Giải cấu trúc luận theo cách hiểu của tôi


Lã Nguyên

Giải cấu trúc luận theo cách hiểu của tôi là bài giảng chuyên đề của PGS.TS La Khoắc Hòa. Bài giảng này gồm 5 phần sau đây, chúng tôi giới thiệu phần thứ nhất gồm 4 mục đầu: 1. Giải cấu trúc luận có quá trình hình thành, phát triển lâu dài, là hiện tượng phức tạp(tr.2); 2. Những luận điểm xuất phát của hậu cấu trúc luận, giải cấu trúc luận, hậu hiện đại như một hệ hình thế giới quan (tr.3); 3.Đối tượng phân tích giải cấu trúc là gì?(tr.11); 4. Mục đích phân tích giải cấu trúc là gì?(tr.15); 5. Thực hành phân tích giải cấu trúc (17); Huyền thoại chính trị và giải cấu trúc nghệ thuật của nó (Iu.V.Satin- tr.18); Chủ thể phát ngôn như là điểm tựa định hướng giá trị (Lã Nguyên – tr.40)

1.     Giải cấu trúc luận có quá trình hình thành, phát triển lâu dài, là hiện tượng phức tạp

Nhiều tài liệu khẳng định, khái niệm “Giải cấu trúc” [1] được J. Lacan chính thức sử dụng vào năm 1964 (dưới ảnh hưởng của Martin Heidegger) và sau đó được J. Derrida hoàn thiện về phương diện lý thuyết. Đó là khái niệm then chốt, chứa đựng nguyên tắc cốt yếu trong việc phân tích văn bản của hậu cấu trúc luận và giải cấu trúc luận. Cần phân biệt “chủ nghĩa giải cấu trúc” với  “giải cấu trúc” như một khái niệm chìa khoá của giải cấu trúc luận.  Bởi vì, giải cấu trúc luận có quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Thoạt đầu, vào những năm 60 của thế kỷ trước, nó xuất hiện ở Pháp với những tên tuổi lẫy lừng như Michel Foucault, Jacques Lacan, Roland Barthes, Jacques Derrida. Những tư tưởng giải cấu trúc của Derrida tạo ra một trường ảnh rất lớn ở nhiều nước Tây Âu. Đến những năm 70, nhất là những năm 80, giải cấu trúc luận tràn qua Mỹ, Nga và Đông Âu, từ ngôn ngữ học, nó bành trướng sang nhiều lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn như xã hội học, lịch sử học, chính trị học, triết học, thần học và đến đây, giải cấu trúc luận thường được giải thích như khái niệm đồng nghĩa với “hậu cấu trúc luận”[2]. Vì có quá trình hình thành và phát triển như thế nên giải cấu trúc luận trở thành hiện tượng hết sức phong phú, đa dạng, thậm chí có thể nói là phức tạp. Chẳng hạn, giải cấu trúc bắt đầu hình thành ở Pháp, rồi tràn qua Mỹ, nhưng giải cấu trúc Mỹ không phải là sự tiếp tục giản đơn giải cấu trúc Pháp và những luận điểm của Derrida. Thậm chí, chính những môn đệ của Derrida ở Mỹ cũng luôn luôn khẳng định, có nhiều chuyện, họ không tán thành Derrida. Chẳng những thế, ngay trong nội bộ giải cấu trúc luận ở Mỹ cũng có nhiều trường phái. Có thể kể ra 4 trường phái khác nhau: Trường phái Yale (“Yale School”, đứng đầu là Paul Michael de Man, với một số tên tuổi tiêu biểu như Geoffrey H. Hartman, Harold Bloom, Hillis Joseph Miller), Giải cấu trúc thông diễn luận (W.V. Spanos), Giải cấu trúc cánh tả (J. Brenkman, M.L.Ryan, Frank Lentricchia) và Phê bình nữ quyền (G.Spivak, B.Johnson, Sh.Felman…). Đọc những công trình viết về chủ nghĩa giải cấu trúc, tôi thấy mỗi người nói một phách, có cảm giác giống như “xẩm sờ voi”, chẳng ai giống ai.

2. Những luận điểm xuất phát của hậu cấu trúc luận, giải cấu trúc luận, hậu hiện đại như một hệ hình thế giới quan

Như đã nói, vào những năm 80 của thế kỷ trước, “hậu cấu trúc luận”, “giải cấu trúc luận” và hậu hiện đại thường được sử dụng như những khái niệm đồng nghĩa, cho nên, muốn vận dụng tư tưởng giải cấu trúc vào nghiên cứu văn học, cần tìm hiểu những luận điểm xuất phát của hậu cấu trúc luận, giải cấu trúc luận và hậu hiện đại như một hệ hình thế giới quan, hoặc cảm thức về thế giới. Tôi thấy có 5 luận điểm nền tảng, người nghiên cứu văn học không thể bỏ qua.

2.1. Văn hoá là một hệ thống kí hiệu. Đây là tư tưởng cốt lõi, có ý nghĩa then chốt của chủ nghĩa hậu hiện đại, mà nền tảng triết học của chủ nghĩa hậu hiện đại, về cơ bản, là hậu cấu trúc luận, giải cấu trúc luận. Ai cũng biết, hậu cấu trúc luận thì được hình thành giữa “bước ngoặt ngôn ngữ”, tức là giữa dòng thác “cách mạng ngôn ngữ học” do triết học hiện đại phương Tây tạo ra. Cho nên, “ngôn ngữ”, “tư duy ngôn ngữ”, hoạt động của con người như một “thực tại diễn ngôn” luôn luôn là vấn đề trung tâm thu hút sự chú ý của chủ nghĩa hậu hiện đại. Tuy có bất đồng trong tiểu tiết, nhưng về đại thể, các lí luận gia của chủ nghĩa hậu hiện đại đều nhất trí cho rằng, chính ngôn ngữ quyết định tư duy và mọi  hoạt động đời sống. Chính ngôn ngữ chi phối người nói, chứ không phải người nói điều khiển ngôn ngữ. Các lý luận gia của hậu cấu trúc luận, giải cấu trúc luận miêu tả ngôn ngữ như một cấu trúc kí hiệu làm thành cái “bể đựng nghĩa” độc lập với mọi “sự thực” của thế giới và không lệ thuộc vào ý đồ của chủ thể.  Nó khẳng định, nghĩa được sinh ra từ ngữ cảnh của quan hệ giữa các kí hiệu tạo thành cấu trúc ngôn ngữ, do vị trí cụ thể của các kí hiệu trong cấu trúc ấy sinh ra, chứ không phải do sự phù hợp giữa kí hiệu với“sự thực” của thế giới bên ngoài quy định. Có thể nói, giải cấu trúc luận đã xoá bỏ hoàn toàn niềm tin vào thứ ngôn ngữ quy chiếu, phản ánh, tức là niềm tin cho rằng, ngôn ngữ có thể tái hiện trung thực, chính xác thực tại và nói được “chân lí” về thực tại ấy. Theo giải cấu trúc luận, sự hiểu biết của chúng ta về thế giới chỉ có thể đạt được trong ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ. Sự hiểu biết ấy không phải là sản phẩm của “thế giới như nó vốn có”, mà  là kết quả của “lịch sử các văn bản”.

2. 2. Thế giới là một văn bản.  Đây là một trong số những luận điểm nổi tiếng nhất, có thể xem là “chính đề” của giải cấu trúc luận. Với hậu cấu trúc, giải cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại, cái được gọi là hiện thực khách quan chẳng qua là một văn bản, một diễn ngôn, một “câu chuyện”. “Trần thuật”, “truyện kể”, “câu chuyện”, “tính văn bản”, “tính liên văn bản” là mảng từ vựng cơ bản trong ngôn ngữ của các khuynh hướng lý thuyết này. Đó là những thuật ngữ quan trọng nhất, thường xuyên được chúng sử dụng để miêu tả hiện thực đương đại. “Không có gì tồn tại ngoài văn bản” (J.Derrida). Văn hoá – của thời nào cũng thế – là tổng số của các văn bản, hoặc liên văn bản. Phải đặt vào “trường diễn ngôn của văn hoá” mới có thể hiểu được các văn bản. Tức là, muốn hiểu được văn bản này, phải đặt nó trong mối liên hệ với các văn bản khác, chứ không phải trong mối quan hệ với những “nghĩa đen”, hay sự thật tuyệt đối, quy phạm nào đó. Không có văn bản khép kín, tự trị, vì trước nó thể nào cũng có những văn bản khác. Sự hiện diện của liên văn bản là tất yếu, không ai có thể phủ định. Ta hiểu vì sao chủ nghĩa hậu hiện đại xem giải cấu trúc là phương pháp phổ quát, được nó thường xuyên vận dụng để phân tích mọi hiện tượng văn hoá, mọi loại văn bản. Hậu hiện đại biến giải cấu trúc thành quá trình giải thích liên tục, không bao giờ kết thúc. Quá trình giải thích liên tục, bất tận ấy sẽ điều chỉnh mọi khái niệm, mọi văn bản, khiến cho câu chuyện chân lí trở thành vô nghĩa, nhảm nhí. Làm gì có chân lí! Làm gì có hiện thực khách quan! Bởi vì ngôn ngữ là môi trường đỏng đảnh, bất trắc, không có khả năng chuyển tải ý nghĩa và chân lí. Nhận xét này là cơ sở để các lí luận gia của chủ nghĩa hậu hiện đại đưa ra luận điểm rất nổi tiếng về đặc điểm không thể tự đồng nhất của văn bản, về sự bấp bênh, bất khả tín của tri thức thu nhận được bằng ngôn ngữ. M.Foucault đưa ra thuật ngữ “Épistémè” để miêu tả lịch sử như một “sự luân chuyển”, một “chuỗi tiếp biến” và chỉ ra nguyên nhân tạo nên sự bấp bênh của tri thức. Theo Foucault, mỗi thời đại bao giờ cũng chỉ có một hệ thống tri thức duy nhất được tạo ra bởi hoạt động diễn ngôn của các khoa học khác nhau. Ông gọi hệ thống tri thức được tạo ra bởi hoạt động ngôn ngữ như thế là “Épistémè”, tôi tạm dịch là “Trường (hoặc “không gian”) tri thức thời đại”. “Trường tri thức thời đại” chính là chuẩn mực làm thành bộ “mã ngôn ngữ”. Nó tự động chi phối và điều chỉnh từ trong nội tại cách thức hành ngôn và tư duy của cá nhân. Nó vừa bị lệ thuộc vào cấu trúc nội tại của các tương quan quyền lực, vừa hoạt động giống như một kiểu “diễn ngôn toàn trị”, một sức mạnh áp đặt hợp thức. Cho nên, “trường tri thức thời đại” không thể mang tính khách quan, trung tính.

