Gái nước Nam (phần 2/2)


Hồ Tài Huệ Tâm

Sự giải phóng tiểu thuyết

Ở đây, một lần nữa Phạm Quỳnh lại đóng vai trò quan trọng. Đam mê quan tâm việc phát triển một nền tiểu thuyết Việt nam thực sự, ông viết nhiều bài báo giải thích tính chất, những mục đích, và quy luật của thể loại này, củng cố những tiểu luận của ông với những phác hoạ về các tác giả ông đã ưa thích cách riêng và những trích đoạn từ các tác phẩm của họ. Ông cũng làm nhiều để khích lệ sự tăng trưởng của tiểu thuyết trong nước; nhiều người đóng góp cho tờ Nam phong đã thử bắt tay vào việc viết truyện ngắn cũng như tiểu luận. Đó là ý kiến của Phạm Quỳnh, mượn mà không nêu rõ từ Lương Khải Siêu, rằng tiểu thuyết nên được cứu khỏi tai tiếng truyền thống của nó. Thay vì bị xem như vô luân và không có giá trị gì về giáo dục, nó nên được hưởng cùng uy danh giống như những tiểu luận bác học. Ông biện luận, tiểu thuyết sở hữu một vai trò mô phạm và một mục đích luân lí cao.

Nhưng tiểu thuyết nắm bắt được trí tưởng tượng công cộng trong giữa thập niên 1920 là thuộc tính lãng mạn đậm nét. Trước đó đã có nhiều tiểu thuyết phương Tây cung ứng qua bản dịch, bao gồm những tiểu thuyết lãng mạn. Một số đã được đăng hàng kì trên tờ Nam phong, số khác được xuất bản thành sách. Nhưng mặc dù những bản dịch khéo, nguồn gốc phương Tây của chúng vẫn không thể thoát được. Đối với nhiều độc giả, đặc biệt là giới có học bảo thủ cấu thành một tỉ lệ độc giả quan trọng của tờ Nam phong, tâm lí của các nhân vật phương Tây, những vấn đề họ đối mặt, những cảnh quan trong đó họ di chuyển, tất cả vẫn còn là lạ lẫm. Thậm chí phong cách của họ bị phê bình là thiếu chất thơ, vì văn xuôi thẳng tuột vẫn chưa quen thuộc. Chỉ với sự xuất hiện của tiểu thuyết trong nước vào đầu thập niên 1920 mới khiến văn học thực sự trở thành một phương tiện chuyên chở thuyết ngôn văn hoá. Mặc dầu rõ ràng chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây, những cảm tính của nó mắc nợ nhiều với tiểu thuyết cuối đời Thanh, đặc thù với loại được biết như là “uyên ương hồ điệp” [chuyện tình trai gái]. Đây là một loại văn học bình dân, thường với ít nhiều thông điệp luân lí rõ rệt, đã thu hút một công chúng đọc bị thu hút, như người Việt, trong những vặn mình của sự thay đổi văn hoá.

Một truyện ngắn do Đoàn Ngọc Bích viết xuất hiện trên tờ Namphong vào tháng Mười một 1922 minh hoạ sự không tin cậy rộng rãi về nữ học. Nhân vật chính trong câu chuyện luân lí này là con gái của một ông đồ ở quê. Cha cô bị thuyết phục, xuất phát từ tình phụ tử lầm lạc, đã gửi cô tới trường thay vì dạy ở nhà. Cô được gửi tới Hải phòng, thành phố lớn thứ hai Bắc kì, với danh nghĩa theo học một trong những trường Pháp–Annam mới. Nhưng chẳng bao lâu những báo cáo về hành vi bướng bỉnh của cô khiến cha mẹ lo lắng. Bị gọi về nhà, cô gái trẻ mau chóng trở nên chán chường; cô mê ánh đèn Hải phòng, rạp chiếu bóng, nhà hát, khách sạn, và nhà hàng; cô nhớ những bộ quần áo và giày dép hợp thời trang. Người mẹ lo lắng rằng cô đã trở nên táo tợn, không vâng lời, và lẳng lơ. Vị phu nhân tốt lành kia đùng đùng nổi giận khi bà bắt gặp con gái mình thoa son phấn. Cảm thấy bị hiểu lầm, cô gái trốn khỏi nhà và dần dà chìm đắm vào thói hư tật xấu. cô trở nên nghiện đánh bạc và có những ái tình vụng trộm. Cô dấn vào một hôn nhân tai hoạ với một kẻ vô lại từ chối hỗ trợ đứa con, và lâm vào cảnh ăn xin. Rõ ràng, bắt đầu với sự nổi loạn và sự mê luyến vô hại của tuổi thiếu niên với quần áo và trang điểm, cô đã sa ngã hết cứu nổi. Cả câu chuyện được kể với một giọng luân lí nặng nề tiêu biểu trong tiểu thuyết của  thời kì đó. Không có một gợi ý nào là cha mẹ của cô gái có thể đã sai lầm bằng việc phản ứng quá mạnh việc cô lìa xa hành vi theo quy ước. Mặc dầu tác giả không chuyên biệt đặt cáo buộc về sự sa ngã của cô cho việc học ở trường, nhưng thông điệp thì rõ ràng. Một sự giáo dục hiện đại cho phụ nữ đề cao sự bất hiếu, bất lương, và sự lăng nhăng về ái tình.[31]

