Giáo sư Đinh Gia Khánh với thành tựu nghiên cứu và giảng dạy văn học cổ – trung đại Việt Nam


Trương Sỹ Hùng

 

Giáo sư Đinh Gia Khánh thụ nghiệp giảng day đại học từ năm 1951 tại Trường Sư phạm Khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc. Tiếp xúc với ông từ tháng 12 năm 1976 tại 27, Trương Hán Siêu (Hà Nội), giáo sư Đinh Gia Khánh có lần nói với chúng tôi rằng, trong khoảng thời gian trên dưới 5 năm này, sống ở Trung Quốc ông đã phấn đấu không mệt mỏi, vừa lên lớp giảng dạy, vừa không ngừng học thêm và nâng cao trình độ Hán ngữ bằng mọi cách, “chữ Hán chữ Nôm của ta là biểu hiện dân tộc tính cao. Hán ngữ của Trung Quốc có cách đọc khác, so với từ Hán Việt đôi khi còn có hiện tượng trái nghĩa. Cậu phải học thêm nhiều nữa cho chắc tay nghề” – đó là câu chuyện trong khói thuốc lào giữa hai thày trò. Không lâu sau tìm được sách Việt – Hán từ điển (1) của thày, in tại Bắc Kinh (Trung Quốc) năm 1966, tôi choáng ngợp trước một khối kiến thức khổng lồ. Thầy trực tiếp lên lớp cho năm thứ tư ở khoa Ngữ Văn – trường đại học Tổng Hợp Hà Nội là chuyên đề Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám(2) đó là một chuyên khảo về văn học dân gian. Rõ rồi, cả giáo trình Văn học dân gian viết chung với thày Chu Xuân Diên nữa, sách in  một tập ở nhà xuất bản Giáo dục năm 1962, sau đã được các tác giả nâng cao và tái bản có nhiều sửa chữa và in thành hai tập do nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp năm 1972 (3) . Song, giáo sư Đinh Gia Khánh còn là một chuyên gia tầm cỡ về văn học cổ trung đại Việt Nam ngay từ những năm đầu, nửa sau thế kỷ XX. Vốn Hán ngữ, Anh ngữ và Pháp ngữ nâng bước đường nghiên cứu của thày, khiến thày ngày một ngày càng đi sâu và vốn cổ văn hóa dân tộc, càng thể hiện tinh thần yêu nước ở trình độ cao.

Kết hợp giữa giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học cơ bản, ngay từ những ngày đầu về Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay tách thành hai trường Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn và Trường đại học Khoa học tự nhiên thuộc ĐHQGHN) – từ tháng 9 năm 1956 – giáo sư Đinh Gia Khánh đã bắt tay vào làm việc sáng tạo say mê. Tiềm ẩn một vốn kiến thức văn hóa cơ bản do tự học nâng cao – kể từ bậc đại học bỏ dở do thời cuộc biến đổi – ông tự giác cống hiến công sức của mình vào công cuộc cải tạo và xây dựng một nền giáo dục mới, góp phần không nhỏ vào việc định hình những bước đi ban đầu trong nghiên cứu văn học cổ trung Việt Nam. Đọc những ấn phẩm Văn sử địa đương thời, xem lại những bản lược dịch tóm tắt Đại Việt sử ký toàn thư của Mạc Bảo Thần (1944), các số báo Tri tân… có trích dịch một số tác phẩm văn học cổ trung đại Việt Nam, ông thấy đó là những ấn phẩm chỉ có giá trị tham khảo cho trình độ phổ thông, không thể đáp ứng nhu cầu tìm hiểu văn học truyền thống được vì sự thiếu hụt tính hệ thống. Tất cả những bộ sử cơ bản, những thư tịch Hán Nôm Việt Nam lúc đó còn đang ở dạng nguyên bản, nghĩa là người dịch, hiệu đính văn bản và khó nhất là khảo luận văn bản và chú thích đều phải đọc trực tiếp nguyên bản chữ Hán, lại chưa có được các bản dịch khác để tham chiếu. Trong Lời giới thiệu diễn ca lịch sử Thiên Nam ngữ lục (天南語錄) bản in của nhà xuất bản Văn hóa 1958 – 1959 tác giả Đinh Gia Khánh viết: “Tinh thần dân tộc trong T.N.N.L chính là tinh thần dân tộc của nhân dân ta thể hiện ở trong dã sử, truyền thuyết và thần tích. T.N.N.L đã phản ánh trung thực tinh thần đó; vì vậy mà về điểm này T.N.N.L chép có phần khác hơn các bộ quốc sử của ta.

