, âm thanh… đã bộc lộ các nhược điểm rõ rệt của mình, đặc biệt đối với việc dạy Văn và học Văn. Lớp học chuyển từ “đọc – chép” sang “chiếu – chép”, chuyển từ giảng viên độc thoại hàng giờ sang giảng viên chứng tỏ khả năng biết đọc từ màn hình ra cho sinh viên kiểm tra cách phát âm và lỗi chính tả! Nếu không có các tài liệu phù hợp để theo dõi và ghi chép, các slide lãng phí cả công sức thầy và trò, hiệu quả giờ giảng không đạt, chỉ làm cho lớp học chán nản hơn, thụ động một cách “công nghiệp” hơn. Trong cách thuyết giảng truyền thống, người học còn nghe và tư duy, khi chuyển sang màn hình trình chiếu, người học chỉ còn thụ động nghe và nhìn. Một mô hình, một sơ đồ thậm chí một sự thể hiện đơn giản bằng các mũi tên nếu sinh viên làm theo, vẽ theo giảng viên, sẽ được ghi nhớ lâu hơn một hình vẽ có sẵn trong các slide, cho dù hình vẽ đó được tô màu sắc rực rỡ.

Việc lạm dụng Internet cũng góp phần tạo ra một loại “hàng giả”, “hàng nhái” trong học trò, nhất là khi giảng viên không có điều kiện hoặc thời gian để kiểm tra hết các nguồn tư liệu. Bài trình bày của sinh viên có thể cực kỳ thú vị, sâu sắc, có tính học thuật cao bởi vì sinh viên đã… copy and paste từ đâu đó. Ẩn nấp bằng các khái niệm “tổng hợp”, “biên soạn”, nhiều khối kiến thức đã được mang ra làm một thứ nguỵ trang, lại trở thành một thứ “thế bản” thay cho chính bản. Dần dần, các “giá trị thao tác” sẽ thế chỗ các “giá trị tư duy”, việc lắp ghép trở thành một thói quen, một kiểu “fast food” học thuật nguy hiểm về sau.

Từ những vài kinh nghiệm của quá trình áp dụng các phương pháp, có thể thấy cần thận trọng hơn trước khi xem xét đưa vào sử dụng một phương pháp, dù là mới và hiện đại. Là một thế hệ được học Văn khi chương trình chưa đổi mới, phương pháp và phương tiện hỗ trợ hầu như không có gì, chúng tôi đã trưởng thành cùng với khả năng và niềm say mê của cá nhân được động viên bởi quá trình truyền thụ kiến thức của các thầy cô lấy sự tận tâm với học trò làm phương pháp cơ bản. Từ góc nhìn của một người tham gia giảng dạy và làm việc trong môi trường kinh tế – kỹ thuật, được trang bị khả năng diễn đạt, khả năng tư duy lập luận và giao tiếp mềm dẻo linh hoạt từ những năm tháng học khoa Văn, đặc biệt là từ khoa Văn trường ĐHSP Huế, chúng tôi nhận thức được sự cần thiết cấp bách và sức mạnh to lớn mà những khả năng đó mang lại. Nếu gắn chặt nhu cầu này với việc dạy và học Văn trong nhà trường, có thể tin rằng môn Văn trong nhà trường đang thực sự giải quyết một vấn đề của ngày hôm nay, của con người hiện tại.

 

Chú thích:

[i] Vũ Thị Phương Anh, Các ngành nhân văn của Việt Nam sẽ đi về đâu?

[ii] Vũ Thị Phương Anh, Các ngành nhân văn của Việt Nam sẽ đi về đâu?

[iii] Vũ Thị Phương Anh, Các ngành nhân văn của Việt Nam sẽ đi về đâu?

[iv] Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá, Trường ĐH Nha Trang

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá, Trường ĐH Nha Trang, 2006.
  2. Dạy Văn trong một xã hội đang biến đổi,  GS. TS. Huỳnh Như Phương, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
  3. Dạy học Văn ở trường phổ thông, vấn đề căn bản vẫn là đổi mới phương pháp, PGS. TS. Phan Huy Dũng, Giảng viên Khoa Ngữ văn – ĐH Vinh http://www.vinhuni.edu.vn
  1. Các ngành nhân văn của Việt Nam sẽ đi về đâu?, Vũ Thị Phương Anh,http://huc.edu.vn

Nguồn: http://dulichsaigonact.vn

Leave a Reply