Đoàn Ngọc Bích chẳng phải không cảm thông với phụ nữ bị mắc bẫy trong những hôn nhân không tình yêu, đa thê. Trong một truyện ngắn khác, nhan đề “Gả bán cho con” chỉ xuất hiện trên hai số báo sau đó, ông thuật lại câu chuyện đáng tiếc của một cô gái trẻ bị cha mẹ khá giả nhưng tham lam ép trở thành vợ lẽ của một người đàn ông trung niên đã có vợ. Hôn nhân của cô thành ra tệ hại. Người chồng càng trút lên cô những ưu ái chẳng được hoan nghênh, thì bà vợ cả càng đối xử tàn nhẫn với cô hơn. Cuối cùng, cô trốn khỏi tổ ấm vợ chồng để tự giải thoát khỏi tình hình không thể chịu nổi. Vài năm tiếp theo, cô có thể tự hỗ trợ mình và bằng lòng với đời sống như một người phụ nữ không ràng buộc. Tuy nhiên, câu chuyện của cô không dừng ở đó. Người sáng tạo cô, hiển nhiên, không thích bỏ cô trong trạng thái độc thân và cho cô tái hôn. Nhưng người chồng mới của cô hoá ra là một kẻ vô lại kiêm một con bạc đã tiêu xài hết tiền tiết kiệm mà cô khó nhọc kiếm ra và còn đánh đập cô. Nữ nhân vật chính lại bỏ trốn; và lần nữa, tác giả không thể chịu để cô sống hạnh phúc độc lập. Mặc dầu trong nửa phần đầu của câu chuyện ông đã chất đầy sự khinh bỉ lên cha mẹ tham lam của cô (những kẻ, trong tội lỗi của mình, đã không giữ lời hứa cho cô kết hôn với một người học trò nghèo), cuối cùng, anh đã có sự quay lại của cô về gia đình, thề nguyện bỏ cái ý tưởng về hạnh phúc hôn nhân và sống theo tiếng gọi của lòng hiếu thảo. Kết thúc không chắc có thực của câu là hậu quả của những khó khăn của tác giả trong việc thoả hiệp với những mâu thuẫn của luân lí thời chuyển tiếp.[32]

Trong bầu không khí dư luận coi sự hiếu thuận là trên hết, chủ trương cho phép giới trẻ tự chọn lựa bạn đời của chính họ được coi là quá liều lĩnh. Thực sự, những nhà cải cách lên tiếng về luân lí thích thuyết giáo hơn về sự vâng lời cho giới trẻ trong khi khuyên phụ huynh phải suy nghĩ kĩ trong việc lựa chọn bạn đời cho con cái. Nhưng những khía cạnh khác của phong tục hôn nhân đang bị tấn công. Trong năm 1922, tờ Nam phong chạy một loạt các bài báo bởi Trần Quan Chí về nhu cầu cải cách phong tục, đặc biệt trong những vùng nông thôn, nơi bị cho rằng lạc hậu hơn so với những trung tâm thành thị Tây hoá (những bài báo này chạy cùng một loạt bài về nhu cầu chấn chỉnh chính quyền làng xã thì không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên). Việc tảo hôn bị chỉ đích danh là có hại cả cho sức khoẻ của đôi lứa cũng như cơ hội hạnh phúc của họ. Việc tảo hôn được xem là một nhân tố đóng góp cho chế độ đa thê, là một phong tục khác mà tác giả lên án. Giữa những lí do cho việc tảo hôn được sắp đặt, tác giả viện dẫn một sự mong muốn có thêm nhân công lao động ngoài đồng hay trong nhà và một trong hai gia đình mong mỏi kết hợp với một gia đình giàu hơn để tiếp cận với những nguồn tiền mới. Việc bán những cô gái trẻ vào những cuộc hôn nhân cũng bị lên án thẳng thừng.[33] Trong những bài báo này, một sự kết nối được thiết lập giữa những phong tục hôn nhân và những sự cân nhắc về kinh tế; điều này sẽ là một đề tài quan trọng của tu từ học nữ quyền trong những năm sau này. Nhưng mặc dầu, các tác giả viết trênNam phong đã đôi lúc trình ra một sự hiểu biết về hoàn cảnh kinh tế của phụ nữ nghèo, họ quan tâm chủ yếu vào việc định hình một giới ưu tú mới. Trước đó, khi tới việc thảo luận về luân lí, hoạt động mạnh nhất như thể người phụ nữ Việt đặc trưng chẳng bao giờ bước ra ngoài phạm vi công việc nhà được rào kín hay tiếp xúc với những người đàn ông không họ hàng với cô. Và mặc dầu chế độ đa thê bị tấn công, lòng trung thành suốt hôn nhân và thậm chí trong cảnh goá bụa, sự phục tùng, và tính vâng lời tiếp tục là những ý tưởng đề xuất cho phụ nữ.

Một sự phát triển mới đã xảy ra vào tháng Mười một 1923 khi tờNam phong bắt đầu đăng hàng kì bản dịch của một cuốn tiểu thuyết cuối đời Thanh, Tuyết hồng lệ sử (雪鴻淚史/Hsueh hung lei shih), của Từ Chẩm Á[34]. Câu chuyện của nó, đặt trong năm 1909 trong những ngày hấp hối của triều đình Mãn châu, là một điều mà độc giả Việt có thể dễ dàng đồng cảm. Hơn nữa, nó được viết trong phong cách cổ điển, tràn đầy thi ca vốn thiếu vắng trong tiểu thuyết phương Tây mà người Việt rất phàn nàn. Tuyết hồng lệ sử được viết một cách độc đáo vào năm 1915 dưới dạng một cuốn nhật kí được giữ bởi một trong những nhân vật chính của truyện, là Hà Mộng Hà. Đây là sự cố gắng của Từ để cải tiến một phiên bản trước đây, được xuất bản năm 1912 như một bản tự sự chân thực dưới nhan đề Ngọc lê hồn (玉梨魂/Yu li hun)[35]. Trong mỗi khuôn khổ cuốn tiểu thuyết này đều thành công phi thường, cả ở Trung quốc lẫn nước ngoài.[36] Từ Chẩm Á đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi những tác phẩm kinh điển phương Tây như cuốnTrà hoa nữ (La Dame aux camélias) của Dumas và cuốn Nỗi đau của chàng Werther (Die Leiden des jungen Werther) của [Johann Wolfgang von] Goethe, khéo léo pha trộn chủ nghĩa lãng mạn phương Tây với những cảm thức văn học Trung quốc.