Đại Việt sử ký toàn thưViệt sử thông giám cương mục không chép việc Hai Bà Trưng chém được Tô Định, hứa gả Trưng Nhị cho kẻ thắng giặc, hòa quân với Mã Viện và nhuốm bệnh mà lên trời. Song thần tích làng Hạ Lôi (xưa là Cổ Lai, phủ Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên) thì lại chép rằng: Hai Bà sinh đôi, bà Trưng Trắc thề sẽ gả em là Trưng Nhị cho kẻ có công to; Hai Bà sau biến hóa đi.

Còn việc Bà Trưng giải thích với tướng sĩ tại sao chưa để tang chồng mà đã ra đánh trận thì  Thiên Nam ngữ lục chép phù hợp với Đại Việt sử ký tiền biên.(…)

T.N.N.L không theo sử mà đã thuật thảm tình Mỵ Châu Trọng Thủy theo truyền thuyết và thần tích; đại ý truyền thuyết cho Trọng Thủy là đứa bất lương đã đánh trộm nỏ thần lại còn bày mưu cho Mỵ Châu rắc lông ngỗng dọc đường để dễ bề theo đuổi cha con An Dương Vương; còn Mỵ Châu thì không những không phải lòng Trọng Thủy (như sách Trung Quốc đã chép) mà còn rất hiền và rất chung thủy; khi Mỵ Châu chết, xác trôi ngược sóng từ bể Nam về đến Cổ Loa; hồn Mỵ Châu nhập vào một phiến đá, đêm đêm thường hiện lên mà ta oán cha con Triệu Đà…

Đại Việt sử ký toàn thư có chép vệc Trương Hống, Trương Hát hai lần khuyên can Triệu Việt Vương không nên giảng hòa, chia đất với Lý Phật Tử và không nên gả Tiểu Nương cho Bát Lang như xưa kia vua Thục đã gả Mỵ Châu cho Trọng Thủy. Song Đại Việt sử ký toàn thư không chép việc hai người đã giúp Lê Đại Hành đánh Tống và đọc thơ. T.N.N.L và Lĩnh Nam trích quái thì có chép việc này.” (4) Chỉ nhìn lướt qua mấy dòng văn viết sau ngày hòa bình lập lạt trên miền Bắc (1954) được mấy năm ta thấy, giáo sư Đinh Gia Khánh đã đứng vào hàng các vị túc nho, trực tiếp đọc các văn bản chữ Hán thành thạo ở tuổi “tam thập.” Sau tiểu kết này, tác giả dẫn lại trọn vẹn đoạn trích, rồi khẳng định: “Thiên Nam ngữ lục là một tập diễn ca lịch sử. Đó là một tác phẩm sử học, nhưng trước hết đó là một tác phẩm văn học.” Đáng lưu ý hơn cả, đây là lần đầu tiên Thiên Nam ngữ lục được phiên âm, chú thích và giới thiệu từ bản chữ Nôm sang bản chữ quốc ngữ. Ở Phàm lệ, hai soạn giả cho biết: “Sách này phiên âm theo bản chữ Nôm, hiện tàng trữ ở thư viện trường Viễn đông bác cổ, bản AB 78.” (5)  Trong khoảng thời gian từ 1956 đến năm 1960 dường như bản thảo cả ba cuốn: Thiên Nam ngữ lục, Lĩnh Nam trích quái và Việt điện u linh lúc nào cũng thường trực trên bàn làm việc của giáo sư Đinh Gia Khánh. Cùng với dịch giả Nguyễn Ngọc San, Trịnh Đình Rư, ba người từng trao đổi, tranh luận với nhau từng chữ, từng câu văn, đón cơ hội nhà xuất bản Văn hóa cho in để phổ biến rộng đường dư luận. Bên cạnh đó, việc chuẩn bị tư liệu để viết hai bộ giáo trình Văn học dân gian – với Chu Xuân Diên, và Văn học cổ Việt Nam – với Bùi Duy Tân cũng đang được đặt ra tương đối khẩn trương.

