Đổi mới thơ Việt Nam đương đại nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều *


 Nguyễn Đăng Điệp

Ta vẽ mắt nhân loại hình lục giác – NQT

1. Chuyển động và lựa chọn

Về thơ Việt Namđương đại, hiện có nhiều đánh giá khác nhau. Người bảo “nền rộng nhưng thiếu đỉnh”. Người bảo “thơ đi ngang”. Người lại quả quyết, thơ hiện nay “ngang ngửa” thậm chí “chất lượng và bề thế hơn” thơ các giai đoạn trước… Những đánh giá ấy, dĩ nhiên, xuất phát từ những góc nhìn và tâm thế khác nhau. Nhưng sự tản mạn, không thống nhất về thơ sau 1975 là điều có thể hiểu được, vì, thứ nhất, độ lùi đánh giá chưa xa; và, thứ hai, so với thơ ca trước đây, thơ Việt sau 1975 phức tạp hơn, tính ly tâm cao hơn. Phức tạp bởi các nhà thơ không còn bó mình trong một kiểu nghĩ, một trường thẩm mỹ chung. Ly tâm bởi muôn nẻo kiếm tìm và phương cách biểu đạt bản thể. Thêm nữa, mỹ cảm nghệ thuật hiện đại/ hậu hiện đại đã khai mở và kích thích những cuộc phiêu lưu bất tận của nhà thơ, cái toàn trị đã dần nhường chỗ cho cái phân mảnh, tiếng nói cộng đồng đã nhường chỗ cho tiếng nói cá nhân,… Giờ đây, người ta đang chứng kiến sự hiện diện cùng lúc nhiều loại hình giá trị: trung tâm và ngoại vi, chính thống và phi chính thống, cao sang và suồng sã, cổ điển và phi cổ điển,… Ấy là chưa nói đến sự hòa trộn thể loại, sự xóa nhòa phong cách, sự tương tác giữa các loại hình nghệ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, khiến cho lý luận về thể loại và lý thuyết về văn học phải nhanh chóng điều chỉnh, thay đổi nếu muốn bắt kịp những chuyển động cũng như những kết hợp nghệ thuật mới… Sự rối trí của người đọc và của giới phê bình, vì những lý do đã nói, thể hiện không chỉ trong những nhận định mang tính khái quát về một giai đoạn văn học mà còn thể hiện trong việc định giá, lý giải những trường hợp cụ thể. Điều đó có thể nhìn thấy trong hàng loạt diễn giải về thơ sau 1975 và sáng tác của nhiều cây bút cách tân trong đó có Nguyễn Quang Thiều. Không ít người tỏ ý thích thơ Thiều mặc dù… chẳng hiểu gì. Với họ, thi giới Nguyễn Quang Thiều đầy ma lực nhưng lại quá phức tạp. Phức tạp như một mê cung!

Vì phức tạp nên đến nay thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn chẻ đôi dư luận. Phía hăm hở khẳng định Thiều là gương mặt cách tân táo bạo, là người xác lập hẳn một trường thơ có độ phủ sóng rộng và mạnh; phía dè bỉu Thiều không biết làm thơ, thơ như thơ dịch,… Nhưng Nguyễn Quang Thiều vẫn tiếp tục, và xem ra, thơ anh ngày càng khiêu khích hơn. Khiêu khích bằng những văn bản lổn nhổn và rối bời; bằng những câu thơ dài loằng ngoằng mà không chịu thu gọn lại([1]). Bình thản trước mọi dư luận, Nguyễn Quang Thiều tự tin và kiên trì một xác tín: sáng tạo là những khoảnh khắc cô đơn kỳ diệu. Đó là những khoảnh khắc thi sĩ có khả năng nới rộng các chiều kích không/ thời gian và  “bóp méo” cái tôi bản thể để thiết tạo cái tôi đa diện, là những bước chân lang thang trong cõi mộng du hoang tưởng không có điểm dừng. Chính trong những thời khắc mộng du ấy, nhà thơ được chứng thực sự hiện hữu của một thế giới không hề bị mất đi. Đó là một thế giới tâm linh hỗn độn và phi lý, không hề khô cứng mà luôn “chuyển động”, “sinh nở”, và “biến ảo”. Tất nhiên, là tiếng nói của những giấc mơ, Nguyễn Quang Thiều cũng như nhiều thi sĩ cách tân khác đã trượt khỏi những quy phạm và nguyên tắc từ chương cổ điển.

Có lẽ, yếu tố đầu tiên tạo nên sự khác biệt trong thơ Nguyễn Quang Thiều là ý thức khai tử những thói quen và thái độ đoạn tuyệt những diễn ngôn đã ngả màu mòn sáo. Sự lựa chọn ấy nguy hiểm và cô đơn. Nhưng bằng linh cảm nghệ thuật và tinh thần dấn thân, Nguyễn Quang Thiều hiểu rõ, chấp nhận điều đó. Chỉ có thế, tất cả mới THỨC DẬY ĐỂ CHÀO ĐÓN MỘT GIỌNG NÓI.

Khi để Lễ tạ mở đầu cho tập Châu thổ, hẳn Nguyễn Quang Thiều có lý do của mình. Trong lễ tạ của Thiều, có một trở về và một ra đi…  Trở về là ý thức gắn kết với trầm tích văn hóa bản địa, với phương Đông (hồ nước cũ)… Ra đi là kiếm tìm một chân trời khác, một khung trời tượng trưng siêu thực, là độ mở để làm trĩu nặng thêm phù sa châu thổ thi ca (với tổ hợp xuống dòng: Con đường/ Con đường/ Con đường)… Nhiều người có ý chê Nguyễn Quang Thiều nặng Tây mà nhẹ Đông. Không sai, nhưng cũng chẳng hoàn toàn đúng. Và thực ra, sự phân xuất ấy, theo tôi không quá quan trọng, vì những nhà thơ đích thực bao giờ cũng biết học tập tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại. Điều quan trọng nhất là từ dưỡng chất văn hóa ấy, anh ta sẽ tổng hợp, chiết xuất và sáng tạo cái mới ra sao. Để làm được điều đó, người viết phải giàu nội lực, đầy bản lĩnh và dám chấp nhận, thậm chí đám đánh cược với may rủi. Không muốn trở thành kẻ thất cước với lịch sử, Nguyễn Quang Thiều vẫn cố gắng tạo ra những kết hợp mới trên nền thi học truyền thống: Ngẩng đầu một vầng mây đỏ/ Nổ vang tiếng sấm lưng trời/ Cúi đầu một miền cỏ trắng/ Nở xòe tám hướng bốn phương (Lễ tạ).