Tôi thấy nhiều người phê phán quan điểm của Foucault thường xuất phát từ giác độ khoa học trừu tượng, mà không chú ý tới những thay đổi lớn lao trong tình huống văn hoá đang diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, nhất là ở xã hội phương Tây. Suốt 50 năm qua, nhân loại bước vào kỉ nguyên tin học. Hệ thống thông tin toàn cầu tác động mạnh mẽ vào não trạng của con người, làm ý thức đại chúng trở nên mê muội. Các học giả giải cấu trúc luận cho rằng, đó là mảnh đất mầu mỡ làm nảy sinh nhiều ảo tưởng và huyền thoại khoa học, khiến văn hoá bị biến dạng. Phải đặt vào bối cảnh ấy, ta mới hiểu được hệ thống luận điểm nói trên của Foucault và các lí luận gia của chủ nghĩa hậu hiện đại. J.Baudrillard đã đưa ra lí thuyết về “hiện thực phì đại” (“hyperréalité”) để giải thích sự biến dạng của văn hoá. Theo Baudrillard, “hiện thực phì đại” xuất hiện khi tri thức và các quan niệm văn hoá bị cắt đứt mối liên hệ với hiện thực xã hội và hiện thực cá nhân của con người mà nó cần phải miêu tả. Khi ấy, tri thức và các quan niệm văn hoá sẽ tự khép kín trong bản thân để trở thành “cái nguỵ tạo” . “Simulacre” – “cái nguỵ tạo” trở thành thuật ngữ quen thuộc của hậu cấu trúc luận, giải cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại, nó được sử dụng để chỉ cái vỏ biểu đạt trống rỗng chẳng biểu đạt cái gì, một thứ đồ giả thay cho hiện thực “ngắc ngoải”, nhìn vào không thể biết đó là cái thực hay cái được tưởng tượng ra.  Baudrillard cho rằng, hiện thực và hình tượng thường bị ngăn cách bởi nhiều tầng nấc, mỗi bậc đánh dấu một bước thoát li của các “mã” ngày càng xa hơn với cái được biểu đạt. Ở nấc đầu tiên, sự phản ánh hiện thực bị đánh tráo bởi sự bóp méo, xuyên tạc cái hiện thực ấy. Nấc thứ hai: sự thiếu vắng hiện thực trong hình tượng được nguỵ trang, che đậy. Khái niệm “mã kép” được đưa ra để nói về trường hợp này. Cuối cùng, mọi dây nhợ thắt buộc giữa hình tượng với hiện thực đều bị cắt đứt, hình tượng chỉ còn là cái vỏ, là “simulacre” – “cái nguỵ tạo”. Trong sự hình dung của các lí luận gia hậu hiện đại, toàn bộ thế giới hiện đại được tạo ra bởi những “cái nguỵ tạo” chẳng có chút cơ sở ở bất kì một thứ hiện thực nào, ngoài hiện thực của chính nó. Đó là thế giới kí hiệu của những kí hiệu, một thế giới nhân tạo, giả tạo hoàn toàn. Cho nên, mối quan hệ giữa con người với thế giới cũng hoàn toàn bị biến dạng. Chẳng còn ai quan tâm tới khách thể (objet) “hiện thực”, vì khắp thế giới, đâu đâu cũng tràn ngập các mô hình giả tạo, không có gì để phân biệt giữa “vật” và “lời”. Bị tước đoạt khách thể, chủ thể đành bất lực, không thể đối chiếu những điều mình hình dung, tưởng tượng với khách thể. Thành thử, chủ thể hoàn toàn bị lệ thuộc vào cái “hiện thực phì đại”. Đời sống của con người chỉ còn là cái bóng, là ảo ảnh, tạm bợ. Nó gợi dậy ở mỗi cá nhân cảm giác về sự trống rỗng, vô vị, vô nghĩa, rối loạn, lạc điệu, thiếu chuẩn mực và sự hỗn độn của một thế giới đứt gẫy mạch lạc. Bởi vậy, hậu cấu trúc luận, giải cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại dồn nỗ lực vào việc khám phá cơ chế nội tại của quá trình làm ý thức con người trở nên mụ mị, mê muội dưới sự tác động của các hệ thống truyền thông đại chúng. Nó cố gắng chứng minh sự bấp bênh, bất khả tín, tính chất “giả nguỵ” của “tri thức” về một thế giới được nhào nặn bằng con đường làm cho ý thức của con người mụ mị đi như thế.

2.3. Cái chết của chủ thể. Đây là luận điểm thứ 2, cũng không kém phần quan trọng, nằm trong nền tảng triết học của chủ nghĩa hậu hiện đại. Luận điểm này được triển khai trực diện nhất, sâu sắc nhất trong các công trình của M.Foucault và R.Barthes. Tuy nhiên, lí thuyết giải cấu trúc của J.Derrida và lí thuyết liên văn bản của J.Kristeva cũng dẫn tới kết luận về “cái chết của chủ thế” như thế.

Các lí luận gia của chủ nghĩa hậu hiện đại lập luận thế này. Nếu văn học, văn hoá, xã hội, lịch sử đều là văn bản, thì ý thức cá nhân cũng có thể xem là một tống thể văn bản nào đấy trong tổng thể văn bản tạo thành thế giới văn hoá. Do “không có gì tồn tại ngoài văn bản” (Derrida), nên cá nhân nào cũng phải nằm trong cấu trúc nội tại của văn bản. Thế là “chủ thể bị nuốt chửng” bởi văn bản, và đó là lí do dẫn tới “cái chết của chủ thể” mà “ngôn ngữ đã thác lời vào đó” (Foucault). Vậy là quan niệm hiện đại về “con người bản chất” đã được thay thế bằng quan niệm hậu hiện đại về “con người quan hệ”. Trong quan niệm của Foucault, Barthes, Derrida, Kisteva…, chủ thể hậu hiện đại là một thứ kính vạn hoa lấp lánh “vô số mảnh đồng nhất” gắn với các hoàn cảnh văn hoá và lịch sử mang tính cục bộ. Việc biến chủ thế thành văn bản đã xoá bỏ hoàn toàn kiểu quan hệ của chủ thể với bản thân nó như với một cái gì ổn định, bất biến, tồn tại độc lập với thế giới kí hiệu vốn là thế giới luôn luôn khống chế, ràng buộc nó. Có thể nói, chủ nghĩa hậu hiện đại đã phá bỏ tận gốc truyền thống lí thuyết và quan niệm hiện đại xem chủ thể là trung tâm vũ trụ và cá nhân là bản thể độc lập, tự chủ, tự túc tự mãn và trùng khuýp với ý thức của nó. Từ giác độ của chủ nghĩa hậu hiện đại, quan niệm ấy là không xác đáng, thậm chí phi lí, lố bịch. Chủ nghĩa hậu hiện đại chứng minh, rằng cá nhân không thể tồn tại độc lập, trong quá trình tư duy, cá nhân luôn luôn bị chi phối một cách vô thức bởi những cấu trúc ngôn ngữ. Luận điểm này đã trở thành một trong những hằng số quan trọng nhất để nhận diện chủ nghĩa hậu hiện đại. Người ta đã ban tặng cho luận điểm ấy một cái tên, gọi là “chủ nghĩa phản nhân văn về lí thuyết” (“antihumanisme théorique”). Thực chất của cái gọi là “phản nhân văn” này chỉ là ở chỗ, nó thừa nhận có những sức mạnh, những quyền lực, những hiện tượng, những quá trình tồn tại bên ngoài, bên trên cá nhân, không phụ thuộc vào tư tưởng và ý chí của cá nhân. Những quá trình, những hiện tượng, những sức mạnh và quyền lực ấy bất chấp cá nhân, cá nhân không thể làm chủ được chúng, vì thế không thể biến cá nhân thành thước đo, thành một nguyên tắc giải thích khi nghiên cứu bất kì một “chỉnh thể xã hội nào”.

2.4. Phi trung tâm. Quan điểm hiện đại đề cao tư duy lí tính, tinh thần hợp lí và nguyên tắc “hướng tâm”, “tập quyền”, xem đó là nền tảng của nền văn hóa châu Âu. Quan điểm giải cấu trúc luận, hậu hiện đại đề cao nguyên tắc “phi trung tâm”, nguyên tắc “tản quyền”. Lí luận hiện đại cho rằng, toàn bộ thế giới, từ văn bản, nhận thức, văn hóa đến đời sống xã hội đều được kiến tạo xung quanh một hạt nhân, một trung tâm duy nhất, ấy là chủ thể. Giải cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại xem nguyên tắc phi trung tâm và giải cấu trúc là con đường điều chỉnh mọi văn bản, mọi khái niệm. Theo quan điểm của giải cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại, không thể nào có một hệ thống tri thức theo kiểu bách khoa, tổng hợp, vừa toàn diện, lại vừa nhất quán. Tri thức chỉ có thể là những “mảnh” (“segment”), những “trích đoạn” (“fragment”) của vô số ngữ cảnh văn hoá mang tính cục bộ. Chính ngữ cảnh văn hoá tạo ra ý nghĩa, mang lại lí do tồn tại cho các “mảnh” và “trích đoạn” tri thức ấy. Cho nên, nếu đặt ra bên ngoài ngữ cảnh của văn hoá, của truyền thống và ngôn ngữ, sẽ chẳng có loại tri thức nào có giá trị. Xuất phát từ luận điểm như thế, giải cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại phê phán quyết liệt nền văn hoá hiện đại, phê phán kiểu tư duy siêu hình, duy lí. Nó thể hiện thái độ “hoài nghi phương pháp luận” với những giá trị và những chân lí phổ quát, những tín điều được đúc rút bằng con đường suy lí. Nó nghi ngờ mọi hình thức nhận thức duy lí. Nó cương quyết từ chối những khái niệm cơ bản của khoa học luận hiện đại, như “nguyên nhân”, “chân lí”… Theo Lyotard, ở thời hiện đại, thái độ suy tôn của con người đối với các “đại tự sự” đã tạo ra môi trường nuôi dưỡng sự thống nhất của tri thức. Nhưng đến thời hậu hiện đại,  các “đại tự sự” không còn là cái van an toàn bảo vệ chân lí và giá trị. Lyotarcho rằng, thời hậu hiện đại được đánh dấu bằng 2 đặc điểm quan trọng: sự tan rã không thể cứu vãn của cái thống nhất và sự lớn mạnh không ngừng của chủ nghĩa đa nguyên. Cho nên, hậu hiện đại là sự xoá bỏ không thương tiếc sự thống ngự toàn diện của chủ nghĩa duy lí hiện đại. Ông nói, suy cho cùng kỉ lí, thì hậu hiện đại chính là sự “hoài nghi các đại tự sự”, tức là hoài nghi các tư tưởng nòng cốt lớn lao, các “hệ thống giải thích” đảm bảo cho sự thống nhất của tri thức, xây dựng nên xã hội tư bản và được sử dụng như một phương tiện để hợp thức hoá xã hội ấy. Đó là tôn giáo, khoa học, nghệ thuật, lịch sử, nhất là loại “siêu lịch sử” – tức là những nguyên lí tư tưởng triết học hiện đại, ví như phép biện chứng tinh thần của Hegel, tư tưởng về tiến bộ, về giải phóng cá nhân, quan niệm Khai sáng về tri thức như là con đường đạt được hạnh phúc…Lyotard cho rằng, “kỉ nguyên hậu hiện đại” là kỉ nguyên xói mòn niềm tin vào những “đại trần thuật”, “đại tự sự”, “siêu truyện”, vào các nguyên lí  hợp thức, hợp nhất, toàn trị về hiện đại. Sự cáo chung của các “đại tự sự” đã giải phóng thế giới thoát khỏi “phép siêu hình ảo tưởng của chủ nghĩa hiện đại”, mở ra cho mọi hình thái đời sống, mọi hoạt động cục bộ khả năng phát triển vô tận, xoá bỏ nguyên tắc “độc canh” (“monoculture”) để tiến tới nền văn hoá đa dạng. Sự cáo chung của các “đại tự sự” còn góp phần xoá bỏ tình trạng phân tầng chức phận mang tính đặc thù của thời hiện đại. Nền tảng phương pháp luận của giải cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại là sự thừa nhận tính hạn chế của mọi lối sống, mọi dạng hoạt động, mọi kiểu thuận lí. Nó xem sự đa dạng, đa nguyên của các kiểu thuận lí, các lối sống và các dạng hoạt động là hợp tự nhiên và tất yếu. Nó cũng thừa nhận sự bình đẳng giá trị của mọi kiểu thuận lí và các hệ hình sáng tạo khác nhau. Nó đề cao những hệ hình sáng tạo bị đẩy ra khu vực ngoại biên của văn hoá và những hệ hình không được thừa nhận là hợp thức khi mà các phương thức hiện đại giành được thế ưu thắng trong việc chiếm lĩnh thế giới. Các lí luận gia của giải cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại đều cho rằng, mọi ý đồ thiết lập một trật tự đẳng cấp nào đó, những hệ thống ưu trội nào đó trong nhận thức, trong văn hoá và trong đời sống đều chẳng mang lại lợi lộc gì và cũng không thể thực hiện được. Họ kiên quyết chống lại chủ nghĩa toàn trị, độc tài, nhất là độc tài trong kĩ nghệ và thông tin. Họ nêu cao khẩu hiệu: Bình đẳng giá trị cho mọi hình thức đời sống! Ta hiểu vì sao họ kiên quyết khước từ khái niệm “tiến bộ lịch sử” và quan niệm về sự phát triển của lịch sử theo kiểu tuyến tính thẳng đuột một chiều. Thay vào những quan niệm như thế, M.Foucault đưa ra ra thuật ngữ “Épistèmé” để nói về quy luật phát triển  tiếp biến không đồng đều của các “không gian tri thức thời đại”.  Ông còn đưa ra hình ảnh ẩn dụ “Rhizome” có nghĩa là “thân rễ”, một loại rễ chùm, để chỉ quy luật phát triển đa phương, phi hệ thống của lịch sử.

2.5. Tâm thức hậu hiện đại. Là khái niệm thuần tuý của chủ nghĩa hậu hiện đại. Sự vỡ mộng trước các lí tưởng và những giá trị của thời đại Phục Hưng và thế kỉ Ánh sáng, sự sụp đổ niềm tin vào Tiến bộ, vào sự thắng lợi của lí trí và khả năng vô tận cuả con người đã dẫn chủ nghĩa hậu hiện đại tới chỗ khước từ mọi truyền thống của chủ nghĩa duy lí Tây Âu. Đó chính là nguyên nhân làm nảy sinh “tâm thức hậu hiện đại” như một cái nhìn đặc thù về thế giới. Trong tâm thức hậu hiện đại, thế giới hiện lên phi trung tâm, phi hệ thống, chỉ là những mảnh ghép, mọi liên hệ nhân quả và định hướng giá trị đều đứt tung, và sẽ thật vô nghĩa nếu có ai đó định dựng lại “mô hình” của thế giới ấy. Vì thế, chủ nghĩa hậu hiện đại đưa ra kết luận về sự “bất tín nhận thức”. Những bộ óc sáng láng nhất của nó đều cho rằng, nếu cứ tiếp tục dựa vào khoa học tự nhiên và khoa học chính xác, dựa vào triết học truyền thống với cỗ máy khái niệm của nó để nhận thức hiện thực, nhân loại sẽ tiếp tục lầm lạc. Muốn nhìn thấy hiện thực chính xác hơn, cần dựa vào trực giác, dựa vào đôi cánh bay bổng của  “tư duy thi ca” với cả một thế giới hình tượng, ẩn dụ và khả năng liên tưởng, tưởng tượng kì diệu của nó. Ta hiểu vì sao, trên hành trình tìm kiếm một hình thái văn hoá mới, các nhà tư tưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại thường tỏ ra mặn mà với chủ nghĩa trực giác phương Đông. Họ chủ trương “văn học hoá” thế giới, tức là biến văn học thành mô hình chung cho mọi loại văn bản. Cuộc đời chỉ hiện lên chân thực trong tư duy văn học nghệ thuật, tư duy trực giác thi ca. Cho nên, ngoài bức tranh ẩn dụ về thế giới, tư duy và toàn bộ lí trí của con người không thể vẽ ra một bức tranh thế giới nào khác khả dĩ có thể tin tưởng. Không cần phân tích, ai cũng có thể nhận ra, những luận điểm như thế này khiến cho học thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại trở nên lỏng lẻo, mất đi tính hợp lí và kém sức thuyết phục.

3. Đối tượng phân tích giải cấu trúc là gì?

Giải cấu trúc có đối tượng phân tích của nó và đối tượng phân tích ấy dĩ nhiên là cấu trúc. Nhưng không phải bất kỳ loại cấu trúc nào cũng có thể trở thành đối tượng phân tích của giải cấu trúc luận. Về vấn đề này tôi có hai chỉ dẫn quan trọng: chỉ dẫn của hai nhà giải cấu trúc luận và hai chuyên gia nghiên cứu giải cấu trúc luận.

Hai nhà giải cấu trúc luận tôi muốn trích dẫn ở đây là Derrida và Culler.

Bàn về sự xuất hiện của giải cấu trúc như nhu cầu tất yếu của nhận thức, thể hiện cảm quan hậu hiện đại, Derrida viết: “Phù hợp với các quy luật lô gíc của mình, giải cấu trúc không chỉ phê phán cơ cấu nội tại của trường triết học, cả về mặt ngữ nghĩa, lẫn hình thức, mà phê phán tất cả những gì được gán một cách sai lầm cho những quy luật ấy với tư cách là sự tồn tại bên ngoài của chúng, là những điều kiện ngoại tại hiện thực hoá chúng: như các hình thức lịch sử của khoa học sư phạm, các cơ cấu kinh tế hay chính trị của hệ thống  ấy. Chính vì giải cấu trúc đụng chạm tới mọi cơ cấu nền tảng, mọi thiết chế “vật chất”, chứ không chỉ các diễn ngôn hay sự biểu nghĩa, nên giải cấu trúc bao giờ cũng khác biệt với sự phân tích hay “phê bình giản đơn”[3].

Tóm lược sơ đồ tiếp cận giải cấu trúc với tác phẩm được phân tích, Jonathan Culler viết: “Đọc là mưu toan tìm hiểu lối viết thông qua việc xác định các dạng đồng nhất và tu từ của văn bản, ví như khi chuyển ngôn ngữ bóng bẩy thành ngôn ngữ chính xác và loại bỏ những trở ngại đối với việc lĩnh hội chỉnh thể mạch lạc. Nhưng bản thân cấu trúc của các văn bản – nhất là cấu trúc các tác phẩm văn học, nơi mà ngữ cảnh dụng ngôn không cho phép tiến hành phân biệt rạch ròi giữa chính xác và bóng bẩy, hoặc đồng nhất  và không đồng nhất – có thể phong toả quá trình nhận thức”[4].

Nếu Derrida mở rộng tối đa, thì Culler lại thu hẹp tối đa đối tượng phân tích giải cấu trúc. Liệu đây có phải là xu hướng vận động của giải cấu trúc luận khi nó di cư từ Pháp qua Mỹ. Để trả lời câu hỏi này tôi tìm đến hai chuyên gia mà chắc chắn là điều kiện và sức đọc của họ về giải cấu trúc luận hơn chúng ta rất nhiều: Ilia Petrovich Ilinvà V.Leitch.

Ilia Ilin có hai công trình nổi tiếng : Hậu cấu trúc luận. Giải cấu trúc luận. Chủ nghĩa hậu hiện đại (1996) và Chủ nghĩa hậu hiện đại từ gốc rễ đến cuối thế kỷ: Sự tiến hoá của một huyền thoại khoa học (1998). Ngoài ra, ông còn là tác giả cuốnHậu hiện đại. Từ  điển thuật ngữ (2001). Trong những công trình nói trên, khi bàn về đối tượng phân tích giải cấu trúc của giải cấu trúc luận trong quá trình hình thành và phát triển của nó, Ilin đều trích dẫn cách phân loại của một nhà nghiên cứu văn học người Anh tên là Antony Easthope. Trong cuốn Thơ và tưởng tượng, Antony Easthope, chia giải cấu trúc thành 5 loại sau đây:

“1. Loại phê bình đặt cho mình nhiệm vụ thách thức dạng văn học hiện thực mà văn bản muốn nhập tịch vào đó, nó phơi bày tính cấu trúc của văn bản, đồng thời chỉ ra những phương tiện biểu hiện mà nhờ có chúng, cái được biểu hiện mới nảy sinh.

2. Giải cấu trúc theo nghĩa của Foucault – là trình tự phát hiện sự lệ thuộc liên diễn ngôn của diễn ngôn (ở đây, Easthope nói tới quan niệm của Foucault về sự lệ thuộc không tự giác của bất kỳ một diễn ngôn nào với các diễn ngôn khác. Foucault khẳng định mọi lĩnh vực tri thức, như khoa học, triết học, tôn giáo, nghệ thuật đều tạo ra cho mình một thực tiễn diễn ngôn có tham vọng “độc” chiếm “chân lý”, nhưng kỳ thực lại vay mượn cách lập luận từ thực tiễn diễn ngôn của các lĩnh vực tri thức khác.- LN).

3. Giải cấu trúc của “giải cấu trúc luận cánh tả”, giống như một đồ án thủ tiêu phạm trù “văn học” thông qua việc phát hiện các thực hành diễn ngôn và thực hành thể thức hoá vẫn duy trì văn học.

4. Giải cấu trúc Mỹ, như một tập hợp các thủ pháp phân tích và thực hành phê bình, chủ yếu do Paul de Man rút ra từ việc đọc của Derrida, người đã chỉ ra rằng văn bản bao giờ cũng khác biệt với chính bản thân nó trong quá trình nó được đọc, nhờ sự giễu nhại tự soi sáng mà văn bản riêng của cá nhân ai đó rơi vào tình trạng nan giải, bất khả giải.

5. Gải cấu trúc theo tinh thần của Derrida, là sự phân tích phê bình các kiểu đối lập nhị phân truyền thống, theo đó thuật ngữ của cánh tả có tham vọng chiếm vị thế ưu thắng bằng cánh phủ định cái quyền có được vị thế từ phía thuật ngữ của cánh hữu mà nó lệ thuộc. Mục đích phân tích không nhằm thay thế bằng các vị trí giái trị của sự đối lập phân cực, mà nhằm phá huỷ, thủ tiêu mâu thuẫn của chúng bằng cách điều chỉnh mối quan hệ của chúng”(Easthope A.- Poetry and phatasy, Cambridge, 1989, tr.187-188)[5].

Trích dẫn Easthope, Ilin muốn làm sáng tỏ một nhận xét về quá trình vận động của giải cấu trúc từ Pháp qua Mỹ, nhìn từ đối tượng phân tích của nó: “Nếu các nhà hậu cấu trúc luận Pháp thường xem đối tượng phân tích giải cấu trúc của mình là “trường văn bản phổ quát” hết sức rộng lớn bao quát tối đa toàn bộ “liên văn bản văn hoá” không chỉ ở lĩnh vực văn học, mà còn ở các lĩnh vực triết học, xã hội học, luật học, thì các nhà giải cấu trúc Mỹ lại dịch chuyển từ các vấn đề triết học – nhân loại học về sự hình thành cách thức tư duy của con người đến với các vấn đề về phân tích tác phẩm văn học”[6].

Trong cuốn Phê bình giải cấu trúc, V.Leitch cũng có nhận xét tương tự như vậy về sự khác nhau giữa hậu cấu trúc Pháp và giải cấu trúc Mỹ: “Sự tiến hoá từ Derrida đến de Man và xa hơn nữa, đến Miller giống như một quá trình thu hẹp và giới hạn của  hệ vấn đề. Đối tượng giải cấu trúc thay đổi: từ toàn bộ hệ thống triết học phương Tây, nó giảm bớt xuống đến tận các văn bản văn học và triết học then chốt được sáng tạo trong truyền thống hậu Phục hưng, rồi lại giảm xuống đến tận các tác phẩm cổ điển cơ bản của nền văn học Anh và Mỹ thế kỷ XIX và XX. Bề rộng của đối tượng nghiên cứu và sự táo bạo trong hướng tiếp cận bị mất đi hiển nhiên là nhược điểm của lịch sử văn học được tạo ra. Nhưng sự sáng tỏ và sự mạch lạc trong việc trình bày ngày một tăng lên lại chứng minh cho sự tiến bộ rõ ràng và hiệu quả việc vận dụng phương pháp luận mới vào phân tích”[7].

4. Mục đích phân tích giải cấu trúc là gì?

Có thể tìm thấy rất nhiều lời tuyên bố khác nhau. Chẳng hạn, Derrida kêu gọi phê bình sẵn sàng hiến mình cho “trò chơi diễn giải chủ động và phóng khoán”, chỉ dừng lại trong những khuôn khổ của sự quy ước theo sát văn bản. Paul de Man tuyên bố ông không có tham vọng khái quát lý thuyết. Trong Lời tựa cho cuốn Đui mù và thông tỏ, ông viết: “Những khái quát giả định của tôi tuyệt nhiên không nhằm mục đích tạo lập một lý thuyết phê bình, mà chỉ nhằm tạo ra một thứ ngôn ngữ văn học như nó vốn có”.

Khảo sát công trình nghiên cứu của các nhà giải cấu trúc cùng những tuyên bố như thế, ta có thể nhận ra, phân tích văn bản theo nguyên tắc giải cấu trúc nhắm vào hai mục đích:

Thứ nhất: khám phá mâu thuẫn của văn bản;

Thứ hai: phát hiện “nghĩa bỏ sót” bị đóng kín trong văn bản “đóng kín” trong bản thân nó.

Sở dĩ có lớp “nghĩa bỏ sót” là vì “người đọc ngây thơ”, “thiếu kinh nghiệm”, “kém hiểu biết”. “Người đọc ngây thơ” tin tưởng tuyệt đối vào sự gắn bó mật thiết giữa lời với vật, vào sự đồng nhất giữa cái biểu đạt với cái được biểu đạt và sự nghiêm túc của hoạt động lời nói. “Người đọc ngây thơ” không hiểu ngôn ngữ của nghiên cứu, phê bình cũng có những đặc điểm y hệt ngôn ngữ của của sáng tác văn học. Đó là thứ ngôn ngữ từ chương trau chuốt, là thứ dụ ngôn đỏng đảnh. Nó lại chịu sự chi phối của tư tưởng hệ, của “trường tri thức”, tức là cái mà Foucault gọi là “épistémè”. Rốt cuộc nó cũng chỉ là một hệ thống ký hiệu, hệ thống văn bản, là một thực tại diễn ngôn vận hành theo cơ chế xã hội của phả hệ quyền lực đầy ngạo nghễ mang tính chủ quan. “Người đọc ngây thơ” tất yếu sẽ “bỏ sót” nghĩa của văn bản. Văn bản vĩnh viễn khép chặt, đóng kín lớp “nghĩa bỏ sót” trước sự “đui mù” của “người đọc ngây thơ”. Bởi vì đó là lớp nghĩa kế thừa từ thực tại diễn ngôn của thời trước, từ “ký ức thể loại”, từ sự tác động qua lại giữa các “trường tri thức”… Chúng được định hình dưới dạng những khuôn mẫu tư duy ngôn ngữ, chìm sâu dưới các tầng vỉa vô thức. Rồi sau đó, do sự tác động bởi các định thức lời nói ở thời đại tác giả, chúng  lại bị bóp méo, làm cho biến dạng, mà điều đó lại diễn ra độc lập với tác giả, bên ngoài ý thức của tác giả. Cho nên, đây là lớp nghĩa trầm tích, nghĩa  “đang ngủ” (theo cách diễn đạt của J.Derrida). Điều này làm nẩy sinh trong văn bản tình trạng được gọi là “nan giải”, “không thể giải quyết”, tức là tình trạng bế tắc về mặt lô gíc tựa như thuộc về bản chất khởi thuỷ của văn bản ngôn từ, khi mà tác muốn thế này, thì kết quả lại hoá ra thế kia, định “hái mẫu đơn”, lại nhặt “cơn dành dành”, muốn hái “dành dành”, thì lại vớ được “cành mẫu đơn”. Bởi thế, chủ nghĩa giải cấu trúc phủ nhận niềm tin vào khả năng tồn tại một cách giải thích duy nhất đúng các văn bản văn học. Họ chống lại kiểu “đọc ngây thơ”, chủ trương “đọc kỹ”, “đọc sâu”. Mục đích của “đọc sâu”, “đọc kỹ” là “giải cấu trúc”, là phát hiện mâu thuẫn nội tại và tình trạng “nan giải” ấy của văn bản, là “khảo cổ tri thức” để đào bới cái kho “nghĩa bỏ sót”, “đang ngủ” kia[8].

5. Thực hành phân tích giải cấu trúc

Lý thuyết chỉ có giá trị khi nó được vận dụng vào thực tế nghiên cứu và giảng dạy văn học, văn hoá của chúng ta. Mọi sự ứng dụng lý thuyết được gọi là thành công, khi lý thuyết được chuyển thành một hệ thống thao tác lựa chọn đối và tiếp cận đối tượng nghiên cứu (“Phương pháp là cái tương đồng với đối tượng”- Hegel).

Tôi lựa chọn 2 văn bản để minh hoạ cho các thao tác thực hành phân tích giải cấu trúc.

          + Văn bản thứ nhất: Huyền thoại chính trị và giải cấu trúc nghệ thuật của nó.Tác giả của tiểu luận này là Iu.V. Satinmột nhà nghiên cứu người Nga.

+ Văn bản thứ hai: Chủ thể phát ngôn như là điểm tựa định hướnggiá trị và kiểu quan hệ liên chủ thể của lời nói nghệ thuật trong văn học hiệnthựcxã hội chủ nghĩa.Đây là tiểu luận của bản thân tôi.

Tôi chọn 2 văn bản nói trên, vì cả hai văn bản đều thuộc loại phê bình đặt cho mình nhiệm vụ đi tìm lớp nghĩa hiện vẫn bị “bỏ sót” ở nhữg văn bản mà “tính cấu trúc” của nó được “phơi bày” đầy đủ nhất văn bản, đồng thời chỉ ra những phương tiện biểu hiện mà nhờ có chúng, cái được biểu hiện mới nảy sinh



[1] Ngô Tự Lập đề nghị dịch “deconstruction” là “giải kiến tạo”. Xem: Ngô Tự Lập.- Giải kiến tạo là gì?// Nguồn: http://www.viet-studies.info/NgoTuLap_GiaiKienTaoLaGi.htm .

[2] Xem: Nghiên cứu văn học phương Tây thế kỷ XX – Bách khoa Từ điển, Intrada, M., 2004, tr.122 (Tiếng Nga).

[3] J.Derrida.- Các kiểu viết và sự khác biệt (L’écritture et différence), P., 1967, tr. 23-24.

[4] J.Culler.- On deconstruction, L.,etc.,1983, tr.81

[5]I.P.Ilin.- Giải cấu trúc// Nghiên cứu văn học phương Tây thế kỷ XX – Bách khoa Từ điển, Intrada, M., 2004, tr.124-125.

[6] I.P. Ilin.- Tlđd, tr. 125.

[7] V.Leitch.- Phê bình giải cấu trúc, L., 1983, tr.52.

[8] Về những vấn đề trên, có thể tham khảo một vài tài liệu sau đây:

 Jacques Derrida.- Cấu trúc. Ký hiệu và trò chơi trong diễn ngôn của các khoa học nhân văn// Trong sách: Jacques Derrida.- Viết và sự khác biệt, S-Peterburg, 2000, hoặc trong sách: Ký hiệu học Pháp: Từ cấu trúc luận tới hậu cấu trúc luận, M.2000 tr. 407 – 426;

 – Paul de Man.- Dụ ngôn của sự đọc: Ngôn ngữ hình tượng của Rousseau, Nietzsche, Rilke và Proust, Nxb ĐH Tổng hợp Ural, 1999; Đui mù và thông tỏ, S-Peterburg, 2002.

– Michel Paul Foucault.- Lời và vật: Khảo cổ học các khoa học nhân văn, M., 1977.

Leave a Reply