Nhận thức rằng: “Qua Việt điện u linh ta thấy, dầu là “hạo khí anh linh”, dầu là “nhân quân”, “nhân thần”, các vị thần đều gắn bó với nhà nước phong kiến. Tất cả các vị thần đều bị triều đình phong tước, ban ân. Trong hầu hết các truyện, các vị thần đều có dịp hiển minh báo mộng cho vua chúa, quan quân để chỉ rõ điềm lành, điềm giữ, hoặc có khi tham gia vào các công việc của thế gian, giúp triều đình dẹp giặc, trừ họa. Nhiều khi các vị đó không giấu giếm mục đích của mình là lập công để mong được hưởng sự tế tự lâu dài, để xin vua quan sửa sang hoặc xây dựng đền miếu. Và bao giờ thì vua quan cũng trả công xứng đáng cho các thần. Thành ra các vị thần hành động chẳng khác gì những kẻ bề tôi của triều đình ở thế gian này. Trong thực tế, giai cấp phong kiến ở Việt Nam cũng như giai cấp phong kiến ở Trung Quốc, đã sử dụng thần linh trong mục đích thống trị nhân dân. Vua là thiên tử, tức con trời, vì vậy vua cai quản cả bách thần ở cõi u linh, cũng như cai quản bách tính ở dương thế.” (6) Mười hai năm sau (1972) sách Việt điện u linh được nhà xuất bản Văn học “tái bản có sửa chữa bổ sung”. Sửa lại một số lỗi chi tiết trong bản in cũ, ông cho biết: “Việt điện u linh được dịch ra quốc ngữ và xuất bản năm 1960, dịch giả là cụ Trịnh Đình Rư, nay đã quá cố. Theo lời dịch giả thì ông căn cứ vào bản A.751 của thư viện khoa học, “đối chiếu với một vài bản khác, nhận định rồi đem dịch”. Và khi có thời gian xem lại thì giáo sư Đinh Gia Khánh đã: “Nghiên cứu kỹ thì thấy bản dịch không theo sát nguyên văn bản A.751. Có nhiều chỗ dịch giả đã tóm tắt lại hoặc lắp những bản dịch từ một bản chữ Hán khác vào cho thích hợp với nhận định của mình. Tóm lại đây là một bản phỏng dịch. Nhà xuất bản chủ trương vẫn dùng bản dịch ấy và nhờ chúng tôi hiệu đính lại những chỗ xét ra thật cần thiết. Chỉ trong trường hợp dịch giả đã đi quá xa nguyên văn bản chữ Hán thì chúng tôi mới dịch lại.

Tuy có đến 8 bản chữ Hán trước mắt, nhưng chúng tôi không thể chú thích phần khảo dị được. Muốn có thể khảo dị thì bản dịch phải theo sát một bản chữ Hán nhất định, mà đó lại không phải là trường hợp của bản dịch cũ. Chúng tôi chỉ có thể làm một bản thống kê nội dung của 8 bản chữ Hán (có kèm theo lời phân tích sơ lược đặc điểm của từng bản ấy) để tiện cho việc tham khảo của độc giả.

Ngoài ra, chúng tôi dịch thêm một số truyện về anh hùng lịch sử do người đời sau “tăng bổ” vào Việt điện u linh, vì xét rằng những nhân vật như Bà Triệu, Mai Thúc Loan rất đáng để bên cạnh Hai Bà Trưng hoặc Phùng Hưng.” (7)

Cộng tác với Nguyễn Ngọc San giáo sư Đinh Gia Khánh biên khảo, dịch chú sách Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh – Kiều Phú. Ngay trang đầu trong Lời giới thiệu bản in lần thứ hai năm 1990, có một chú thích chỉ ra một sai lầm của một số người khi dịch chú: “Từ trước đến nay, trong các sách quốc ngữ thường viết là Lĩnh Nam trích quái. Viết trích là sai. Chữ chích ở đây khác chữ trích (trong tích truyền, trích lục); chích chữ Hán gồm một bộ thủ bên cạnh chữ thứ. Sách Từ nguyên phiên thiết là chi – ích, chích có nghĩa là hái quả, thu lượm. Chữ trích (trong trích lục) viết khác, sách Từ nguyên phiên thiết là tri – ách. Ở trong sách này, chúng tôi sửa lại một sai lầm đã thành tập quán từ trước đến nay và viết là chích.” Điều đó không chỉ đơn thuần là việc phê phán bản trích dịch đây đó trên tạp chí trước cách mạng tháng Tám (1945). Với những nội dung thiết thực như thế, giáo sư Đinh Gia Khánh đêm ngày tận tụy, bền bỉ bên trang sách đặng có được những trang viết có giá trị khoa học lâu dài. Nếu tách riêng giáo trình Văn học cổ Việt Nam và nhũng công trình khác nghiên cứu chuyên biệt về văn học cổ trung đại Việt Nam thì giáo sư Đinh Gia Khánh cũng đã đứng ở vị trí quán quân gần 60 năm qua chưa ai đuổi kịp chứ chưa thể nói là vượt qua.