Về logic hình thức, người đọc có thể nhận thấy những động thái trữ tình ngẩng-cúi hoàn toàn không mới. Nó từng xuất hiện trong Tĩnh dạ tư của Lý Bạch đời Đường([2]). Trong thi học Đường thi, nhà thơ thường xây tứ trên tương quan đối lập, sử dụng luật viễn cận để miêu tả tâm trạng, lấy tỉnh lược tạo tính hàm súc, tập trung tinh lực tạo thần cú, nhãn tự để làm “kinh động” lòng người (chữ của Thánh thi Đỗ Phủ). Nhưng trong thơ hiện đại, vặn chữ, chuốt từ, sử dụng luật bằng trắc điêu luyện không còn là ưu tiên hàng đầu mà ưu tiên hàng đầu là tạo dựng cấu trúc đa nghĩa trên cơ sở cái nhìn cá nhân và nhu cầu giải phóng cá tính. Trường tri thức quy định diễn ngôn thơ họ là trường tri thức hiện đại mang đầy nỗi bất an và niềm hoài nghi thường trực về thế giới, con người. Cũng bởi thế, Nguyễn Quang Thiều cố gắng tạo nên tiếng nói cá nhân trên nền mỹ học thi ca hiện đại([3]). Với ông, lạ hóa thủ pháp làm mới cái đã quen, chiếu rọi một ánh sáng mới để làm hiển lộ những tầng sâu ẩn khuất, là ý thức tạo ra những không gian mở buộc người đọc phải tự lấp đầy những khoảng trống của văn bản, khơi gợi những liên tưởng mới để mở ra trường thẩm mỹ vô tận của thi ca. Để ánh sáng không còn là ánh sáng đơn thuần mà trở thành cây ánh sáng, bừng nở nhiều ánh sáng khác nhau… Ánh sáng ấy gắn liền với miền tâm linh và cõi mộng tưởng Nguyễn Quang Thiều. Sự lệch chuẩn của Nguyễn Quang Thiều trong tổ chức nghệ thuật biểu đạt khiến cho không ít người khẳng định thơ Thiều không khác gì “thơ dịch” là vì thế. Nhưng nếu đọc kỹ sẽ thấy trong thơ Nguyễn Quang Thiều, tần số từ ngữ nhắc nhớ về cố hương chiếm tỷ lệ rất lớn([4]). Dày đặc trong thơ ông là hình ảnh ông bà tổ tiên, cánh đồng, dòng sông, bầy chó, cánh buồm,… Là thi sĩ hiện đại, dù chìm ngập trong cõi mộng mị hoang tưởng, dù luôn nỗ lực lạ hóa cách biểu đạt thì cuối cùng Nguyễn Quang Thiều vẫn bị ám ảnh và gắn kết với cuống nhau văn hóa dân tộc. Thơ Nguyễn Quang Thiều, trong sâu thẳm, vẫn là tiếng thơ của kẻ duy tình, mà duy tình, vốn là gen trội trong tính cách Việt. Điều đáng nói là ở chỗ, Nguyễn Quang Thiều không viết về cố hương như những bài ca đầy ắp trữ tình trước đây, không quá chú trọng miêu tả cái nên thơ theo tinh thần văn học phản ánh hiện thực (mà thực chất, đó là hiện thực biết trước). Nói theo ngôn ngữ của Kant, Nguyễn Quang Thiều không quá lệ thuộc cái ngoài ta mà ông chú ý trình bày cái trong ta. Cũng bởi thế, tất cả những hình ảnh gắn liền với cố hương đều có ý nghĩa như một hằng số văn hóa, và quan trọng hơn, được thể hiện bởi mỹ cảm hiện đại, thi pháp hiện đại. Từ truyền thống mà ra đi về phía hiện đại. Ra đi rồi trở về. Trở về hiểu rõ hơn mình là mình, thấy rõ mình trong tha nhân, thấy mình là một phần của lịch sử và lịch sử là một phần của mình. Nếu hình dung như thế, làng quê trong thơ Thiều đích thực là một mẫu gốc văn hóa (archetyp). Là mẫu gốc, nó đẫm màu huyền thoại, riêng biệt nhưng phổ quát. Vậy nên, những cánh đồng rau khúc, nhịp thở của đất đai, linh hồn những bình gốm cũ,… trong thơ Nguyễn Quang Thiều thực chất là những biểu tượng văn hóa sâu sắc và nhân văn, nó có khả năng đánh thức người đọc bất cứ nơi đâu niềm thương cảm cố hương. Với Nguyễn Quang Thiều, cố hương không hẳn là những giá trị hoàn tất mà là điểm trở về, nó luôn song hành cùng hiện tại, gắn với hiện tại bởi những sợi đây tinh thần sâu thẳm. Về điều này, tôi nhớ những câu thơ Nguyễn Đình Thi: Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất/ Những buổi ngày xưa vọng nói về. Giống Nguyễn Đình Thi, trong cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Quang Thiều, hình xác có thể mất, nhưng tinh anh, hồn vía thì mãi còn. Bởi thế, trong “hòa âm của những đa bào”, nhà thơ nhận thấy thấy cái chết là khởi đầu của tái sinh: Tất cả là sáo mòn, tất cả là vô sinh trừ ngọn lửa/ Vừa thức dậy dịu dàng tắm rửa những ban mai… Tôn sùng những giá trị tinh thần không phải bằng những mỹ từ to tát mà từ trong những điều nhỏ nhặt, bình dị nhất, Nguyễn Quang Thiều nghe thấy sự thanh khiết vang lên trong hỗn tạp, lấm láp đất bùn. Có lẽ vì thế mà Thiều dựng lên nhiều nghi lễ – những nghi lễ tinh thần. Những khúc hát của Thiều về cố hương bao giờ cũng nói đến mối gắn kết cá nhân và cộng đồng. Đứa con của làng Chùa luôn nhận thấy mình trong cộng đồng và cất tiếng hát say mê từ những tín niệm ấy:

Tôi hát bài ca về cố hương tôi

Bằng khúc ruột tôi đã chôn ở đó

 Nó không tiêu tan

Nó thành con giun đất

 Bò âm thầm dưới vại nước, bờ ao

Bò quằn quại qua khu mồ dòng họ

Bò qua  tha ma người làng chết đói

Đất đùn lên máu chảy ròng ròng

Điều cần nói là trong thơ Nguyễn Quang Thiều không còn lai vãng bóng dáng những câu thơ đậm chất ngâm ngợi ngọt lịm trữ tình và những ẩn dụ thi vị. Nguyễn Quang Thiều đã vượt qua được cách nói mòn sáo trong thơ để tạo nên một ngôn ngữ mới. Đó là kết quả của một lựa chọn, là sản phẩm của những cách tân táo bạo và quyết liệt.

Trong sáng tạo nghệ thuật, sự lựa chọn hướng đi và tìm kiếm giọng điệu cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bất cứ nhà thơ nào. Thậm chí, nó quyết định thành bại của một đời thơ. Để minh chứng rõ hơn về lựa chọn nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều, tôi muốn bắt đầu từ phép loại suy.

Băn khoăn đầu tiên là liệu Nguyễn Quang Thiều có đủ sức “chơi” những thể thơ truyền thống hay không? Tôi tin là được. Hãy đọc lục bát Nguyễn Quang Thiều: Thưa cha, con đã dâng trà/ Chiều quê một nửa mái nhà nắng đi/ Làng nghèo ngồi đếm chim ri/ Con nghèo con đếm thầm thì trong mơ (Dâng trà); Bây giờ đang cuối mùa đông/ Làng bao cô gái lấy chồng đi xa/ Chút chiều hoe nắng ngõ nhà/ Tôi đi, tôi đứng để mà vu vơ (Bây giờ đang cuối mùa đông)… Thiều có đủ sức làm thơ năm chữ hay không? Xin thưa là có, dù trong Châu thổ, Nguyễn Quang Thiều chỉ chọn một bài. Hãy đọc thể năm chữ mang sắc thái đồng dao của Thiều: Có một con mèo hoang/ Lang thang trên đồng cỏ/ Bốn cái chân gầy nhỏ/ Đôi mắt trong buồn teo [….]Ôi cái con mèo hoang/ Lang thang trên đồng cỏ/ Đêm về nhìn ngọn lửa/ Tha nỗi niềm tôi đi (Có một con mèo hoang)… Xem ra, về mặt thể loại, Nguyễn Quang Thiều không xa lạ với truyền thống. Và nếu lựa chọn sự bình yên như thế, hẳn Thiều sẽ có nhiều bài thơ “đọc được”. Nhưng chắc chắn, đột phá thì không!