Trong bài tựa, dịch giả chào mừng cuốn sách vì sự mới mẻ của nó, nhận xét rằng nó được đặt vào thập niên trước, không phải trong một quá khứ mơ hồ nào, và rằng câu chuyện liên quan tới một “thanh niên tài năng và có giáo dục cao của chính thời chúng ta.” Thực sự, nó đại diện cho một sự rời xa triệt để khỏi thực đơn đều đặn của những tiểu thuyết lịch sử mà Nguyễn An Khương[37] và những dịch giả khác đã tặng cho cộng đồng độc giả Việt thiết tha với văn học trong tiếng nói thông tục mới. Dịch giả ca ngợi quá mức nó như là trội hơn Truyện Kiều (傳翹), được xem như kiệt tác của văn chương Việt nam. Tuy thế văn phong cổ điển trong đó câu chuyện được viết, và cốt truyện của nó, tập trung vào một tam giác tình yêu dính líu hai chị em, quen thuộc với độc giả văn chương tiền hiện đại, cả Trung quốc lẫn Việt nam. Truyện Kiều liên quan tới một thanh niên đầy tài năng và dòng dõi cao quý phải chọn lựa giữa hai chị em; trong Hồng lâu mộng (紅樓夢), là hai anh em họ. Trong cả hai trường hợp, một người xinh đẹp, tài năng, nhưng cũng nhạy cảm và quá lãng mạn, người kia thì siêng năng dù xứng đáng. Trong cả hai trường hợp, nhân vật nam chính đành phận với người tầm thường hơn.

Thực chất, Lệ sử liên quan tới ba người trẻ: Hà Mộng Hà, một thanh niên nghèo khổ được thuê làm gia sư cho con trai của một quả phụ quyến rũ hai mươi bảy tuổi tên là Lệ Ảnh; chính Lệ Ảnh, sản phẩm của truyền thống; và em gái nàng mười sáu tuổi là Vân Kiên, đang học một trường kiểu mới và là điển hình của phụ nữ trẻ hiện đại. Mặc dầu Lệ Ảnh và Mộng Hà yêu nhau say đắm, Lệ Ảnh tự xem mình bị giới hạn bởi những luật lệ của chữ trinh vẫn còn chung thuỷ với người chồng đã chết, và đề nghị với cha về một hôn nhân sắp xếp giữa Mộng Hà và em gái nàng. Mộng Hà miễn cưỡng cầu hôn Vân Kiên, phật lòng vì là nhân vật bị sắp xếp, cũng chẳng thiết tha gì với hôn nhân này hơn chàng là bao. Nhưng Lệ Ảnh vẫn sợ rằng Mộng Hà vẫn còn yêu mình, và quyết định trả lại chàng tự do bằng cách nằm liệt giường và buông mình vào cái chết. Vân Kiên đã không biết về sự gắn bó của chị và chồng chưa cưới, tình cờ thấy một bức di thư Lệ Ảnh đã để lại cho Mộng Hà. Chấn động bởi sự ăn ở hai lòng của Mộng Hà đối với mình và thương cảm sự thanh khiết và thành tâm của chị gái, cô ngã bệnh, nguyện chết. Bản dịch tiếng Việt của cuốn tiểu thuyết đã dừng ở điểm này trên số báo Nam phongtháng Sáu 1924. Trong số báo tháng Chín, dịch giả đã đạt được bản dịch sớm hơn để cho độc giả biết chuyện gì đã xảy ra với Mộng Hà. Chàng đã tới Nhật để lưu học với mục đích phục vụ đất nước. Vào năm 1911 chàng tham gia cuộc Khởi nghĩa ở Vũ xương, và ghì chặt một tập thơ của chính chàng, chết bởi vì tình yêu lẫn vì đất nước.[38] Sự kết hợp của những mối quan tâm cá nhân với sự dấn thân chính trị, quy chiếu về Nhật, và cái chết của Mộng Hà trong một sự kiện quá cốt yếu cho việc lật đổ sự cai trị của triều đình Mãn châu và sự sáng lập của Trung hoa Cộng hoà tất cả đã đánh động một dây đàn thầm kín trong lòng độc giả Việt.

Tuy nhiên, dịch giả của cuốn Lệ sử dường như nghi ngại về nội dung luân lí của câu chuyện và yêu cầu độc giả thưởng thức cuốn tiểu thuyết mà không nhất thiết phải tán thành lối cư xử của các nhân vật trong truyện. Mặc dù dùng lối tự vệ như thế, cuốn tiểu thuyết vẫn tạo ra một sự xúc động mạnh. Được khuyến khích, dịch giả thay đổi định dạng của nó từ “tiểu thuyết chung tình” thành “ái tình tiểu thuyết”. Việc xuất bản cuốn Lệ sử dường như đã cho các tác giả bản địa dũng khí để xuất bản tiểu thuyết lãng mạn của riêng họ. Một sự nỗ lực như thế chẳng tồn tại bao lâu, nhưng một quảng cáo cho nó xuất hiện trên tờ Nam phongmột tháng sau việc đăng hàng kì truyện Lệ sử kết thúc. Giống nhưTuyết hồng lệ sửKim Anh lệ sử được mô tả như một tiểu thuyết mới, đặt ở Bắc kì vào cuối thập kỉ. Theo sau bài quảng cáo này là một bài bình luận rất hứa hẹn từ tờ báo Khai hoá, ca ngợi “chân dung như ảnh chụp về xã hội miền Bắc: những quan lại bất lực lại tham lam, những ông chủ bội bạc, làm điều sai trái trong những chốn cao sang, ganh đua nhỏ mọn trong những làng xã.”[39] Trên hết, nó hứa hẹn trình ra những bi kịch do chế độ đa thê gây ra. Nữ nhân vật chính được mô tả là xinh đẹp lạ kì và tiết hạnh nhưng cũng bị đè nặng bởi những nỗi buồn phi thường. Tiểu thuyết này được đặc biệt giới thiệu cho phụ nữ thuộc giới ưu tú vẫn sống sau “tường cao cổng kín.” Kim Anh là một khuôn mẫu không thể nào tin được về nhan sắc và đức hạnh nên không chiếm bắt được trí tưởng tượng của độc giả hiện đại, và bởi vậy đã chìm nghỉm không để lại dấu vết. Nhưng chỉ vài tháng, một chấn động văn học đã xảy ra với sự xuất bản cuốn Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách.[40]