Trong toàn bộ sự nghiệp trước tác của ông, ta thấy ở bất kỳ một bài báo nhỏ hay một chuyên luận nào, một giáo trình dân gian hoặc cổ điển đều toát lên một tình yêu sâu sắc đối với di sản văn hoá Việt Nam. Khoảng đầu những năm sáu mươi của thế kỷ XX, trên diễn đàn văn học Việt Nam các nhà nghiên cứu và nhất là các trường đại học hiện đang có nhu cầu đòi hỏi cấp bách những bộ giáo trình có thể tạm coi là đạt chuẩn. Tìm đọc những sách cũ viết về văn học cổ Việt Nam những năm bốn mươi như: Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (1943) của Kiều Thanh Quế. Việt Nam cổ văn học sử (1843) của Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam văn học sử yếu (1943) của Dương Quảng Hàm; những năm năm mươi như: Việt Nam văn học sử trích yếu (1949) của Nghiêm Toản Khởi thảo văn học sử Việt Nam (1953) của Thanh Lãng…v.v. giáo sư Đinh Gia Khánh đánh giá cao những thành tựu đó, nhưng theo ông nói, “cách viết, hướng tìm về vốn cổ như thế mới chỉ dừng lại ở mức miêu thuật tư liệu và sách chỉ phục vụ đối tượng bạn đọc phổ thông. Có cuốn trình độ phổ thông cũng còn quá lạc hậu ngay từ lúc mới in ra, sai với quy phạm khoa học sư phạm. Duy chỉ có hai cuốn của cụ Nguyễn Đổng Chi và Dương Quảng Hàm là có tính khoa học trội hơn cả. Tài liệu giảng dạy đại học phải mang tính hiện đại cả về văn phong, cách viết, và quan trọng nhất là cái nhìn sâu, rộng biện chứng. Nghiên cứu văn học cổ là phải khơi dậy lòng yêu nước, quảng bá niềm tự hào chính đáng của dân tộc, truyền dạy cho lớp trẻ nhiệt huyết tinh thần dân tộc, phải kiêu hãnh với những giá trị thẩm mỹ của cha ông chúng ta. Kiêu hãnh để đề cao truyền thống và bảo vệ nền văn hóa dân tộc.”

Có thể tính khoảng những năm sáu mươi của thế kỷ XX là giai đoạn thứ hai, giáo sư Đinh Gia Khánh dồn tất cả sinh lực cho hàng loạt đề tài nghiên cứu và giảng dạy ngữ văn dân gian và cổ điển ở đại học Tổng Hợp Hà Nội. Cả ba đề tài trọng yếu đều đặt ra cùng một thời điểm trên bàn làm việc. Chủ biên, trực tiếp viết phần khái quát và kết luận cùng hàng loạt các tác gia, tác phẩm tiêu biểu trong Văn học cổ Việt Nam với Bùi Duy Tân. Bên cạnh đó là công trình đồ sộ, không kém phần quan trọng trong lịch sử nghiên cứu là Hợp tuyển thơ văn Việt Nam – Thế kỷ X đến XV và bộ Từ điển Việt – Hán đã ở dạng hoàn chỉnh bản thảo. Từ điển Việt – Hán song hành đáp ứng mấy nhu cầu cấp thiết đương đại: giúp người Việt học và nâng cao trình độ Hán ngữ, giúp người Hoa học tiếng Việt hiện thời. Vả lại cuốn sách có giá trị vĩnh cửu là công cụ cho người tìm hiểu văn học cổ Việt Nam. Ông phê phán nhưng không viết thành văn là, Thanh Lãng viết giáo trình văn học cổ Việt Nam, đặt tên tập I là Đối kháng Trung Hoa (Từ đầu đến thế kỷ XIV), tập II là Thế hệ dấn thân yêu đời (1428 – 1505) là võ đoán, lộng ngôn dễ xúc phạm tình cảm hữu nghị Việt Hoa.