Băn khoăn thứ hai là liệu Nguyễn Quang Thiều có khả năng tiếp nối chất trữ tình ngọt ngào trong thơ chống Mỹ hay không? Tôi tin Thiều dư sức: Chúng tôi ngồi trong đêm rưng rưng/ Thương cây nhị như mẹ ngồi bậc cửa/ Bao câu hát khi già mẹ không còn nhớ nữa/ Đồng đội ơi cây nhị thay lời (Đêm sân ga); Chiều phủ kín hết rồi/ Mẹ ngồi thở từng cơn/ Những mắt hương mắt người hoe đỏ/ Trong hoàng hôn hàng trăm bia mộ/ Cùng dâng hương lặng lẽ đến quanh người… (Trong chiều nghĩa trang)… Nhưng đây là những câu thơ nhìn qua thì đẹp, đọc kỹ thì xốp. Nếu cứ tiếp tục hướng đi này, rốt cục, Nguyễn Quang Thiều chỉ là vĩ thanh của một thế hệ đã từng góp vào thi đàn hiện đại những cây bút tài danh như Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy,… Cùng lắm, nó chỉ đem đến cho Nguyễn Quang Thiều hai cái lợi (nhất thời): một, yên ổn; hai, theo thời gian, sẽ trở thành “lão làng” và được xếp chỗ trong nhiều tuyển tập khác nhau. Rất may, Nguyễn Quang Thiều không bằng lòng với sự yên ổn ấy. Và anh chỉ thực sự mang danh một thi sĩ cách tân kể từ Sự mất ngủ của lửa xuất hiện năm 1992  ( Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1993). Ngôi nhà mười bảy tuổi (Nxb. Thanh niên, 1990) là một chạm ngõ thi ca của Thiều ở tuổi thơ ngây. Đó là một tiếng hát trong trẻo nhưng bị cớm bóng, bị lẫn giọng. Song chính trong tập thơ này, đã bắt đầu nảy những mầm lạ. Tôi muốn nói đến bài Lạc nhịp. Về mặt nghệ thuật, Lạc nhịp chưa phải là thi phẩm đặc sắc, nhưng lại hé lộ khẩu khí của một tuyên ngôn: Thế mà tôi lạc nhịp đi ra/ Cánh chim mỏng ngược về nơi chớp giật/ Và ngọn gió đón tôi vào đội ngũ/ Một nửa tôi hóa bão cuối chân trời. Chính từ ý thức dám đương đầu với chớp giật, gió bão, dám bứt thoát khỏi dàn đồng ca mà sau đó Nguyễn Quang Thiều hoàn toàn lột xác. Sự mất ngủ của lửa hoàn tất sự lột xác ấy. Đây là tập thơ quan trọng nhất trong sự nghiệp thơ ca Nguyễn Quang Thiều.

2. Tiếp tục một hành trình, tạo dựng một khuynh hướng…

 Dĩ nhiên, không phải đến Nguyễn Quang Thiều thơ Việt mới bắt đầu đổi mới. Vì đổi mới, sáng tạo là bản chất và lẽ sống của nghệ thuật. Để định vị những cách tân nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều, nhất thiết phải đặt thơ  Thiều trong dòng chảy thơ Việt hiện đại.

 Nhìn từ xa, nỗ lực hiện đại hóa thơ ca đã xuất hiện ngay từ đầu thế kỷ XX khi Tản Đà kêu gọi phá cách, từ bỏ những điệu luật cũ. Nhưng trong cuộc chiến cũ-mới, Tản Đà, dù là cây bút sáng giá nhất trên thi đàn hai mươi lăm năm đầu thế kỷ vẫn bị coi là đại biểu cuối cùng của thơ cũ. Một thế hệ nghệ sĩ mới thực sự tài năng, với khát vọng thành thực và tinh thần đổi mới triệt để đã thực hiện thành công cuộc cách mạng có tên gọi là Thơ mới. Ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng này là chấm dứt hoàn toàn sự lệ thuộc vào thi pháp nghệ thuật trung đại lấy Trung Hoa làm chuẩn, đưa thơ Việt Nam bước vào quỹ đạo hiện đại, bắt đầu hòa nhập vào dòng chảy rộng lớn của thơ ca nhân loại. Từ nay, Thơ mới đánh dấu sự “hình thành hệ thống thơ, hình thức thơ trữ tình mới thuần Việt”, và trong hệ thống này, “các yếu tố thơ Trung Hoa sẽ có cuộc sống mới, chúng là yếu tố phụ thuộc vào hệ thống thơ Việt”([5]). Thơ mới, từ vị thế của kẻ “bên lề”, đã bước vào trung tâm, trở thành chủ âm của thơ trữ tình hiện đại.

Bắt đầu từ sau 1945, thơ Việt rẽ vào một bước ngoặt mới. Cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đòi hỏi thơ phải giàu chất thép và nghệ sĩ phải là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Giờ đây, thơ không còn là tiếng nói của cái tôi cá nhân, tiếng hót của những “con chim đến từ núi lạ” như thời thơ mới mà là tiếng nói của đoàn thể, nhà thơ là đại diện cho lý tưởng, lẽ sống của dân tộc trong cuộc chiến sinh tử. Khuynh hướng sử thi trở thành khuynh hướng (chính trị) thẩm mỹ bao trùm. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, ý thức đoạn tuyệt với thơ mới được coi là biểu hiện tích cực của quá trình nhận đường. Không còn motif xa cách lỡ làng, không còn những giọt nước mắt cảm thương sướt mướt chàng nàng, thơ cách mạng là tiếng nói lạc quan hướng về tương lai tuơi đẹp. Thơ mới chỉ còn sống trong tiếp nhận của những ai lưu luyến với mỹ học lãng mạn, tượng trưng, và sự tồn tại (trong tiếp nhận) của nó, cũng là tồn tại của một số phận ngoại vi, thầm lặng và giấu giếm!

 Tuy nhiên, thơ cách mạng 1945-1975, trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, vẫn có những đổi mới quan trọng. Tính điệu nói được tăng cường thêm một bước trong sáng tác của Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Nguyễn Đình Thi,… thời chống Pháp. Đến giai đoạn sau, khi cảm hứng sử thi đạt đến độ cao trào, màu sắc ca, ngâm trở nên nổi bật mà điển hình là thơ Tố Hữu. Để biểu đạt tư tưởng thời đại, thơ ca giai đoạn này, trong nhiều trường hợp, tựa vào những biểu tượng nghệ thuật truyền thống nhằm huyền thoại hóa sức mạnh của dân tộc. Vì thế, những hình tượng thơ ca chống Mỹ gần gũi vì liên quan đến “vô thức tập thể”, dễ đi vào lòng người và có khả năng hiệu triệu tất cả hướng về phía trước. Điều đáng nói là cuối những năm chống Mỹ, sự xuất hiện của một thế hệ trẻ giàu tài năng như Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Xuân Quỳnh,… đã làm cho thơ trở nên tươi mới, gần gũi cuộc sống hơn. Họ cũng chính là những người có ý thức đổi mới thơ ca khi cuộc chiến tranh vệ quốc khép lại vào năm 1975.