Hoàng Ngọc Phách, đã học với một thầy giáo Trung quốc, quen thuộc với tiểu thuyết cuối đời Thanh cũng như với truyện Trà hoa nữ. Vào năm 1921, ông viết một truyện ngắn, là “Giọt lệ hồng lâu”, rơi vào dòng chủ lưu văn học cuối đời Thanh trong sự mê hoặc với những mảnh đời của các gái điếm.[41] Ông cũng bắt đầu một truyện dài hơn và gửi nó cho Bản tin cựu học sinh (Bulletin of the Alumni) của Trường Sư phạm nơi ông đang theo học. Nhưng khi Bản tin ngừng xuất hiện, ông gạt qua một bên tiểu thuyết của mình. Rồi, vào năm 1925, ông quay lại với nó, và xuất bản dưới nhan đề Tố Tâm [tấm lòng trong trắng]. Cuốn tiểu thuyết này thành công ngay lập tức. Ấn bản đầu với ba nghìn bản bán sạch chỉ trong hai tuần; ấn bản lần hai với hai nghìn bản cũng bán nhanh như thế.[42]

Giống như những tiểu thuyết cuối đời Thanh mà từ đó Hoàng Ngọc Phách lấy cảm hứng, Tố Tâm mang một lời tựa trong đó tác giả trình bày những điểm luân lí nổi bật của câu chuyện. Ông giải thích rằng khởi đầu ông đã có những mối lo ngại về việc xuất bản, sợ sự tiếp nhận ban cho nó. Nhưng sự nhiệt liệt hoan nghênh của việc đăng hàng kìTuyết hồng lệ sử có thể đã thay đổi tâm trí ông. Tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách cũng là về hai người yêu trẻ bị mắc vòng định mệnh, Tố Tâm và Đạm Thuỷ, một người bạn của em trai. Khi họ gặp nhau, Đạm Thuỷ, một nhà văn, đã đính ước kết hôn với một thiếu nữ mà mẹ chàng đã chọn lựa. Mặc dù chàng cảnh báo rằng mình không mong muốn chống lại những nguyện ước của mẹ, Tố Tâm tin chắc rằng nàng có thể yêu vì tình, rằng tình yêu và hôn nhân chẳng quan hệ. Chính Tố Tâm đã cưỡng việc mẹ ép cưới một thanh niên khác. Nhưng khi mẹ ngã bệnh, Tố Tâm nhượng bộ trước những mong muốn của mẹ và kết hôn. Nhưng nàng không thể quên Đạm Thuỷ và chết vì cõi lòng tan nát chẳng lâu sau tiệc cưới, bỏ lại Đạm Thuỷ (và có lẽ cả chồng nàng) buồn thảm. Tình yêu lãng mạn, không được phép của gia đình và tồn tại bên ngoài những ràng buộc của hôn nhân, được vẽ chân dung như thế là một công thức cho tai hoạ.

Hoàng Ngọc Phách dường như đã tự coi trọng khuôn khổ mô phạm của tiểu thuyết, ngay cả khi ông thấy nguy cơ của việc khuyến khích sự buông thả lãng mạn trong đám độc giả của mình. Trước khi xuất bản cuốn tiểu thuyết, ông đã gửi cho Nam phong một bài báo cảnh cáo về mối nguy hiểm của việc nuôi dưỡng những cảm tính văn học trong đám phụ nữ.[43] Trong lời đề tựa Tố Tâm, được viết vào tháng Tám 1922, ông phát biểu:

Nhiều khi anh em ngồi đàm luận về tân học ngày nay, kí giả thường nghe nói đến một bậc thanh niên tân tiến có tính tình, văn chương, tư tưởng, thường hay lạm dụng những tài liệu đó đem ra làm việc cho ái tình, ghẹo lòng người nhi nữ, vội thi hành những ý tưởng trong sách hay những cảnh mình tưởng tượng ra. Có lúc cố ý mà làm, cũng nhiều khi làm mà không tự biết, miễn là tìm được nơi thí nghiệm ý tưởng của  mình và lấy được lòng yêu của người mà thôi, nên xảy ra lắm tấn bi kịch, thiệt cho mình mà khổ cho người, quấy rầy đến gia đình, xã hội.

Đây không phải là sự chối bỏ tinh ma. Những năm sau đó, sau khi nhiều truyện hơn tập trung vào những xung đột giữa bổn phận và tình yêu đã xuất hiện, Hoàng Ngọc Phách vẫn bám lấy niềm tin nguyên thuỷ, và hoàn toàn không mang tính cách mạng, vào đức hạnh của sự cam chịu và sự quên mình: “Những nhân vật trong truyện của tôi biết ý nghĩa của sự hi sinh vì lợi ích của cha mẹ. Điều đó là đúng đắn. Chỉ người nào có thể hiếu hạnh với gia đình thì mới có thể trung thành với đất nước mình.”[44] Nhưng thanh niên Việt đã gì chặt cuốn tiểu thuyết này vào lòng và khóc than cho những nỗi buồn của các nhân vật hư cấu có một cách hiểu rất khác về thông điệp của nó. Họ nhìn vào những vai chính hiện thân cho chính hoàn cảnh của họ, và bám vào ý tưởng rằng Tố Tâm và Đạm Thuỷ là những nạn nhân của cả gia đình đôi bên. Thực tế là, hai người mẹ trong câu chuyện này khác xa những bà mẹ chuyên chế sau này đầy rẫy trong những tiểu thuyết tương tự vậy. Với những ý định tốt nhất trên thế gian, mỗi người đã chọn lựa cho con mình một bạn đời phù hợp cao mà đứa con không thể yêu. Tố Tâm và Đạm Thuỷ thì quá nặng bổn phận, hiếu hạnh, và có lẽ quá yếu đuối để chống lại những mong muốn của các bà mẹ. Tuy thế, đối với độc giả trẻ, việc những nhân vật này phát biểu quyền cá nhân tồn tại giáp mặt với áp lực của gia đình phải quy thuận, như thế là đủ.[45]

Những nhà bình luận đương thời chia rẽ nhau về những giá trị của cuốn tiểu thuyết. Các nhà phê bình văn học bày tỏ sự đánh giá nhiệt thành của họ về những cách tân về phong cách, nhưng các nhà luân lí kịch liệt lên án Tố Tâm, thấy trong đó (như trong Tuyết hồng lệ sử) một liều thuốc độc nguy hại làm đồi truỵ thanh niên Việt.[46] Thực sự, những câu chuyện gây kinh hoàng bắt đầu loan truyền sau việc xuất bản cuốnTố Tâm rằng các thiếu nữ tự thấy mình bị cha mẹ ép buộc vào trong những hôn nhân được sắp đặt đang tìm kiếm lối thoát trong cái chết.[47] Mặc dù những nhà đạo đức có thể chê trách ảnh hưởng của tiểu thuyết lãng mạn trên tinh thần mỏng manh của họ, sự thật còn là rằng bằng việc coi trọng những mối quan tâm của họ hơn là đưa họ ra nhạo báng, cuốn tiểu thuyết này giúp chôn cất ý tưởng rằng phụ nữ nên bị giữ khép kín phía sau “tường cao cổng kín”. Phải một thập niên nữa trước khi hồi kế tiếp trong trận chiến tiểu thuyết giữa các thế hệ mới được công bố. Tuy nhiên, trước đó rất lâu văn học đã khiến ngòi nổ chính trị bùng lên. Nó không liên quan tới việc xuất bản của một cuốn tiểu thuyết mới tấn công vào truyền thống và tán thành những nguyên tắc xa lạ. Thay vì thế, nó nổ ra quanh cuốn sách được yêu quý nhất của văn học truyền thống Việt nam: Truyện Kiều.

Những nhà yêu nước và các cô gái điếm

Truyện Kiều bao hàm sự đại diện tinh hoa của phụ nữ-như-nạn nhân. Trong khi viết nó, nhà thơ thế kỉ mười chín, Nguyễn Du, đã lấy cảm hứng từ một tình tiết diễn ra ở Trung quốc thế kỉ mười lăm và đã được hư cấu thành những tiểu thuyết và kịch trước khi đến với ông.[48] Trong việc tái tạo của Nguyễn Du, nhân vật Kiều nguyên gốc là bên lề nay lại khoác một vai trò trung tâm trong câu chuyện này. Theo vẻ bề ngoài, nó liên quan tới một thiếu nữ con gái nhà lành, xinh đẹp lạ thường, và tài năng lỗi lạc. Khi cha đột nhiên bị bắt về những lời vu cáo, Kiều, đành quy phục những khoa trương của một kẻ dụ dỗ chuyên nghiệp [Sở Khanh], sau đó nàng mắc vào lầu xanh (demimonde). Nàng chịu đựng nhiều nỗi truân chiên, trước hết trong một nhà chứa, rồi như vợ lẽ bị hành hạ của một quan chức sợ vợ [Thúc Sinh], và sau này như ái thiếp của một thủ lĩnh kẻ cướp [Từ Hải], trước khi thoát khỏi đời sống ô nhục. Cuối cùng nàng được tái hợp trong một hôn nhân thuần khiết với người tình đầu [Kim Trọng], tới lúc đó đã kết hôn với em gái nàng.

Đầu tiên được viết bằng chữ Nôm chứ không phải chữ Nho,Truyện Kiều dễ dàng được kí âm sang chữ Việt abc hiện đại. Hình ảnh tuyệt vời, âm nhạc, sự trưng bày về những kẻ đểu cáng và những nữ nhân vật chính, những sự thấu hiểu tâm lí, và những ý tưởng Nho giáo gắn liền với triết học Phật giáo của truyện tất cả khiến nó hết sức phổ biến với người Việt thuộc mọi tầng lớp, từ những học giả được đào luyện trong những kinh điển Trung quốc tới những nông dân chỉ biết chữ vừa đủ có thể nhớ một vài câu. Nó là nền tảng của vô số bản kịch nghệ và những ca khúc nổi tiếng; nó được các thầy bói tham khảo; sự phối hợp có vần của nó được sử dụng cho những cuộc tranh luận thơ ca; những nhân vật của nó đã trở thành những nguyên mẫu. NhưngTruyện Kiều cũng chứa đựng một chiều kích tự truyện thêm vào một sự phong phú về ý nghĩa và sự nhức nhối mà nguyên tác thiếu sót. Được sinh ra và được giáo dục dưới triều Lê, Nguyễn Du xoay xở tránh phục vụ nhà Tây Sơn khi họ lật đồ nhà Lê. Nhưng khi Gia Long lần lượt hạ bệ nhà Tây Sơn và lên ngôi năm 1802, ngài triệu Nguyễn Du vào triều. Nguyễn Du vâng theo, trái với tiếng gọi của lòng trung thành triều đại, thôi thúc ông chỉ phục vụ nhà Lê. Như một sứ thần của Gia Long gửi sang Trung quốc Nguyễn Du đã biết được câu chuyện về nàng Kiều. Những thế hệ yêu thơ ca, thậm chí những người không biết chữ, cũng biết về thế tiến thoái lưỡng nan của bản thân Nguyễn Du, và thấy trong chuyện kể bằng văn vần này còn hơn là câu chuyện bi kịch của một người phụ nữ xinh đẹp và tài năng mà số mệnh ghen tị. Điều này được hiểu là sự biện hộ cho đời tôi (apologia pro vita sua) của ông và là một sự biện hộ cho lòng trắc ẩn nhân danh tất cả những người có học bị mắc vào cát lầy luân lí của sự thay đổi chính trị.