Giáo trình Văn học cổ Việt Nam bản in lần đầu năm 1963 in thành hai tập, đến năm 1978 sách được tái bản có sửa chữa và nâng cao. Tên sách được đổi lại là Văn học Việt Nam (Thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII), giáo sư Đinh Gia Khánh trực tiếp viết phần thứ nhất: Mười thế kỷ của tiến trình văn học viết, phần thứ hai: Văn học từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV; ông viết cả 7 mục: – 1. Sự hình thành và phát triển của nền văn hóa Đại Việt thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIV – 2. Văn học đời Lý và những truyền thống của dân tộc – 3. Văn học đời Trần đã phát triển trong hào khí của dân tộc Đại Việt đang lớn mạnh – 4. Học phong Đông A – 5. Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo trong văn học đời Trần – 6. Văn tự sự và truyện ký đời Trần – 7. Văn thơ Nôm đời Trần. Phần III: Văn học thế kỷ XV gồm 9 mục ông viết 6 mục: – 1. Sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của nền văn hóa Đại Việt trong thế kỷ XV – 2. Sự nghiệp sáng tác và trước thuật của thế kỷ thứ XV có ý nghĩa rất tích cực đối với lịch sử văn hóa Đại Việt – 3. Hai thời kỳ văn học của thế kỷ XV – 4. Âm điệu anh hùng là âm điệu chủ đạo trong văn học thế kỷ thứ XV – 5. Nguyễn Trãi và tấm lòng ưu ái “đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông – 6. Văn tự sự, truyện ký thế kỷ thứ XV.” Ở phần IV ông viết mục 8. Thiên Nam ngữ lục, một thành tựu có ý nghĩa thời đại của văn học chữ Nôm và phần Kết luận cho cả bộ giáo trình. Như vậy, dù đứng ở vị trí chủ biên nhưng chính giáo sư Đinh Gia Khánh vẫn là người viết số trang chiếm già nửa. Quán xuyến nội dung tư tưởng và cách giải quyết từng vấn đề sao cho sáng tỏ đã đành, song sự sáng tạo xuất sắc ở đây coi như sự phát minh về văn học cổ trung đại Việt Nam, cách nay đã trên dưới nửa thế kỷ mà vẫn còn nguyên vẹn giá trị khoa học.  Ấy là chưa kể có một số tác giả đã xuất phát từ những câu văn, những đề mục của giáo trình Văn học cổ Việt Nam mà tự mình xây dựng nên một công trình lớn như Chủ nghĩa yêu nước trong văn học Lam Sơn chẳng hạn. Những mệnh đề “Học phong Đông A”, “Hào khí dân tộc”, “Truyện ký đời Trần”, “Thơ Nôm đời Trần”…cho đến nay, và có thể còn lặp lại hoặc biến thái chút ít sẽ còn là những gợi ý đề tài luận văn, luận án cho từng lớp, từng lớp học viên và nghiên cứu sinh trong và ngoài nước, hiện dã, đang và sẽ nhắc mãi tên thầy. Dĩ nhiên không phải là sự sao chép máy móc, mà từ những điểm mốc phát minh ấy, với những nghiên cứu sưu tầm bổ sung, các thế hệ học trò, những người có quan tâm nghiên cứu sẽ tự mình vươn tới đặng đạt được những thành tựu mới.

Từ dư luận xã hội và sự quan tâm chu đáo của các nhà khoa học chuyên ngành, những đề xuất của cả bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam từ văn học dân gian đến nửa đầu thế kỷ XIX của Đinh Gia Khánh với các tác giả Bùi Duy Tân, Nguyễn Lộc đã được ghi nhận là quan điểm học thuật quy chuẩn quốc gia và cũng không kém phần so với các giáo trình cùng loại của các trường đại học danh tiếng trên thế giới. Khảo luận sách  Thiền uyển tập anh giáo sư Đinh Gia Khánh viết: “Trong Thiền uyển tập anh có chép thơ và kệ của các thiền sư. Vì vậy, tác phẩm là một tài liệu văn học quý hiếm còn truyền lại về đời Lý. Tác phẩm chép hành trạng của các vị cao tăng và lời thuyết pháp mà họ nói với đệ tử. Vì vậy, tác phẩm là một tài liệu quan trọng đối với việc tìm hiểu lịch sử Phật giáo ở nước ta. Sự tích các vị cao tăng có nhiều đoạn liên quan tới cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng tổ quốc cũng như phong tục tập quán trong các đời Đinh – Lê, đặc biệt là trong đời Lý. Có những sự tích xứng đáng được coi như tác phẩm văn học hay không kém gì những truyện ngắn hấp dẫn trong văn học đời sau”(7)...

Trên nền tảng là khả năng đọc văn bản và dịch thuật, tiếp xúc trực tiếp các văn bản Hán – Nôm, giáo sư Đinh Gia Khánh nghiên cứu văn học cổ trung đại Việt Nam cầu toàn đến mức chú trọng từng từ, từng câu, từng chi tiết trong ngữ cảnh cụ thể làm cho vấn đề mạch lạc, sáng tỏ, cặn kẽ.  Chính vì thế, những giáo trình, những công trình nghiên cứu khoa học của ông, khi đã ấn hành là trở thành tài sản tinh thần vô giá của xã hội.

Công trình Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X – XVII là tập thứ hai trong bộ sách sáu tập do Viện văn học chủ trương, nhà xuất bản văn hóa ấn hành. Phải khẳng định rằng đây là lần đầu tiên sau cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp thắng lợi, với chủ trương khôi phục và bảo tồn vốn cổ văn học dân tộc được thực thi với kết quả tốt đẹp, bề thế. Cùng một tên sách, tập I là Văn học dân gian, tập II là Văn học cổ trung đại, tập III là Văn học trung cận đại, tập IV là Văn học cận hiện đại,  tập V là văn học hiện đại và tập VI là Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam. Tổng số trang khổ lớn (15,5×24) khoảng hơn 4.000, bình quân mỗi tập khoảng 700 trang. Các tập từ II đến V nếu tác phẩm nào viết bằng chữ Hán Nôm thì đều có in kèm nguyên bản và ghi rõ ở phần xinhe “Số lượng 5.200 cuốn bìa thường, 1.040 cuốn bìa cứng bọc vải có phần chữ Hán.” Theo giáo sư Bùi Văn Nguyên đây là sáng kiến do giáo sư Đinh Gia Khánh đề xuất và cũng phải được đưa ra bàn luận ở nhóm và các nhóm hai ba lần mới có sự đồng thuận. Với luận lý trong số bạn đọc Việt Nam đương đại, còn nhiều người đọc được chữ Hán, vì vậy cần in nguyên bản để họ đọc trực tiếp và giúp chúng ta chỉ dẫn những sai sót để có dịp tái bản sách có chất lượng cao hơn. Nhiều sinh viên đại học chuyên ngành ngoại ngữ Trung văn, nhiều người nước ngoài như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản có đồng dạng văn tự có thể tìm đọc. Phải chăng thành tựu có in nguyên bản chữ Hán Nôm trong 1/5 số lương xuất bản phẩm chỉ là yếu tố ngẫu nhiên mang tính sự vụ hành chính?