 Sự cách bức về địa lý và tư tưởng hệ khiến cho thơ miền Bắc và thơ miền Namtrước 1975 ít có mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại. Nếu như thơ ca miền Bắc giai đoạn này chịu ảnh hương thơ ca Xô viết và phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa (nếu tồn tại như một thuật ngữ khoa học) là phương pháp thống trị thì thơ ca ở đô thị miền Nam 1954-1975 chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng mỹ học và triết học phương Tây, đặc biệt là tư tưởng hiện sinh. Trong số đó, những đổi mới thi pháp nghệ thuật của nhóm Sáng tạo mà tiêu biểu là Thanh Tâm Tuyền và một cây bút tự do rong chơi, bỡn cợt là Bùi Giáng đã tạo nên những bước chuyển đáng kể khiến cho thơ bên kia vĩ tuyến 17 từng bước thoát khỏi vùng phủ sóng của thơ mới. Thậm chí, với ý thức xóa nhòa ranh giới thể loại, trộn lẫn các kênh ngôn ngữ, pha trộn phong cách, Bùi Giáng, theo Nguyễn Hưng Quốc, còn mang vị thế của một nghệ sĩ tiền phong, mở đường cho chủ nghĩa hậu hiện đại ở ViệtNam. Từ điểm nhìn hôm nay, với tinh thần “gạn đục khơi trong”, có thể nói, bên cạnh những hạn chế về tư tưởng, trong sáng tạo của các thi sĩ Nam Việt Nam có những đóng góp nhất định đối với thơ ca dân tộc. Chí ít, nó cũng là một kinh nghiệm tham khảo hay gợi dẫn đáng quý đối với quá trình đổi mới thơ đương đại.

 So với thơ ca cách mạng trước 1975, thơ Việt đương đại, ở “dòng chính” vẫn là thơ ca cách mạng. Nhưng giữa hai giai đoạn, có sự khác biệt căn bản, đặc biệt là thi pháp nghệ thuật. Trước nhấn mạnh đến giai cấp, nay chú ý đến nhân bản nhân văn; trước đề cao cái ta, nay chú ý cái tôi; trước nghiêng về phản ánh, nay quan tâm đến biểu hiện những miền khuất kín của tâm linh; trước lạc quan tin tưởng, nay hoài nghi bất an; trước yêu cầu rõ ràng, nay đa nghĩa, mờ nhòe… Thực tiễn cuộc sống và nghệ thuật thay đổi khiến cho những cây bút nhạy cảm nhất thời chống Mỹ cũng phải thay đổi theo hướng hiện đại, cho dù mức độ đổi mới của từng cây bút là hết sức khác nhau. Điều đó có thể nhận thấy trong thơ Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Khoa Điềm,… Nhưng nhìn đại thể, sự đổi mới của các cây bút này vẫn chủ yếu nằm ở phương diện cái nhìn và cảm hứng chứ chưa có sự cách tân mạnh mẽ về thi pháp. Người đi xa hơn cả theo hướng hiện đại chính là Thanh Thảo với những cấu trúc rubich mang đậm chất giao hưởng.

 Sự cách tân thơ, có lẽ đến từ phía khác, quyết liệt và rõ rệt hơn, đó là những cây bút âm thầm trong “bóng tối” như Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng,… Đây là những cây bút sớm tiếp xúc với thơ ca phương Tây, vì thế, dù còn không ít cực đoan, nhưng khi xuất hiện trở lại trên thi đàn, họ đã tạo nên những dấn ấn đáng kể. Thành công lớn nhất của nhóm thơ này là khuyến khích các nhà thơ vượt qua nghĩa tiêu dùng để phát huy tính “tự thân” của ngôn ngữ thơ. (Trần Dần: Tôi giản dị đồng nhất thơ vào chữ. Lê Đạt: Chữ bầu lên nhà thơ). Đây là những cây bút “hai trong một”: vừa thực hành, vừa tuyên ngôn. Lộ trình sáng tạo của họ cũng mang đầy tính đối thoại và ý thức xác lập quyền uy bằng… chữ! Tuy nhiên, điều cần cảnh báo từ thơ hướng duy ngữ là ở chỗ, những cuộc chơi trong nghệ thuật không bao giờ coi hư vô là cái đích cuối cùng mà nó phải là hình thức để có được những cảm nhận mới mẻ, sâu sắc về cuộc sống và sức mạnh của ngôn ngữ với tư cách là những ký hiệu văn hóa.

 Ở cự ly gần, tôi muốn nói đến những người cùng thế hệ với Nguyễn Quang Thiều. Tính về thời gian, Nguyễn Quang Thiều không phải là người đầu tiên trình chánh những cách tân thơ mãnh liệt. Thập kỷ tám mươi đã xuất hiện “những tín hiệu mới” trong văn học nước nhà, cả thơ và văn xuôi([6]). Về thơ, trước Nguyễn Quang Thiều đã có sự “vỡ giọng” trong thơ Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Bình Phương,… và trước nữa là Dương Kiều Minh. Hai tập Củi lửa (1989) và Dâng mẹ (1990) của Dương Kiều Minh đã hiển thị những đổi khác về thi pháp và giọng điệu. Chỉ tiếc, sau những khởi đầu tốt đẹp, Dương Kiều Minh ít ra đi mà đào mãi vào phương Đông nên trường thơ anh hơi hẹp. Nếu có thêm điều tiếp xúc trực diện với văn hóa phương Tây hẳn vóc dáng của thi sĩ này sẽ khác, vạm vỡ và mới mẻ hơn. Cũng bởi thế, sau Củi lửa vài ba năm, khi Sự mất ngủ của lửa ra đời, thi đàn mới bắt đầu thực sự dậy sóng với những tranh cãi gay gắt. Với những bứt phá mạnh mẽ của Nguyễn Quang Thiều, ý thức cách tân về lối viết trở nên thường trực và riết róng([7]). Từ đây, đội ngũ làm mới thơ ngày càng đông đảo với sự hiện diện của Trần Quang Quý, Nguyễn Quyến, Mai Văn Phấn, Inrasara, Trần Tiến Dũng, Trần Anh Thái, Vi Thùy Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh,… Không cần cường điệu, có thể khẳng định dứt khoát: tính đến thời điểm này, những cách tân nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều vào những năm đầu 90 của thế kỷ XX là những cách tân tạo được hiệu ứng nghệ thuật sâu đậm nhất trong thơ Việt sau 1975.

  Sở dĩ Sự mất ngủ của lửa gây được ấn tượng mạnh bởi cách tân của Nguyễn Quang Thiều là cách tân có tính gây hấn. Gây hấn ngay từ nhan đề thi phẩm. Quái lạ, làm sao lửa lại có thể mất ngủ? Cấu trúc cú pháp của nó quá khác cấu trúc quen thuộc của thơ Việt truyền thống. Người này hoặc làm thơ chưa sạch nước cản hoặc học phương Tây nhưng chưa kịp tiêu hóa([8]). Lại nữa, sao lại có những hình ảnh và những liên tưởng ngược đời thế kia về phụ nữ: Bầu vú của họ mệt mỏi nằm ngoẹo đầu và trở nên nghễnh ngãng, không còn nghe được tiếng gọi đàn ông… Thói quen thưởng ngoạn và mỹ học truyền thống không “ngửi” được sự độc đáo của những câu thơ này. Trong mỹ học truyền thống, nói đến phụ nữ là nói đến công – dung – ngôn – hạnh, nói đến vẻ đẹp dịu dàng hay kiên nghị bất khuất… Thế mà Nguyễn Quang Thiều “tàn nhẫn” nói về sự mệt mỏi, mệt mỏi đến tận cùng, khô kiệt. Trước đây, nhà “vị nghệ thuật” Nguyễn Tuân khi đặc tả sự nóng bức gió Lào đã có một so sánh độc đáo: đó là cái nóng khủng khiếp đến mức tách rời đực/ cái khi chúng đang yêu nhau ở độ cao trào. Mà liệu trên thế gian này, thử hỏi có sức hút nào sánh ngang với sức hấp dẫn giới tính? Vậy mà Nguyễn Quang Thiều đã nhìn thấy sự nghễnh ngãng, thất thểu của những bầu vú (vốn tượng trưng cho vẻ đẹp và cám dỗ giới tính) trước tiếng gọi đàn ông. Đấy, ẩn kín trong câu thơ tàn nhẫn kia là nỗi đau về phận người của nhà thơ. Lỗi là ở Nguyễn Quang Thiều khi anh không đi theo lối mòn, không chịu thỏa hiệp với thói quen. Anh đã cả gan khước từ những câu thơ đèm đẹp, những cách biểu hiện cũ. Đó là thái độ gây hấn xuất phát từ mỹ học hiện đại mà thơ Việt vào thời điểm ấy hãy còn khuyết hụt trầm trọng.

 Sự cách tân trong thơ Nguyễn Quang Thiều, cả mặt thành công và cả những điều chưa tới đã tạo nên sự khác lạ về cái nhìn nghệ thuật, hệ thống biểu tượng, cách tổ chức cấu trúc văn bản….Tất cả xuất phát từ những cơn mơ hoang tưởng Nguyễn Quang Thiều. Rõ ràng, kể từ Sự mất ngủ của lửa, Nguyễn Quang Thiều đã đẩy nhịp điệu đổi mới thơ lên một tầm mức mới, cú hích nghệ thuật của anh có khả năng gây chấn động mạnh. Không thể có điều đó nếu Nguyễn Quang Thiều không thực hiện cuộc viễn du ra đitrở về đầy trăn trở mà tôi đã nói ở trên.

Nhưng Nguyễn Quang Thiều không phải là người toàn tâm toàn ý đi theo lối “thơ dòng chữ” như Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng,… Thơ anh cũng không bảng lảng khói sương Kinh Bắc như Hoàng Cầm. Những người đẹp trong thơ Hoàng Cầm kiêu sa, tình tứ. Còn những người đàn bà trong thơ Thiều thường đẹp đẽ trong tủi nhục, bần hàn. Nguyễn Quang Thiều cũng không bứt hẳn ra ngoại vi như nhóm Mở miệng sau này. Thơ anh nằm giữa trung tâm và ngoại vi, là một độc hành ngược gió, rồi từ sự độc hành ấy khai mở một trường thơ ảnh hưởng đến nhiều người. Trường thơ ấy hiện đại nhưng được xây cất trên một quan điểm thẩm mỹ nhất quán của Nguyễn Quang Thiều: bất an mà không tuyệt vọng, bóng tối không thể chế ngự ánh sáng… Với cái nhìn như thế, Nguyễn Quang Thiều hằng tin, thơ là một giá trị tinh thần có khả năng chữa lành và đánh thức nhân tâm. Đây là lõi cốt cổ điển trong quan niệm nghệ thuật Nguyễn Quang Thiều náu ẩn sau hình hài hiện đại. Nhưng không vì thế mà Thiều giống nhiều cây bút nửa vời, tuy đổi mới nhưng quá dùng dằng và lệ thuộc diễn ngôn ngọt ngào thương mến. Anh cũng không mải miết chạy theo những chủ đề gây sốc như tính dục, cho dù Thiều có không ít những câu thơ tinh tế và khoáng đạt về chủ đề này: Em nằm nghiêng trong đêm/ Như con thuyền cô đơn nép mình trên bến cát/ Tôi cởi áo mình ra căng một cánh buồm (Cánh buồm); Tôi nhớ áo em tuột rơi trên bến kín một trăng xưa (Sông Đáy); Bỗng một đêm manh áo cũ bay về/ Căng lộng lẫy một lá cờ vĩ đại/ Những chiếc cúc sáng lên như sao buổi sớm/ Anh thấy thân thể em trong bóng áo rạng ngời (Những chiếc áo);

Sự phân biệt dẫu chỉ là tương đối trên đây nhằm khẳng định Nguyễn Quang Thiều có kiểu đổi mới riêng. Nó không thể trùng lặp với người khác bởi đó là những “trò chơi ảo giác” và những hồi tưởng âm thầm, dai dẳng cá nhân. Tiếng hú gào trong thơ Nguyễn Quang Thiều không hẳn hướng ngoại mà thực chất là tiếng vọng của nội tâm, nó vang dội từ bên trong và chất chứa vẻ u buồn, ứa máu. Trong sự trôi dạt của những giấc mơ, những mảnh gốm thơ liên kết lại trong một chỉnh thể và bắt đầu kiếp sống của mình:

Trộn máu vào phù sa, trộn ban mai vào hoàng hôn, tôi nặn chiếc bình gốm

Chiếc bình chảy máu, men hoàng hôn chảy, men ban mai chảy, chảy phù sa…

 Thế đấy, chiếc bình thơ Nguyễn Quang Thiều không phải là tĩnh vật. Nó là kết quả của những tan chảy, những chuyển  động. Theo ý tôi, Nguyễn Quang Thiều là một trong số ít thi sĩ nhà thơ đương đại chú tâm trình hiện những chuyển động, những tan chảy bên trong. Đúng hơn, với Nguyễn Quang Thiều, văn bản thơ là sự hiển thị tươi ròng những chuyển động trong cõi mộng mị. Nó vừa tiếp nối vừa đứt quãng, vừa logic vừa phi logic, và phi logic là chính. Nó miên man và lạ lẫm. Thiều không có ý định gói lại mà để những hồi tưởng kia hiện lên như những thước phim không đầu không cuối. Trong cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Quang Thiều, sự sống chuyển động đã đành, cái chết cũng chuyển động. Tất thảy đều chuyển động. Ngay cả quá khứ cũng chuyển động và mang khuôn mặt của thì hiện tại. Nguyễn Quang Thiều, khác với một thi sĩ tiền bối giàu cách tân là Chế Lan Viên ở chỗ, anh ít dùng triết lý, tránh xa mọi khái quát, không nén lại ở cú đấm cuối cùng của văn bản. Trong thơ anh mọi triết lý, chiệm nghiệm phải được toát ra từ những chuyển dịch không ngừng của đời sống, của tư tưởng và những giấc mơ. Triết lý phải được hình thành trong tiếp nhận, nó không phải là nhiệm vụ của nhà thơ. Đây là điều khiến một số người khi diễn giải thơ Nguyễn Quang Thiều cho rằng tác giả ít tư tưởng và triết lý. Thực ra, Thiều sử dụng chiêu thức riêng: tư tưởng, triết lý không kết đọng ở thần cú, nhãn tự mà nằm trong sự chuyển động của toàn khối. Tiếp xúc một bi kịch, chứng kiến một nỗi đau, trải nghiệm một trạng thái… từ ký ức của Thiều, người đọc sẽ tự tìm triết lý. Miêu tả các trạng thái khác nhau của đời sống trong dòng suy tưởng và những giấc mơ bất tận là một kiếm tìm mang tính hiện đại của Nguyễn Quang Thiều. Ngón chơi của Nguyễn Quang Thiều có phần khác với Trương Đăng Dung trong Những kỷ niệm tưởng tượng. Hai nhà thơ này đều thoát ly hoàn toàn mô hình phản ánh hiện thực, và hiện thực trong thơ họ là hiện thực của tưởng tượng. Chỉ có điều, thế mạnh của Nguyễn Quang Thiều là sự trương nở, tiếp nối của hàng chuỗi liên tưởng trong hình thể thơ văn xuôi, trong khi Trương Đăng Dung nén gọn hơn và biết dung hòa về nhịp điệu. Có thể coi Trương Đăng Dung là một kiếm tìm khác trong lộ trình đổi mới, trong đó, nét trội bật nhất là cảm thức triết học ăn sâu trong tư duy nghệ thuật của anh. Thơ Trương Đăng Dung cũng đầy chất hiện sinh và luôn bất an về cõi người. Cả Nguyễn Quang Thiều và Trương Đăng Dung đều ít trào tiếu mà nghiêng về đau buồn. Trong đau buồn mà nhìn thấy sự phi lý và hữu hạn của cõi nhân sinh.

 Rào cản lớn nhất ngăn người đọc với thơ Nguyễn Quang Thiều chính là anh ly khai sự độc sáng và chối bỏ những điểm nhấn. Nhiều bài thơ của Nguyễn Quang Thiều là sự trôi dạt đến miên man của hàng chuỗi mộng tưởng (Mười một khúc cảm; Nhịp điệu châu thổ mới; Hồi tưởng; Nhân chứng của một cái chết; Cây ánh sáng…). Liên tưởng lạ, ít vần điệu, thơ văn xuôi, dài… đó là những yếu tố dễ làm người đọc nản trí, thiếu kiên nhẫn khi đọc Thiều. Nhưng tôi nghĩ, nếu nắm được những chuyển động bên trong qua việc mở rộng các kênh liên tưởng ta sẽ được song hành với những mộng du của Nguyễn Quang Thiều:

Hỡi Chúa Trời, xin cho con được quỳ dưới chân người, xin cho con được cất lời cầu nguyện.

Ngày nào con cũng có đêm tối, đấy là nhà tù của con, tòa án của con. Đấy là ác mộng của con, vô vọng của con, là trống rỗng của con.

Nhưng đấy là chiếc gương trung thực nhất của con. Đấy là nơi con nhìn thấy con đường của cơn mơ.

(Cây ánh sáng)

Trước đây, khi nói về chủ thể sáng tạo, A.Musset từng lưu ý, hãy gõ cửa trái tim anh, thiên tài nằm ở đó.  Mượn cách nói ấy, từ góc nhìn tiếp nhận, tôi chỉ muốn thêm rằng: Hãy gõ cửa và mở rộng liên tưởng, sẽ nhận thấy bí mật Nguyễn Quang Thiều!

3. Cơ chế tạo thi ảnh và biểu tượng trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Dường như trong thơ Nguyễn Quang Thiều không có mặt các biến cố chính trị, xã hội thông thường. Bảng từ vựng Nguyễn Quang Thiều cũng không còn những phạm trù quen thuộc trong thơ một thời như đất nước, nhân dân, chiến tranh đạn lửa… Mẫu gốc văn hóa làng Chùa với những hình ảnh cánh đồng, dòng sông, côn trùng, tiếng chó,… đã thay thế hệ thống thi ảnh trong diễn ngôn mang tính sử thi. Vả lại, mối quan tâm của Thiều nằm ở phía khác, mang tính phổ quát hơn về nhân loại, các giá trị người. Như lời các thi sĩ nông dân làng Chùa: Trước mặt làng Chùa là cánh đồng/ Rộng hơn cánh đồng là chân trời/ Rộng hơn chân trời là lòng người. Vận vào Nguyễn Quang Thiều, lõi cốt thi ca là những giá trị tinh thần trường cửu.

Ý thức tái hiện đời sống bằng con mắt ba, khi những viên phấn hiện thực đã mất dấu, thơ Nguyễn Quang Thiều như một hộp đen lưu giữ vô vàn tiếng nói, vô vàn tiếng vọng. Chúng hỗn độn, rối tung tít mù. Những giấc mơ sẽ tạo ra trật tự của chúng. J.Lacan nói: “Vô thức như một cấu trúc ngôn ngữ”. Nguyễn Quang Thiều luôn có ý thức tạo dựng hệ thống thi ảnh từ những ký ức tự do, hoang dại, đượm buồn. Ta có thể bắt gặp rất nhiều thi ảnh tài hoa trong thơ Nguyễn Quang Thiều:

Trên cánh đồng mênh mông cỏ không đặt ra nghi lễ bốn mùa

Tôi trở về không có tiếng người, không có bóng cây

Bền bỉ hơn sự im lặng, lưỡi cày từ tháng Giêng thuở trước

Dựng lên những luống đất của cơn mơ, một người lạ đến gieo trồng.

(Độc thoại)

Đêm rền vang tiếng thử hơi của những cây kèn

Tôi là nhạc công sót lại cuối cùng bước dần ra ánh sáng

Trong nghi lễ của đất đai, của bầu trời, tôi nâng kèn ngước mắt

Tất cả những cánh đồng loa kèn bùng nổ – bình minh

(Hồi tưởng tháng Tư)

Không ít người cố công truy tìm những thi ảnh độc sáng được gói gọn trong những câu thơ độc sáng để khẳng định thành bại của Nguyễn Quang Thiều trong đổi mới thơ. Tiếc là Nguyễn Quang Thiều không tìm tòi theo hướng ấy. Sức mạnh của tiếng nói Nguyễn Quang Thiều vang lên trong cấu trúc của giấc mơ và sự xuất hiện liên tiếp của những thi ảnh lạ lẫm. Hãy đọc những câu thơ sau sẽ nhận ra điều đó:

Khi mưa đêm đổ xuống tấm huyền nhung của trời, tôi nhận ra dòng sông đang chảy/ Tiếng rì rầm của nước đi về chân trời/ Những con cá mê mệt ngủ quên một mùa  nước đi qua giờ thức dậy/ Tiếng cá thở mênh mang như mùa màng bội thu tràn qua thị xã/ Tôi nghe thấy tiếng thì thầm của con cá cái nói với con cá đực: “Nước đã cuốn những tấm lưới vùi tận đáy bùn/ Và ngày của chúng ta đã đến”.

(Nhân chứng của một cái chết)

Không hiếm lần trong mơ thi sĩ thấy mình hóa thân thành vật khác để nghe sự chuyển động của thế giới bằng cái nhìn âm bản, ngược sáng. Và nhiều lần anh thấy mình trong hình hài của cá, mơ giấc mơ của cá, nói giọng nói của cá: Hai cánh tay tôi – hai vây cá rách tướp/ Dìu nỗi sợ chửa hoang đi tìm ổ đất buồn (Dưới trăng và một bậc cửa); Ta thức giấc khi mặt trời chạm vào mặt biển/ Và ngoi lên mặt nước/ Vây tóc ta bạc trắng/ Ta cất tiếng gọi bến bờ của ta bằng tiếng gọi của cá/ Trong hoàng hôn nước màu huyết dụ/ Có một bài ca lưu lạc tìm về (Xô-nát hoàng hôn biển); Chiếc chum sành lắc lư/ những con cá ướp/ phun chảy những dòng trứng/ nở ra những con cá/ trong dòng hải lưu suy tưởng bất tận của tôi (Những con cá ướp)… Trước đây có lần A.Breton cũng thấy mình là cá. Trong thơ Breton, con cá tan (poison) mang hàm ý phổ quát: bất cứ ai cũng cũng có thể tan chảy trong dòng tư tưởng/ suy tưởng của mình. Nhưng Nguyễn Quang Thiều không phải là Breton. Anh cũng không xếp đặt các sự vật xa nhau cạnh nhau để tạo nên sự bùng nổ như các nhà siêu thực từng làm. Nguyễn Quang Thiều tạo thi ảnh bằng ký ức, và khai triển nó theo hướng nở xòe. Trong thơ Việt hiện đại, loại thơ hình ảnh này, trước Nguyễn Quang Thiều đã có Nguyễn Đình Thi. Nguyễn Đình Thi thường chộp rất tinh những hình ảnh “nảy” lên từ đời sống, chắt gọn và sắp đặt các chiều không gian để tạo nghĩa: Ôi những cánh đồng quê chảy máu/ Dây thép gai đâm nát trời chiều (Đất nước). Nguyễn Quang Thiều, như đã nói, tạo thi ảnh từ ký ức, đặt nó trong không gian hoang tưởng sẫm tối. Tối là âm bản, nhưng lại là môi trường sinh nở của giấc mơ. Ở đây, khi nói về cơ chế tạo thi ảnh Nguyễn Quang Thiều tôi nhận thấy có sự khác biệt với nhiều người. Thông thường, thơ gắn với ẩn dụ; văn xuôi trình bày đời sống bằng hoán dụ. Nguyễn Quang Thiều đã xây dựng liên tiếp các chuỗi ẩn dụ và trình hiện nó trong hình hài của những câu thơ đậm chất văn xuôi mang tính hoán dụ. Nó như tự động kể (lể) những giấc mơ câm lặng nhưng chất chứa nhiều tiếng nói bên trong. Có người thích, người không, nhưng đó là nét riêng trong tổ chức cú pháp và thi ảnh Nguyễn Quang Thiều. Chỉ đến khi bài thơ hoàn chỉnh, tính ẩn dụ mới trở lại trong hình hài toàn khối. Và diễn giải nó là chuyện của người đời. Nguyễn Quang Thiều không mấy quan tâm, và rất có thể trong bóng tối khu vườn hay trong ánh cô đơn anh lại bắt đầu kể về những giấc mơ khác. Cách kể của Nguyễn Quang Thiều khác xa cách kể chàng nhà quê Nguyễn Bính thuở xưa. Nguyễn Bính hóa thân vào nhân vật để kể chuyện quê, tình quê nhưng neo giữ sự bằng tình. Nguyễn Quang Thiều kể, đúng hơn, trình bày sự nhòe nhập và hỗn loạn (nhiều khi miên man) của các trạng thái tinh thần. Nhà thơ không cấp cho người đọc điểm tựa nào. Tựa vào đâu hoàn toàn tùy thuộc vào kinh nghiệm thẩm mỹ và trường tri thức của người đọc. Ít người hiểu, mặc. Nguyễn Quang Thiều bằng lòng với sự cô đơn trên sa mạc thơ nhìn từ hai phía sáng tạo và tiếp nhận.