Phạm Quỳnh đề cao Truyện Kiều như tuyệt đỉnh của di sản văn học Việt nam, tinh hoa nhất của quốc hồn quốc tuý, nhưng quả thực Nguyễn Văn Vĩnh mới là người đầu tiên đã quan tâm về việc khiến nó thành văn bản trung tâm của một chương trình giáo dục mới bằng văn tự abc Lamã hoá. Ông Vĩnh bắt đầu xuất bản một bản dịch có chú thích của Truyện Kiều trên Đông Dương tạp chí (Revue Indochinoise) của ông vào năm 1913. Phạm Quỳnh công bố bài báo đầu tiên của ông vềTruyện Kiều trên tờ Nam phong vào tháng Chạp 1919; đó là một tiểu luận có ý định trình ra cách áp dụng những phương pháp phê bình văn học theo lối phương Tây. Sau chuyến đi Pháp vào năm 1922, nơi ông diễn thuyết bao quát về Kiều, chủ đề này trở thành một đề tài yêu thích của tạp chí này. Bắt đầu với số báo 75 (1923), một cột báo nhan đề “Những đóng góp cho Truyện Kiều” xuất hiện đều đặn trên Nam phong, đưa ra các lời bình luận từ một sự đa phức của những nhà phê bình văn học và văn hoá. Nhiều người tán dương những khía cạnh đa dạng của Truyện Kiều tuy nhiên bộc lộ những ngần ngại về luân lí của truyện. Phụ nữ truyền thống đã bị cấm đọc câu chuyện của nàng vì sợ rằng sức mạnh luân lí của họ có thể bị đồi bại[49]. Nguyễn Đôn Phục nhận xét: “Ít người đọc Truyện Kiều để đặt văn học và hạnh kiểm tốt vào việc phục vụ nhân loại; họ đọc nó vì họ bị quyến rũ bởi sự say mê về tính dục và như thế làm độc hại xã hội hơn nhiều.”[50] Tuy nhiên, mãi tới khi ấy, cuộc tranh luận chỉ bao gồm những người cộng tác với tờNam phong, hầu hết họ ít nhiều tán thành những quan điểm chính trị riêng của Phạm Quỳnh. Nhưng vào năm 1924, Phạm Quỳnh quyết định tạo ra một sự sùng bái dân tộc để kính trọng nàng Kiều và tổ chức một cuộc lễ long trọng để tưởng nhớ tác giả. Sự khâm phục mang tính sùng bái của Phạm Quỳnh với Truyện Kiều đã đẩy đến một cuộc tranh luận trong đó những thẩm mĩ văn học diễn ra trên hai mặt là luân lí và chính trị, và trong đó nàng Kiều hư cấu được sử dụng để phát biểu những xung đột của sự hoà hợp và sự đề kháng.

Nghi lễ được tổ chức vào ngày 8 tháng Chín, lễ kỉ niệm ngày giỗ của Nguyễn Du, dưới những sự bảo trợ của Hội Khai trí Tiến đức. Đó là một sự kiện lớn. Tờ Nam phong vui mừng báo cáo rằng “kể có tới hai ngàn con người… Ở Hà Thành ta từ xưa đến nay có lẽ chỉ có tiệc trà đón quan Toàn quyền Sarraut diễn thuyết ở Văn Miếu năm 1919 là họp được đông người đến thế.”[51] Giọng điệu tự tán thưởng của bài báo hoàn toàn không xứng đáng với sự thành công của sự kiện này. Vào tháng Bảy, Phạm Quỳnh đã được yêu cầu đứng đầu khoa chữ Nho của một trường Sư phạm Đông dương mới.[52] Ngôi trường mới này là một phần của một loạt những cải cách giáo dục đã bắt đầu với việc đóng cửa Luật khoa Đại học và hàng trăm ngôi trường truyền thống cũng như những tổ chức Pháp–Annam tư nhân, nhưng điều đó bao gồm sự thành lập ở Bắc kì một chương trình giáo dục tiểu học bằng tiếng Việt. Phạm Quỳnh từ lâu đã chủ trương một chương trình như vậy, vì thế ông có thể tán thưởng một cách hài lòng về việc thực hiện một số ý tưởng ấp ủ nhất trong lòng ông.

Nhưng Phạm Quỳnh đã chọn lựa tồi trong việc điều phối nghi lễ long trọng của ông. Việc toan tính ám sát Toàn quyền Merlin của Phạm Hồng Thái vào tháng Sáu đã khơi lại những căng thẳng cũ giữa những người ủng hộ chế độ thực dân và những người bênh vực bạo lực cách mạng. Đối với loại người thứ hai, những lời lẽ của Phạm Quỳnh vang lên như một sự thách thức: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ?”[53] Lời thề nguyện trang trọng của ông “xin rầu lòng giốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang” nghe như một sự ủng hộ hiện trạng thực dân và một lời thề nguyện cho sự cộng tác. Nó kích động một đòn quật ngược những học giả của Bắc kì và Trung kì những người, không giống Nguyễn Bá Học hay Nguyễn Đôn Phục, kết hợp chủ nghĩa bảo thủ về văn hoá và luân lí với chính trị chống thực dân. Một số mới được phóng thích khỏi những nhà tù hình sự mà họ đã bị ném vào đó trong năm 1908.[54] Mặc dầu họ không thể đặt những hạn từ của cuộc đàm luận về văn hoá và luân lí; nhưng ảnh hưởng của họ thì không phải không đáng kể, đặc biệt sau khi họ giành được một phương tiện cho riêng mình. Tờ báo của họ, Hữu thanh [Tiếng nói của bằng hữu], đã được khai trương vào năm 1921 bởi Hội Tương tế Thương mại và Kĩ nghệ Bắc kì cùng với những khoản tiền trợ cấp từ Phủ Toàn quyền, nhưng chẳng mấy chốc trưởng biên tập tờ báo, là Ngô Đức Kế, đã biến nó trở thành một diễn đàn cho bảng hiệu chính trị văn hoá của riêng ông.[55] Ngô Đức Kế, một ông nghè đã cộng tác thân thiết với Phan Chu Trinh, phê bình dữ dội về đường lối đề huề của Phạm Quỳnh. Trong tháng Tư, ông công bố một bài báo trực tiếp thách thức lập luận của Phạm Quỳnh. Cũng khởi đi cùng tiền đề Xã hội Tiến hoá luận như Phạm Quỳnh, ông Kế biện luận rằng thế giới đã được tạo thành ở những thời điểm khác nhau, và như thế loài người đã xuất hiện ở những nơi khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Bởi vậy, có dân tộc văn minh, một số khác vẫn còn man rợ. Khi các nhân dân tiến bộ hơn tìm cách chinh phục và bóc lột các nhân dân kém tiến bộ, thì dẫn tới việc tranh đấu và chiến tranh triền miên. Ông tiếp tục, bởi vậy “nếu một nước tồn tại, hẳn văn hoá và ngôn ngữ của nó cũng sẽ tồn tại; nếu nước bị tận diệt, hẳn văn hoá và ngôn ngữ cũng bị tận diệt.”[56]

Sau cuộc lễ này, Ngô Đức Kế càng trở nên gay gắt trong sự phê bình của mình. Theo ông, tất cả thành viên của Hội Khai trí Tiến đức, bắt đầu với Hoàng Trọng Phu, và tất cả những người cộng tác với tờNam phong, mà Phạm Quỳnh đứng đầu, là những người “từ bỏ thân thể và tên tuổi cao quý của mình vào việc giữ gìn những nhà thổ.” Họ đã tự cho phép mình ăn ở như gái “bị quyến rũ bởi đàn ông đến nỗi bác bỏ những sự dạy dỗ của cha mẹ và bây giờ là những gái điếm để thân thể bị sử dụng như loài trâu ngựa.”[57] Buồn bực, Phạm Quỳnh vẫn giữ im lặng đường hoàng, nhưng ông ngừng viết về Kiều. Tuy nhiên, những đóng góp cho chủ đề này vẫn tiếp tục được in trên Nam phong, và điều này không phải là sự kết thúc của cuộc bút chiến. Sáu năm sau, nó lại nổ ra, độc địa như trước đó. Thay vì hiện thân cho sự sống sót của ngôn ngữ và văn hoá Việt, Kiều đã trở thành một biểu tượng về sự tan rã của dân tộc Việt. Hơn nữa, Kiều, người con gái được sinh ra cao quý vì tình yêu đối với gia đình đã dẫn dắt nàng vào trong nghề buôn hương bán phấn, đã trở thành một biểu tượng của chủ nghĩa cộng tác với địch và sự phản bội của giới ưu tú. Như nhà cầm quyền Pháp nghi ngờ, gia đình phụ quyền thường được sử dụng thế chỗ cho chế độ thực dân trong tiểu thuyết đương thời. Ở một mức độ nông cạn, phần lớn tiểu thuyết đó dường như gồm có những chuyện tình tưởng như vô thưởng vô phạt; tuy thế nó cũng có thể được sử dụng để phát biểu những phê phán về xã hội thuộc địa.[58]

Mặc dầu họ chọn lựa bày tỏ những mối lo âu về văn hoá qua các cuộc tranh luận về phụ nữ, những nhà luân lí bảo thủ thực sự ít quan tâm tới những đề xuất về giới tính hơn là về các thế hệ. Thanh niên Việt coi mái ấm gia đình không như một nơi ẩn trú khỏi những cơn bão của đời sống nhưng như một nhà tù. Nó khơi gợi những thị kiến không phải về người mẹ nuôi dưỡng nhưng về người cha độc đoán. Mức độ theo đó những nỗ lực của họ để giải phóng khỏi những ràng buộc gia đình và luân lí cổ kính gây ra sự sợ hãi giữa các bậc trưởng thượng được phơi bày trong một câu chuyện nguỵ tác do Phạm Quỳnh thuật lại. Như ông kể, một thiếu phụ hiện đại gạt bỏ việc để chồng gửi tiền cho cha mẹ già của anh trên nền tảng rằng, theo những ý tưởng của phương Tây về hôn nhân, cô và chồng cấu thành một đơn vị gia đình mới, riêng biệt và tách hẳn khỏi cha mẹ của họ, và không còn nợ họ gì cả.[59]Không thể hiểu rõ hơn về chiều kích nhân thân mạnh của những hiệu quả về sự thay đổi văn hoá. Nhưng trong việc biện hộ cho sự duy trì của truyền thống và luân lí gia đình trong khi luôn luôn lặp lại lòng biết ơn của họ hướng tới mẫu quốc Pháp, những người chủ trương đề huề bảo thủ củng cố những nỗ lực của chính Sarraut để đặt ẩn dụ về gia đình vào việc phục vụ sự cai trị thực dân. Sự câu kết có nhận thức giữa gia đình và nhà nước thực dân, và sự song song giữa chủ nghĩa bảo thủ theo luân lí và sự cộng tác về chính trị giải thích tại sao những cố gắng đầu tiên về cách mạng dường như rất giống một cuộc nổi dậy chống uy quyền gia đình, và tại sao việc giải phóng phụ nữ song song với giải phóng dân tộc lại cần thiết sống chết như vậy.

 

Hồ Liễu dịchBản dịch tại Sài gòn, ngày 9/7/2013.

Trích trong cuốn Thuyết cấp tiến và cội nguồn của Cách mạng Việt namRadicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution, Hue-Tam Ho Tai, Ấn quán Đại học Harvard, 1992, trang 88–113.

Chú thích:
[31] Đoàn Ngọc Bích, “Chuyện cô Phụng”, Nam phong 65 (Tháng Mười một 1922)
[32] Đoàn Ngọc Bích, “Gả bán cho con”, Nam phong 67 (Tháng Chạp 1923)
[33] Trần Quán Chi, “Muốn chấn hưng phong hoá thời phải cải cách mọi đường sinh hoạt của quốc dân”, Nam phong 62 (Tháng Tám 1922); “Cái hại tảo hôn phải kíp trừ”,Nam phong 63 (Tháng Chín 1922).
[34] Từ Chẩm Á người Thường Thục 常熟 (tỉnh Giang Tô), tên gốc là Giác 覺, viết với nhiều bút danh, như Từ Từ 徐徐, Mi Tử 眉子, Khấp Châu Sinh 泣珠生, Đông Hải Tam Lang 東海三郎, Đông Hải Giao Nhân 東海鮫人, hay Thanh Lăng Nhất Điệp 青陵一蝶.  (ND)
[35]  Từ năm 1909-1911, Từ Chẩm Á dạy trường tiểu học Hồng Tây, ở Vô Tích dưới chân núi Hồng, tá túc gần nhà thư pháp nổi danh Thái Ấm Đình, nhân đấy nhận làm gia sư cho gia đình này. Nhà họ Thái có người con dâu goá tên Trần Bội Phân, vốn dòng thư hương.  Nàng Bội Phân có cậu con trai 8 tuổi là Mộng Tăng, theo học với thầy Từ. Chẩm Á và Bội Phân trước vì yêu tài, mến đức mà sau tình cảm càng trở nên nồng thắm, thường ngầm trao đổi thư tín, thi từ qua lại qua trung gian cậu bé Mộng Tăng. Vì lễ giáo đương thời, vì danh tiết của nàng và cũng vì tương lai của Mộng Tăng, Chẩm Á và Bội Phân đã không thể theo gương chàng Tư Mã Tương Như và nàng Trác Văn Quân khi xưa mà cùng nhau bỏ trốn.  Trong hoàn cảnh nan giải ấy, để báo đáp tình yêu của chàng, Bội Phân nghĩ đến cách “tháp cành, ghép hoa” để Chẩm Á kết hôn với em chồng mình là Thái Nhị Châu. Dẫu thế, sau khi thành thân với Nhị Châu và lên Thượng Hải làm báo, Chẩm Á vẫn không quên được Bội Phân mà còn treo cả một bức ảnh lớn của nàng trong phòng làm việc ở thư cục.  Mối tình này được Từ viết lại thành tiểu thuyết Ngọc lê hồn, đăng nhiều kỳ trên phụ san của Dân quyền báo. (ND)
[36] Perry Link, Uyên ương hồ điệpMandarin Ducks and Butterflies (Berkeley: Ấn quán Đại học California, 1981), trang 40–54.
[37] Nguyễn An Khương hay Nguyễn An Khang (1860 – 1931); là dịch giả và là chí sĩ ở đầu thế kỉ 20 trong lịch sử Việt nam. Ông là cha của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh. (ND)
[38] Nam phong 86 (Tháng Tám 1924). Cho một thảo luận được mở rộng về Tuyết hồng lệ sử, phiên bản tiếng Việt của 雪鴻淚史/Hsueh hung lei shih, xin xem Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt nam (Sài gòn: Nxb Trình bày, 1967), trang 468–478.
[39] Khai hoá là một báo hàng ngày được thành lập năm 1921 bởi một nhà công nghệ miền Bắc là Bạch Thái Bưởi; nó hoạt động mãi tới năm 1927. Xin xem Huỳnh Văn Tòng, Lịch sử báo chí, trang 153.
[40] Một phân tích về ý nghĩa của việc xuất bản này được cung cấp trong “Từ truyện nôm có vần tới tiểu thuyết: Sự phát triển của văn xuôi ở Việt nam,” của Như Quỳnh và John C. Schafer, Tạp chí Nghiên cứu châu Á 47:4 (Tháng Mười một 1988), trang 756–777.
[41] Nam phong 51 (Tháng Chín 1921). Xem một nghiên cứu về những trào lưu văn học cuối đời Thanh, xin xem Milena Dolezelova-Velingerova, “Những cuội nguồn của văn học Trung quốc hiện đại/ The Origins of Modern Chinese Literature” trong cuốnVăn học Trung quốc hiện đại trong kỉ nguyên Ngũ tứ Vận động (Modern Chinese Literature in the May Fourth Era) do Merle Foldman biên tập (Cambridge: Ấn quán Đại học Harvard, 1974).
[42] Phan Cự Đệ, Tiểu thuyết Việt nam hiện đại, tập 1 (Hà nội: Nxb Văn học, 1975), trang 21.
[43] Hoàng Ngọc Phách, “Văn chương với nữ giới”, Nam phong 41 (Tháng Mười một 1920)
[44] Được trích dẫn trong Phạm Thế Ngũ, Việt nam văn học sử, trang 362. Hoàng Ngọc Phách đã vang lại câu châm ngôn thời chiến của Thống chế Pétain: “Gia đình, cần lao, tổ quốc.”
[45] Phan Cự Đệ, Tiểu thuyết Việt nam hiện đại, quyển 1, trang 21.
[46] Đối với những sự phản ứng đương thời, xin xem Phạm Thế Ngũ, Việt nam văn học sử, trang 362–367; cũng xin xem Phan Cự Đệ, Tiểu thuyết Việt nam hiện đại, quyển 1, trang 21.
[47] Phạm Thế Ngũ, Việt nam văn học sử, trang 366.
[48] Đối với bản dịch Anh ngữ, xin xem Huỳnh Sanh Thông chuyển ngữ, Truyện Kiều/The Tale of Kieu (New Haven: Ấn quán Đại học Yale, 1983); đối với cuộc thảo luận về những tiền đề Trung quốc của nó, xin xem Charles Benoit, “Tiến hoá của truyện Vương Thuý Kiều: Từ sự kiện lịch sử Trung quốc tới danh tác văn học Việt nam”/ The Evolution of the Tale of Wang Cuiqiao: From Chinese Historical Event to Vietnamese Literary Masterpiece, Luận án Tiến sĩ, Đại học Harvard, 1982.
[49] “Đàn ông chớ kể Phan Trần/ Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thuý Kiều”, ca dao (ND).
[50] Trích dẫn trong Phạm Thế Ngũ, Việt nam văn học sử, trang 152.
[51] Nam phong 86 (Tháng Tám 1924)
[52] Phạm Thế Ngũ, Việt nam văn học sử, trang 156.
[53] Nam phong 86 (Tháng Tám 1924)
[54] Bị bắt giam qua cuộc biểu tình ôn hoà chống sưu thuế [từ Quảng nam tới Nha trang] được gọi là Trung kì dân biến vào năm 1908. Đây là một trong những sự kiện nổi bật nhất của phong trào chống thực dân Pháp ở Việt nam trong những năm đầu thế kỉ 20.  Một người tham gia chủ chốt sau này vẫn đóng góp tới 1960 vào Nhân văn Giai phẩm là Phan Khôi(ND)
[55] Huỳnh Văn Tòng, Lịch sử báo chí, trang 141. Trong ban biên tập gồm Tản Đà, Đào Trinh Nhất, và Nguyễn Thượng Huyền, và những người khác.
[56] Ngô Đức Kế, “Nền quốc văn”, Hữu Thanh 12 (Tháng Tư 1924), in lại trongChương Thâu, Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ 20 (Hà nội: Nxb Văn học, 1976), trang 294–301.
[57] Phạm Thế Ngũ, Việt nam văn học sử, trang 150–160.
[58] Xin xem Văn khố Hải ngoại Đông dương (AOM Indochine), thùng 7F22: Báo cáo thường niên 1924–1926.
Nguồn: http://holieu.blogspot.com. Bản đăng trên Phê bình đã được sự đồng ý của dịch giả

Leave a Reply