Đỗ Đức Hiểu (1924 – 2002)


Ông sinh ngày 16/9/ 1924, mất 2002 tại Hà nội. Quê quán : xã Cổ Nhuế, huyện Từ liêm, Hà Nội. Từ nhỏ đến tuổi thanh niên, ông được đào tạo có hệ thống ở các trường học tại Hà Nội. Như ông đã tự nhận, trong  những năm trai trẻ ấy, cảm nhập vào con người ông là hai nguồn văn hóa  Đông và Tây, nói rõ hơn là Việt Nam và Pháp. Tư tưởng và tác phẩm của các nhà triết học, nhà văn cổ điển, hiện đại của Pháp được ông say mê tìm đọc, nghiền ngẫm. Đó là cái vốn trí thức đáng quý để sau này ông bước vào con đường giảng dạy, nghiên cứu văn học Việt Nam và nước ngoài có kết quả.

Sau khi học xong chương trình tú tài triết học, từ 1943 đến Cách mạng tháng Tám 1945, ông là sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội. Trong kháng chiến chống Pháp, từ 1946 đến 1954 ông là giáo viên trung học tại trường Hùng Vương (Phú Thọ) rồi trường Lương Ngọc Quyến (Thái Nguyên). Sau hòa bình lập lại đến năm 1958, ông làm việc trong Ban tu thư Bộ giáo dục và tham gia vào nhóm nghiên cứu, dịch thuật văn học mang tên Lê Quý Đôn (gồm Lê Thước, Hoàng Ngọc Phách, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn, Vũ Đình Liên và ông). Sau đó cho đến khi nghỉ hưu (1990), ông là cán bộ giảng dạy môn văn học Pháp tại khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, học hàm Giáo sư Văn học.

Chưa kể tác phẩm dịch mà ông tham gia trong nhóm Lê Quý Đôn, các công trình nghiên cứu, biên soạn ông cho xuất bản bao quát trên ba khu vực :

1. Nghiên cứu văn học phương Tây và văn học Pháp, gồm :

          –  Lịch sử văn học phương Tây (chủ biên, 2 tập, 1963)

          – Văn học công xã Pa ri (1978)

          –  Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa (1978)

        – Lịch sử văn học Pháp (đồng chủ biên với Lê Hồng Sâm, 5 tập, 1990-1992)

2. Nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam, soạn Tự điển văn học, gồm :

           – Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (viết chung trong nhóm Lê Quý Đôn)

           –  Từ điển văn học (chủ biên, 2 tập, 1983-1984)

           –   Điển tích văn học (viết chung với Mai Thục, 2000)

3. Phê bình, tiểu luận về văn học Việt Nam hiện Đại, gồm :

          – Đổi mới phê bình văn học (1994)

          – Đổi mới đọc và bình văn (1999)

          – Thi pháp hiện đại (2000)

Vào đầu những năm 80, tuổi ngót 60, dường như ông sống lại thời trai trẻ của mình, như tìm lại được chính mình sau bao năm dài. Ông ráo riết trang bị mới cho mình những kiến văn từ ngôn ngữ học, từ chương học, ký hiệu học, cấu trúc luận, phân tâm học, triết học thực chứng… tức những kiến thức cơ sở của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại trong nền học thuật phương Tây.

Và ông năng nổ vận dụng những kiến thức, thủ pháp mới vào việc phân tích văn học dân tộc, qua đánh giá lại những tác phẩm văn học cổ điển (Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương), văn học lãng mạn và hiện thực trước 1945 (Thơ mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, truyện của Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, kịch Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Phú Tứ) cũng như cập nhật bình giá tác phẩm gây dư luận của mấy tác giả thời thượng : Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài… Chuyên tâm đi theo hướng phê bình thi pháp hiện đại, Đỗ Đức Hiểu xuất hiện như một yếu nhân, lão tướng góp phần đổi mới phương pháp phê bình văn học ở ta từ những năm 80 của thế kỷ trước để hội nhập với trào lưu chung của thế giới.

Tuy đôi lúc không tránh khỏi đơn điệu, gò gẫm, nhưng chọn góc độ phân tích giá trị văn học qua nghệ thuật ngôn từ, giọng điệu và chiều sâu vô thức của bí mật quá trình sáng tác với một hệ chuẩn (paradigme) khác trước – đi từ hình thức văn bản đến nội dung, ngữ nghĩa tác phẩm với nhiều kênh tiếp nhận được chọn – mà ông thực thi thể nghiệm, đã làm cho ngòi bút của Đỗ Đức Hiểu như hồi sinh, nhuận sắc và trẻ lại. Văn phê bình của ông trở nên say đắm, hào sảng và mượt mà , tinh tế tài hoa./.

Nguồn: Nguyễn Ngọc Thiện, Lý luận phê bình và đời sống văn chương. Nxb. Hội Nhà văn,2010. Bản vi  tínhCopyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply