Giải thưởng truyện ngắn trên báo Văn nghệ: “nới ra để cho người viết trông vào”*


Dạ Ngân

Nới cửa

Có ngồi ở Ban Văn của báo Văn Nghệ mới biết, truyện ngắn các nơi đổ về không thiếu. Nếu lượng thơ cho Ban Thơ là nước lũ thì lượng truyện ngắn cho Ban Văn là nước lớn. Vì sao? Vì rất nhiều người Việt mình viết được truyện ngắn. Vì dù có ỉ eo thế nào thì diễn đàn Văn Nghệ cũng phủ rộng, nhất là trong nhà trường và trong văn giới phía Bắc. Đây nữa, còn là vì Văn Nghệ chấp nhận được những truyện có dung lượng lớn, thậm chí phải in 2 kỳ báo, cũng bình thường.

Nhưng khi mở ra một cuộc thi thì không khí phải khác. Phòng ốc không thể rộng hơn nhưng cửa thì nhất định phải nới ra để cho người viết trông vào. Cửa đây phải được hiểu theo nghĩa tốt đẹp và hình tượng của từ này, đó là sự cởi mở, cách mời gọi và cả sự công tâm của những người cầm trịch nữa. Vậy ngày thường thì không cần những thứ đó sao? Cần chứ, quá cần, thường xuyên cần nhưng Cuộc thi là một bữa tiệc lớn và kéo dài. Chúng tôi không dọn mình, dọn tâm dọn thế thì làm sao xứng đáng với kỳ vọng của hàng ngàn người viết sẽ làm việc với mình? Hàng ngàn chứ không ngoa, những cuộc thi thường kéo dài 2 năm, bản thảo ngập tràn, từ vùng cao đến vùng sâu, từ mọi miền tổ quốc đến hải đảo và hải ngoại.

Ở cuộc thi thứ 3 tôi tham gia tổ chức (1/3/2006 – 31/3/2007), Ban biên tập có một chủ trương độc đáo: với tác giả gửi dự thi một chùm truyện, nếu truyện đồng đều hay thì in liền cùng một số báo 2 hoặc 3 truyện. Ban Văn tiếp nhận việc đó với sự đồng thuận, nức lòng. Y Ban là tác giả đầu tiên in liền 2 truyện gần như mở màn cuộc thi đó. Việc I am đàn bà sau rốt bị rời khỏi giải thưởng bởi  nhiều lý do không thuộc phạm vi bài viết này. Tôi nhớ mãi buổi chiều hôm ấy khi tờ báo vừa ra sạp và sau đó là cú điện thoại mừng rơn của Y Ban. Chúng tôi đã nới cửa và người viết lẫn người đọc đã nhìn thấy một mâm tiệc vui, hứa hẹn một mùa giải đẹp vào lúc sự mong đợi ở vào đỉnh điểm.

           Phát hiện

Mười năm ở báo Văn Nghệ, tham gia tổ chức 3 cuộc thi truyện ngắn, tôi chỉ nói lên công việc âm thầm của chính mình. Bởi so với những bậc tiền bối và những anh chị trang lứa, thâm niên “trụ trì” của tôi chưa thấm với ai. Điều đó thực sự đúng, khi tôi so mình với nhà văn Ngô Ngọc Bội hay nhà văn Nguyễn Khắc Trường hay nhà văn Trần Huy Quang…

Cảm hứng liên tài là những từ mà tôi thích nhất khi nghĩ về những ngày làm sơ khảo các Cuộc thi. Không chỉ trách nhiệm mà là cảm hứng, nhất định không phải cảm hứng vui vì không khí được lên dây cót. Cảm hứng vì mình gần như là người đầu tiên cầm trên tay những trang bản thảo chỉ gửi gắm cho Ban Văn và Cuộc thi. Và hầu như tuần nào mình cũng lọc được những truyện thú vị để đưa duyệt và xếp hàng. Những người viết mới toanh, những trang văn thể nghiệm và tới cùng,  những truyện hưởng ứng đầy thân ái của những nhà văn đã thành danh… và dĩ nhiên, cả những trang bản thảo khiến phải cầm lên đặt xuống nhiều lần. Cửa đã nới nhưng vẫn không phải là không còn cái khung nào, trần đã được đẩy lên nhưng dưới gầm trời thì trời vẫn là trần kia mà. Nhưng phàm những người viết gai góc đến độ như để thử thách biên tập viên và cả Ban biên tập thì họ cũng không cay cú nếu như chúng tôi báo rằng lúc này chưa in được truyện đó. Họ là cao thủ.