Nối kết những giấc mơ và hệ thống thi ảnh thơ Nguyễn Quang Thiều, ta sẽ nhận ra hệ thống biểu tượng, trong đó nổi bật nhất là lửa, cánh đồng, dòng sông phụ nữ.

Những người đàn bà trong thơ Nguyễn Quang Thiều thường giấu kín khuôn mặt huê tình. Họ có mặt khắp nơi trong thi giới Nguyễn Quang Thiều nhưng hiếm khi được quay đặc tả. Có những xúc cảm say mê: Thức dậy từ cơn mơ, cả cúc áo cũng không cài hết/ Cả tóc không kịp buộc, không kịp cả dặn dò/ Tôi và em chạy về từ hai miền xa lạ/ Qua nhưng cánh đồng, cỏ bần bật run lên (Dòng sông). Có những vẻ đẹp thân xác được viết bằng ngôn ngữ tượng trưng: Da thịt nàng là buổi hừng đông, tóc nàng lấp lánh/ Ta không thể tin đêm qua nàng thiếp ngủ bên ta/ Bầy sói của đêm đen gầm gừ quanh nàng không làm nàng tỉnh giấc/ Nàng ngủ và gương mặt vẫn tỏa sáng một ngọn đèn (Ban mai),… Nhưng ám ảnh hơn cả trong thơ Nguyễn Quang Thiều là những người đàn bà lam lũ. Trong cái nhìn của tôi, nếu Sự mất ngủ của lửa là tập thơ quan trọng nhất thì Những người đàn bà gánh nước sông có lẽ là tập thơ hay nhất của Nguyễn Quang Thiều. Cả hai góp phần định dạng một phong cách, hình thành một từ trường và xác lập một khuynh hướng mà những tập thơ sau là sự tiếp tục và mở rộng những nhịp đi này.

Với nước, lửa, cánh đồng và dòng sông, mỗi biểu tượng mang một lượng nghĩa và khả năng biểu đạt chiều sâu. Có hữu hạn và vô hạn. Có suy kiệt và tái sinh. Nhưng tái sinh và hy vọng bao giờ cũng cao hơn cái chết([9]). Đặc biệt, tất cả đều thao thức và “mất ngủ” trong thi giới Nguyễn Quang Thiều. Trong toàn bộ châu thổ phong nhiêu Nguyễn Quang Thiều, thiên nhiên cũng là một ngôn ngữ, một tiếng nói kết bện nhiều tiếng nói. Nó là nhiên liệu tiếp sức nhưng cũng là nơi trú ẩn và xoa dịu nỗi đau. Nó tự nhiên và bao dung đón nhận những đứa con lưu lạc: Trốn lo âu về lại cánh đồng

4. Hiện đại và bản sắc: cách tân thơ của Nguyễn Quang Thiều

Những ai lo lắng thái quá về sự lạc bước của Nguyễn Quang Thiều hẳn phải nghĩ lại bởi những khúc thánh ca mà Thiều đã hát không xa lạ gì với các phạm trù chân – thiện – mỹ vốn được mặc định là chuẩn mực giá trị của văn chương. Chỉ có điều Nguyễn Quang Thiều đã tìm đến hình thức biểu đạt mới đẫm chất tượng trưng. Tại đó, trong vương quốc thi ca của mình, giọng nói của nhà thơ mang quyền uy tuyệt đối. Tuyệt đối trong cả những hơi thở, thì thầm đứt quãng. Hành trình ấy là một hình thức chịu nạn, một thứ chịu nạn đầy hạnh phúc và tự nguyện:

Mi sẽ phải sống, phải đau đớn suốt đời. Phải bước đi không giày trên gai sắc, trên đinh nhọn, trên rắn rết, đi qua lửa và nước.

Mi phải ngày ngày ngồi trên chiếc ghế hành hình do chính mi đặt trong căn phòng bé nhỏ của mi. Và đêm đêm mi phải ngồi trước mi như bóng tối đối diện ánh sáng.

(Cây ánh sáng)

Nguyễn Quang Thiều cảm nhận được, trong bản thể cái tôi có sự giằng kéo của hai lực đối lập mà thống nhất: ta và mi, ánh sáng và bóng tối,… Cuộc đối thoại giữa chúng luôn diễn ra không có điểm dừng. Những tập thơ sau của Thiều đã bắt mang hơi hướm tôn giáo và khát khao được mặc khải trong ánh sáng vô lượng của Đức Chúa:

Và Người đã biến chàng trở thành một chiếc lá nhỏ không bao giờ tàn úa

trên cành của tán lá ban mai kỳ vĩ trong vũ trụ ngập tràn.

(Cây ánh sáng)

Chúa Trời mà Nguyễn Quang Thiều nói đến thực ra là Đức tin về những giá trị Người. Thẳm sâu trong tâm hồn thi sĩ của Nguyễn Quang Thiều là chất lãng mạn. Cái phẩm tính lãng mạn ấy, không hoàn toàn đồng nghĩa với cái cũ, đã bị vượt qua như chủ nghĩa lãng mạn với tư cách là một hệ hình thẩm mỹ. Phẩm tính ấy quá ư cần thiết trong xã hội hiện đại đang đi về suy đồi và tràn ngập sự vô cảm. Theo ý tôi, sự cách tân của Nguyễn Quang Thiều là sự đổi mới kiểu tân cổ điển, tân tượng trưng. Bản tính nghệ thuật và sự cách tân trong thơ Nguyễn Quang Thiều chưa phải là hậu hiện đại (như một chủ nghĩa – postmodernism) bởi lẽ thơ Nguyễn Quang Thiều thiếu vắng cái nhìn hoài nghi triệt để (giải thiêng) và thiếu tiếng cười giễu nhại. Nhưng sự khai phóng của Nguyễn Quang Thiều mang ý nghĩa hậu hiện đại nếu ta hiểu điều kiện hậu hiện đại như là môi trường giải phóng tối đa tự do tư tưởng và tự do cá nhân. Xét về bản chất, thơ Nguyễn Quang Thiều là tiếng nói hướng thượng. Nhưng đó không phải là hướng thượng chính trị (thông thường) mà hướng tới những giá trị nhân sinh cao cả, những vẻ đẹp kỳ diệu của cuộc sống của bằng sức mạnh của nghệ thuật. Đó mới là thứ chính trị mà thi ca hướng tới. Kiểu thướng thượng ấy tất nhiên đi liền với hướng thiện. Nó cần đến sự sám hối và cứu rỗi chân thành. Đó là tính nhân văn toát lên trong thế giới nghệ thuật Nguyễn Quang Thiều, là cái gốc của mọi sự quyến rũ.