Tập II Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X – XVII (1962) do giáo sư Đinh Gia Khánh chủ biên và viết lời giới thiệu. Đinh Gia Khánh – Bùi Văn Nguyên – Nguyễn Ngọc San sưu tầm, tuyển dịch và biên soạn, với sự công tác của các cụ Ngô Lập Chi – Nguyễn Văn Huyến – Nguyễn Sỹ Lâm. Ghi danh trong công trình của  tập thể tác giả như thế là minh định rõ ràng, biểu hiện tính chân thực, khoa học cao. Dù sao thì vai trò của người chủ biên và cũng là đồng tác giả vẫn giữ vai trò chính trong các khâu chỉnh lý, sửa chữa và chú thích các bản dịch, sắp xếp lại các tác gia và tác phẩm cho hợp lý. Lời gới thiệu khẳng định vị trí, ý nghĩa quan trọng của công trình, hướng dư luận tìm hiểu tác phẩm, tác giả tốt hơn. Nhận định: “Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV đã hình thành một lực lượng sáng tác văn học ngày càng đông đảo. Căn cứ vào những tài liệu hiện có thì trong non năm thế kỷ của lịch sử văn học viết có khoảng một trăm hai mươi tác giả. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XII có trên 50 tác giả trong số đó đa số là các nhà sư, từ thế kỷ XIII đến thế kỷ thứ XIV có trên 60 tác giả trong số đó đa số là nho sĩ. Nếu như về các đời Đinh và Tiền Lê chúng ta chỉ biết một vài tác giả như Ngô Chân Lưu, Pháp Thuận, thì về đời Lý, ngoài một số tác giả, chúng ta lại biết được cả tên một số tác giả khuyết danh (…) Ngoài ra, chúng ta còn biết một số văn bia, văn chuông như: Văn chuông chùa Thiên Phúc, văn chuông chùa Viên Quang, văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, văn bia chùa Báo Ân, văn bia chùa Linh Xứng, văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Khánh, văn bia chùa Diên Phúc, văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc v.v…Những tác phẩm ấy trước hết có ý nghĩa sử học, nhưng nhiều khi cũng rất có giá trị văn học. Những tác phẩm như Chiếu dời đô của Lý Thái tổ, Chiếu miễn thuế của Lý Thái tông, Chiếu để lại lúc lâm chung của Lý Nhân tông, Chiếu nhường ngôi của Lý Chiêu hoàng, Văn lộ bố của Lý Thường Kiệt, luận văn Bàn về nguồn gốc an nguy, trị loạn của xã tắc của Nguyễn Nguyên Úc v.v…thì lại là những tác phẩm chính trị mà có giá trị văn học. Về các thể loại truyện và ký thì sử sách đời sau thường nhắc đến và trích dẫn Báo cực truyện (khuyết danh tác giả) và Ngoại sử ký của Đỗ Thiện. Phần chủ yếu trong văn học đời Lý là thơ, mà phần lớn thơ lại là của nhà chùa. Đó thường là lời kệ , mà các nhà sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viên Chiếu, Không Lộ, Quảng Nghiêm, Viên Thông, Diệu Nhân v.v…dùng để dạy đệ tử, và do đó trước hết có nội dung liên quan đến triết học và giáo lý Thiền tông. Tuy nhiên bên cạnh ý nghĩa triết học và tông giáo, nhiều bài thơ lại có ý nghĩa nhân sinh và giá trị văn học.” (8)Sự đóng góp của bộ sách là đã cung cấp tư liệu gốc cho hầu hết những cán bộ giảng dạy và sinh viên chuyên ngành văn học, ngôn ngữ và lịch sử, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đất nước bộn bề với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đát nước, những trang văn, trang thơ hừng hực khí thế sục sôi căm thù quân cướp nước như Nam quốc sơn hà của tác giả khuyết danh, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi… đã bồi bổ tinh thần yêu nước, rèn luyện ý chí quyết chiến quyết thắng cho lớp lớp thanh niên lên đường cầm súng bảo vệ quê hương.