Cảm hứng liên tài có thể coi là một cái duyên. Duyên của người ngồi một chỗ mà “tìm thấy” người ở xa mình hàng ngàn cây số. Việc đó không lý giải được, cũng không cầm tay chỉ việc cho các bạn trẻ đang ngồi ở vị trí ngày trước của tôi được. Chỉ biết rằng tôi đã đón đợi những tác phẩm hay cho Cuộc thi bằng tất cả sự mẫn cảm trong trẻo của mình. Nhưng những người như Y Ban, Đoàn Ngọc Hà, Văn Chinh, Sương Nguyệt Minh, Phạm Thái Quỳnh, Hồ Tĩnh Tâm…thường đem đến cuộc thi sự chín chắn nối dài những thành công của họ. Nhưng đi kèm với đội hình thành danh ấy, chắc chắn cuộc thi nào cũng mong mỏi những gương mặt tươi sáng mới để kính cáo với độc giả rằng, chúng tôi đã đãi cát tìm vàng chứ đâu có ngồi không mà đợi.

Ở cuộc thi 2000 – 2001, Trần Hạ Tháp như là một cầu thủ lần đầu ra sân và đã “làm bàn” ở phút 89 với Cuộc cờ lều Ngộ Vân. Lúc đó, vào cuối năm 2001 đó, chưa ai biết Trần Hạ Tháp ngoài miệt Huế của cậu ta. Và dư luận đã khá đồng tình khi giải Nhất đã thuộc về một người mà cả Ban biên tập và Hà Nội chưa biết gì cả. Trần ai, lên rừng rồi xuống biển, nghèo dập nghèo bầm. Gì nữa? Không cần nhân thân ra sao, đó là tiêu chí đầu tiên và nhân văn mà chúng tôi đã nối tiếp được truyền thống bà đỡ của thế hệ biên tập trước mình. Cuộc cờ lều Ngộ Vân là một áng văn, đẹp từ trong tới ngoài về một nhân vật lịch sử mà ngòi bút nào chạm đến cũng thấy tim mình nhói lên, mãnh liệt.

        Chăm sóc

Kinh nghiệm ở cuộc thi 2000 – 2001 ấy nhắc tôi rằng cảm hứng thôi chưa đủ. Sự quán xuyến của Ban sơ khảo là quan trọng nhất, từ đó sẽ có “thực đơn” cho bữa tiệc mà Ban chung khảo là những nhà thẩm định đầu tiên. Một cuộc thi dài hàng trăm tuần, nó cần những gì ngoài việc in đều đều 2 hoặc 3 truyện mỗi kỳ báo?

Chúng tôi đặt hàng sự hưởng ứng của những nhà văn cao niên. Cái tông ấy, vấn đề cỡ ấy, sự đáo để ấy… là cái cỡ để những người viết mới có thể ướm vào. Mục viết lời bình những truyện đặc sắc cũng là một cách làm cho cuộc thi không bị nguội. Khi đã xuất hiện những cụm tác giả thì phải “xâu” họ lại để thành hiện tượng thú vị cho cuộc thi như nhúm tác giả cựu binh Nguyễn Danh Khôi, Lã Thanh An, Mai Tiến Nghị… ở Hải Hậu (Nam Định). Phập phồng, trông đợi và không khỏi sức ép. Vậy, uy tín của sự công tâm thì đủ không? Có những tác giả không ngại “vượt tuyến” đã ép từ Ban biên tập xuống để chúng tôi phải xếp lịch in, thường những vị ấy không bao giờ là người mới trong làng viết cả. Thôi thì, coi như “tệ nạn”, chung quanh mình lấm hết, cơ quan của mình sạch bong mà dễ à? Có một người viết quen biết với tôi không tin vào khả năng của mình (dù người đó viết rất được) đã có lần hỏi độp: “Có cần tác động ở khâu nào không, tôi chi?”. Dĩ nhiên tôi đã nổi xung một trận lôi đình và may sao, đó là lần duy nhất tôi chịu đựng cách hành xử đó.