Cho đến nay, dù theo dõi hành trình đổi mới thơ Việt đương đại nói chung và thơ Nguyễn Quang Thiều nói riêng khá sít sao nhưng tôi hiểu, những diễn giải trên đây chưa thể bao quát hết trữ lượng nghệ thuật phong phú của Nguyễn Quang Thiều. Vẫn biết, thơ Nguyễn Quang Thiều có cả những mặt hạn chế như sự rườm lời bởi quá nhiều định ngữ nghệ thuật, cảm xúc nhiều khi chưa được tiết chế làm tổn hại đến những bí mật cần giấu kín để kích thích sự khêu gợi sâu xa,… Mặt khác, quan niệm nghệ thuật ít nhiều mang tính truyền thống và căn cốt lãng mạn tuy bảo đảm tính thống nhất của một khuynh hướng nhưng cũng là nguyên nhân tạo nên sắc thái mono trong giọng điệu Nguyễn Quang Thiều. Nhưng nếu cứ đưa ra những “giá như…” không ăn nhập gì với trường sáng tạo Nguyễn Quang Thiều là điều không thể và không cần thiết. Nhà phê bình cũng là người đọc và anh ta có nhiệm vụ diễn giải một cách nhìn. Điều quan trọng hơn cả là trong thơ Việt đương đại đã có một giọng nói, một ngữ hệ, một dải phổ mang tên Nguyễn Quang Thiều. Người ta sẽ còn nói về anh như một nghệ sĩ tiền phong, một nhà cách tân hàng đầu trong nỗ lực làm mới thơ đương đại. Còn Nguyễn Quang Thiều, như thường lệ, sẽ không quá quan tâm đến sự khen chê, lặng lẽ tìm đến khu vườn của mình để hát về cố hương:

Tôi hát, tôi hát bài hát về cố hương tôi

Trong những chiếc tiểu sành đang xếp bên lò gốm

Một mai đây tôi sẽ nằm trong đó

Kiếp này tôi là người

Kiếp sau phải là vật

Tôi xin ở kiếp sau làm một con chó nhỏ

Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi

Trong sự im lặng tuyệt đối của khu vườn, thi sĩ được mặc khải và được cứu rỗi bởi ánh sáng của đức tin. Cảm thức tôn giáo ngày càng đậm nét trong thơ Nguyễn Quang Thiều thực chất là quá trình thức nhận ngày càng sâu sắc hơn về sự huyền linh của các giá trị. Có lẽ trong thơ Việt Namđương đại, hiếm người nào kiên trì một đức tin sâu thẳm như Nguyễn Quang Thiều. Tại đấy, anh nghe thấy giọng nói của cha ông, của Chúa Trời, và quan trọng hơn, nghe thấy giọng nói của chính mình.

Phần riêng, tôi chỉ muốn nhắc đến một chi tiết, năm 2011, Bài hát về cố hương đã được chuyển ngữ sang tiếng Nga và được bạn đọc yêu thơ tại Nga bình chọn là bản dịch hay nhất trong năm. Vậy là cái mẫu gốc văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Quang Thiều đã bắt đầu lan tỏa và hòa nhịp với tình cố hương trong tâm hồn nhân loại.

Đầu hạ, mùa loa kèn 2012



* Rút từ Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang ThiềuNxb. Hội Nhà văn, 2002

([1]) Xem thơ Nguyễn Quang Thiều theo trình tự thời gian sẽ thấy rõ điều này.

 ([2]) Thơ Lý Bạch: Sàng tiền minh nguyệt quang/ Nghi thị địa thượng sương/ Cử đầu vọng minh nguyệt/ Đê đầu tư cố hương; bản dịch của Tương Như: Đầu giường ánh trăng rọi/ Ngỡ mặt đất phủ sương/ Ngẩng đầu nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ cố hương.

([3]) Để hiểu rõ hơn điều này, xin đọc Thư của một nhà thơ Việt gửi những nhà thơ đòi Đường, trong Châu thổ, H.: Nxb. Hội Nhà văn, 2010, tr.306.

([4]) Điều này đã được một số nhà phê bình nhận thấy từ sớm mặc dù cách lý giải của họ khác nhau. Xin xem: Đỗ Minh Tuấn,Trốn lo âu về lại cánh đồng, trong Ngày văn học lên ngôi, H.: Nxb. Văn học, 1996, tr.325-332; Đông La, Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều, trong Biên độ của trí tưởng tượng,  H.: Nxb. Văn học, 2001, tr.108-124; v.v….

([5]) Xin xem: Trần Đình Sử, Địa vị lịch sử của phong trào thơ mới. Nguồn: http://www.phebinhvanhoc.com.vn

([6]) Tín hiệu mới là cách nói của Huỳnh Như Phương trong tập tiểu luận bàn về văn học đương đại. Tôi muốn lưu ý thêm rằng, không phải đến 1986, văn học mới bắt đầu đổi mới mà ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, những dấu hiệu mới đã bắt đầu xuất hiện. Người đọc sẽ nhớ đến hàng loạt tiểu luận của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Lã Nguyên,… Về văn xuôi, đáng chú ý là Nguyên Trọng Oánh với Đất trắng (tập 1, 1979; tập 2, 1984), Ma Văn Kháng với Mùa lá rụng trong vườn (1985), Lê Lựu với Thời xa vắng (1985), Đào Nguyễn với Miền hoang tưởng (1990),… Về thơ, sự đổi mới (chủ yếu ở cảm hứng và quan niệm nhân sinh) có thể nhìn thấy ở Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Trọng Tạo,… Đổi mới lối viết chưa xuất hiện nhiều trong thơ cuối thập kỷ 70, đầu 80 của thế kỷ XX. Nó chỉ trở thành ý thức thường trực sau khi Sự mất ngủ của lửa gây nhiều tranh cãi trên thi đàn.

([7]) Tham khảo thêm nhận định của Nguyễn Việt Chiến: “Những năm 90 của thế kỷ trước, thơ Việt Nam đương đại bắt đầu có sự chuyển đổi lớn về mặt thi pháp và có thể nói Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ đầu tiên bằng những nỗ lực vượt bậc và tài năng xuất sắc của minh đã xác lập một giọng điệu mới trong thơ Việt” (Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân, H.: Công ty văn hóa Trí tuệ Việt & Nxb. Hội Nhà văn, 2007, tr.30).

([8]) Câu chuyện này làm ta liên tưởng đến câu thơ Hơn một loài hoa đã rụng cành của Xuân Diệu trong Đây mùa thu tới (in trong tập Thơ thơ, 1938). Khi câu thơ này xuất hiện, nhiều người quy kết Xuân Diệu mất gốc, lai căng. Thật may, Hoài Thanh nhận thấy chính cái “bỡ ngỡ như trẻ con học nói” ấy là chỗ hơn người của Xuân Diệu. Nay thì cách nói kia đã trở thành thông dụng với tất thảy chúng ta.

([9]) Xin xem: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Quang Thiều: Nước, lửa, những cánh đồng và dòng sông…. [H.: Tạp chí Nhà văn, tháng 2/2003], in lại trong Vọng từ con chữ, H.: Nxb. Văn học, 2003.

Leave a Reply