Trên đà say mê với văn học cổ Việt Nam, năm 1964, giáo sư Đinh Gia Khánh đã cùng Nguyễn Ngọc San phiên âm, khảo dị và giới thiệu truyện thơ Nôm Lâm tuyền kỳ ngộ. Khảo sát cụ thể trên văn bản một bản Nôm lấy là gốc giáo sư Đinh Gia Khánh đã chỉ ra những hạn chế trong bản phiên âm của Xuân Lan và cũng nêu một nghi vấn với giáo sư Hoàng Xuân Hãn rằng: “Lâm tuyền kỳ ngộ (cuộc gặp gỡ ở nơi rừng suối) là một truyện Nôm gồm 146 bài thơ tứ tuyệt Đường luật và một bài ca khúc dài 11 câu.” Và ông ghi chú: – Hoàng Xuân Hãn đã viết rằng  Lâm tuyền kỳ ngộ gồm 150 bài thơ Đường luật (Thi văn Việt Nam – Sông Nhị xuất bản 1951). Không rõ ông đã dựa vào bản Nôm nào mà viết như vậy. Rồi ông viết tiếp: “Chúng tôi đã phiên âm truyện này ra quốc ngữ từ một bản Nôm – bản khắc gỗ năm Thành Thái thứ 11, Kỷ Hợi (1899) ở thư viện Khoa học trung ương, Hà Nội, số ký hiệu AB. 78.

Trước đây cũng đã có một bản phiên âm ra quốc ngữ truyện Lâm tuyền kỳ ngộ, đó là bản của Xuân Lan, một người đã cho xuất bản nhiều truyện Nôm hồi đầu thế kỷ này. Bản phiên âm  của Xuân Lan – in ở Hà Nội năm 1912, hiện ở thư viện Khoa học Trung ương còn giữ lại được một nửa, số ký hiệu Q8o 121(5) – có những chỗ khác với bản phiên âm của chúng tôi, và chúng tôi đã giới thiệu phần khảo dị ở cuối mỗi bài thơ trong sách này. Đối chiếu hai bản với nhau, chúng tôi thấy cần nêu ra mấy nhận xét.(Lại có thêm chú thích: Ở thư viện Khoa học trung ương, còn có một bản Nôm nhan đề Bạch Viên thi tập, số ký hiệu VNv 169. Bản này chép lèm nhèm, lại bỏ dở. Vì vậy chúng tôi không sử dụng để đối chiếu, khảo dị.)” (9) Điều quan trọng là giáo sư Đinh Gia Khánh đã chỉ ra những sai lầm do cách làm tùy tiện, cẩu thả: “Một là tên các bài thơ trong bản AB. 78 đều viết bằng chữ Hán chứ không phải bằng chữ Nôm. Khi phiên âm chúng tôi theo đúng nguyên bản mà không dịch nghĩa, chỉ kèm thêm chú thích ở dưới. Thí dụ như tên bài thơ thứ hai, bản AB. 78 viết Huyền Trang tăng; bản phiên âm Xuân Lan thì trái lại đã viết Ông sư Huyền Trang. Như vậy thì hoặc là bản Nôm mà Xuân Lan sử dụng vốn viết tên các bài thơ bằng chữ Nôm và Xuân Lan đã phiên âm từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ, hoặc là bản Nôm đó vốn cũng viết tên các bài thơ bằng chữ Hán, nhưng Xuân Lan đã không phiên âm mà lại dịch ra chữ quốc ngữ.

Hai là trong các bản Xuân Lan và bản AB. 78, mỗi bản có những trường hợp sai lầm mà bản kia có thể giúp cho việc đính chính và bổ sung được.

Có một số trường hợp Xuân Lan đã phiên âm sai, hay ít ra thì cũng đã sử dụng thiếu phê phán một bản Nôm trong đó có những sai lầm.” (10) Và thật là cặn kẽ, cụ thể đến từng chi tiết, chẳng hạn: “Câu 8  bài Tôn sinh lạc đệ, bản AB.78 viết là Một áng xuân vi chẳng bấy lâu còn bản Xuân Lan thì lại viết là “xuân viên” thay cho “xuân vi”. Chữ vi và chữ viên trong Hán tự viết hơi giống nhau và một bản in không rõ nét có thể khiến người ta đọc lầm chữ nọ sang chữ kia. Nhưng dầu có sự lờ mờ trong bản in đi nữa, nếu chú ý phân tích ý nghĩa câu thơ cũng có thể xác định được rằng ở đây đúng là chữ vi. Vì là tên đề để trỏ nơi trường thi ngày xưa. Thi hội thường tổ chức vào mùa xuân, cho nên trường thi Hội còn gọi là xuân vi.” (11)Thật là tinh tường, uyên bác bởi kỳ thi chữ Hán cuối cùng ở Việt Nam đã kết thúc từ năm 1918 mà tài liệu nghiên cứu về lịch sử giáo dục những năm sáu mươi chưa có được được những công trình nghiên cứu khả dĩ. nghiên cứu. Làm rõ và mạnh dạn đề xuất ý kiến sửa sai, và sửa đúng khiến uy tín của tác giả càng được củng cố niềm tin trải thời gian năm tháng.