Hỡi các bạn trẻ, các bạn ở đâu cả rồi? Chúng tôi thầm gọi như vậy bởi mong mỏi giới thiệu cho làng văn những gương mặt chưa ai biết. Cô gái xuống ga Vĩnh Yên “đáp” xuống chỗ tôi cùng với một hình dung mơ hồ: nhất định đây là một chàng trai có tài, sang và có cốt cách lạ. Phạm Duy Nghĩa đã không phụ lòng vun đắp của chúng tôi với Cơn mưa hoa mận trắng sau đó. Và Hà Thị Cẩm Anh không trẻ nhưng tinh khôi như suối nguồn, và “Ông cỏ giêng” Nguyễn Hiệp như một cây xương rồng sần sùi, an nhiên từ Bình Thuận nữa. Hay như Kiều Bích Hậu với Đợi đò và Nguyễn Danh Lam với Đất ở cuộc thi 2006 – 2007. Thiên bẩm của các tác giả mới nếu không có cuộc thi và sự tương tác giữa người sơ khảo với họ thì rất có thể sẽ sa vào hai trường hợp: dài dòng làm truyện yếu và đuối, hoặc là truyện sắp hay chứ chưa hay mà chúng tôi thì luôn muốn hay một cách mỹ mãn.

Trường hợp Ngô Phan Lưu là một đơn cử để cho thấy người làm sơ khảo ngoài con mắt xanh như cách nói thông thường, còn phải dày công để cùng tác giả đi tới một cái đích là vào chung khảo của cuộc thi. Ngô Phan Lưu là một cây bút nhiều trữ lượng, như sau này dân viết và độc giả nhận thấy. Bấy nhiêu chưa đủ. Tác giả ưa thích lối viết truyện không cốt chuyện và nếu ghi là tản văn thì cũng không sao. Chúng tôi đã nhìn thấy chất triết luận của một ngòi bút chắc chắn phải có một cuộc sống gọi là “lên bờ xuống ruộng”, một tác giả mới nhưng không trẻ, chẳng hề gì. Và cũng như Trần Hạ Tháp, Nguyễn Hiệp, hay Hồ Thị Ngọc Hoài… khi các tác giả lần đầu ra Hà Nội lĩnh giải thì cũng là lần đầu tôi biết mặt mũi họ ra sao. Nhưng sự tương tác trên bản thảo của chúng tôi với nhau là đặc biệt mật thiết và cảm động.

Những chương trình truyền hình thực tế gần đây cho tôi một liên tưởng: phàm đã là cuộc thi thì khán giả là người quan trọng nhất, vì vậy mà sự sàng lọc và chăm chút ở vòng ngoài luôn luôn quan trọng. Vì ai?

Vì những độc giả lý tưởng

Tôi không cho rằng các cuộc thi làm ra cho người viết. Chúng ta, những người viết truyện và những bà đỡ đều chung một mục đích tối thượng: phụng sự người đọc. Tôi không tin những ai nói rằng tôi viết cho chính mình. Viết và công bố là hai nhu cầu như ăn và thở vậy. Và khi tác phẩm được in, nó là một đứa trẻ độc lập đời sống với đấng sinh thành và bà mụ đã rước nó ra. Vì vậy mà tôi nghĩ, người đọc mới chính là động cơ để người viết phải viết và chúng tôi phải in.

Người đọc của chúng ta đã khác đi nhiều qua từng giai đoạn, không hẳn một cung đường thời gian nào. Nhưng chắc chắn độc giả của hôm nay không giống độc giả của thời chiến tranh, thời bao cấp và thời cận hậu chiến. Chính người đọc là một sức ép để người viết muốn viết khác những người đi trước mình. Về phương diện này, chúng tôi, những người ngồi ở ghế biên tập văn xuôi của báo Văn Nghệ có thể thanh thản nghĩ rằng, chúng tôi là nơi an lành để tác giả bất phân quá khứ và vùng miền được xuất hiện một cách trọng thị và bình đẳng.

Nhưng vì sao tôi nói rằng đối tượng mà chúng tôi tri ân và cống hiến là những độc giả lý tưởng? Là vì, do hoàn cảnh lịch sử và do trình độ tiếp nhận hay cảm thụ, không phải ai cũng là độc giả khích lệ tìm tòi và công tâm. Có không những độc giả ném đá? Có không những độc giả quy chụp? Có không những độc giả sát thủ? Hà Nội mặt trời, Hà Nội vừa cao mà cũng vừa đủ xa và sức mạnh của liên tài đã khiến chúng tôi giữ được tinh thần nhân văn trong công việc của mình, ấy là việc không phân biệt quá khứ và nhân thân mà chúng tôi đã có một đội hình tác giả đẹp cho những cuộc thi, trước hết là cho những độc giả trong sáng với ước nguyện một nền văn học lành mạnh và tốt đẹp.

Chú thích

* Nhan đề do Phê bình văn học đặt. Tên gốc là “Bếp núc những cuộc thi”

Nguồn: Văn nghệ Trẻ số 17- 18 (ra ngày 28- 4- 2013) – số báo đặc biệt chào mừng ngày giải phóng Miền Nam

Leave a Reply