Phải khẳng định rằng, cuộc đời giáo sư Đinh Gia Khánh đã bộc lộ tinh thần yêu nước cao cả, qua những công trình nghiên cứu văn học dân gian và cổ trung Việt Nam, và phấn đấu không mệt mỏi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhân tài cho đất nước. Giữa những năm sáu mươi, khi cao trào kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra sôi nổi, ngay cả cơ sở đào tạo, thầy và trò trường đại học Tổng Hợp đều phải đi sơ tán khỏi Hà Nội, đè phòng máy bay địch oanh tạc, ném bom bắn phá. Nhiều sinh viên, thầy giáo phải “xếp bút nghiên mà lo việc binh đao.”Giáo sư Đinh Gia Khánh cùng các giáo sư Hoàng Như Mai, Hoàng Xuân Nhị… đã viết những bài đoản văn, để đài tiếng nói Việt Nam sử dụng trong những buổi phát thanh dành cho binh sĩ, ngụy quyền miền Nam vào lúc đêm khuya. Chất liệu kết thành những bài luận chiến bằng công tác binh vận đó khiến nhiều người lính Ngụy bật khóc khi nghe đài mà nhận ra bước đường sai lạc của mình mà lặng lẽ đảo ngũ, thoái binh, trở về hàng ngũ quân giải phóng hoặc không cầm súng của kẻ ngoại xâm bắn giết đồng bào. “Cần phải nhấn mạnh điều này: tấ cả người Việt Nam từ xưa đến nay dều có ý thức rất sâu sắc rằng mình có chung một vị thủy tổ, rằng khối cộng đồng của người Việt Nam hình thành từ rất lâu rồi và không thể có kẻ nào phá vỡ được. Con Rồng – cháu Tiên, đó không phải chỉ là một khẩu ngữ. Mỗi người Việt Nam khi nhớ đén truyền thống Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng thì không phải chỉ thấy rằng đó là một truyền thuyết đẹp mà trước hết cảm thấy mình tự hào về Tổ quốc, trước hết cảm thấy mình gắn bó chặt chẽ với khối cộng đồng của người Việt đã từ bao đời khai phá, xây dựng và bảo vệ đất nước này.” (12)

Ngày 17 tháng 7 năm 1966 chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Không gì quý hơn độc lập tự do”, giáo sư Đinh Gia Khánh làm Tuyển tập thơ văn yêu nước chống phong kiến xâm lược. Sách có Lời giới thiệu và tuyển dịch tác phẩm văn học Hán Nôm Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX có cùng chủ đề. Cuốn sách tuy chỉ khiêm tốn với 140 trang khổ 13×19, nhưng ý nghĩa chính trị là thiết thực, kịp thời góp phần động viên cổ vũ hàng trăm sinh viên, học sinh cuối cấp III hăng hái lên đường đánh giặc cứu nước. Ba năm sau đó, cùng với Người anh hùng làng Dóng của Cao Huy Đỉnh, kỷ yếu hội thảo bốn lần về Hùng Vương dựng nước những năm 1969- 1970; rồi liên tiếp năm 1972, Việt điện u linh, 1974 Lĩnh Nam chích quái được tái bản như là một vũ khí văn chương, lịch sử cũng tham gia đội ngũ chiến đấu như một binh chủng khuyết danh, nhưng chứa đựng sức mạnh vô địch bởi nó chìm sâu trong tầm cao tư tưởng mỗi con người trong cuộc.Tuy thế, khi viết Lời giới thiệu, tác giả vẫn chỉ rõ: “Từ các cuộc chiến đấu chống xâm lăng đã xuất hiện các anh hùng dân tộc như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ v.v…Sự nghiệp anh hùng của các anh hùng dân tộc đã tiêu biểu được ở những mặt nhất định trong sự nghiệp của nhân dân. Từ các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm lại đã xuất hiện những áng hùng văn như Hịch tướng sĩ văn, Bình Ngô đại cáo, Chí Linh sơn phú v.v…Các áng thơ văn yêu nước đã phản ánh được, ở những mức độ nhất định, khí thế quyết chiến quyết thắng của nhân dân.” (13)

Sau ngày miền Nam giải phóng giáo sư Đinh Gia Khánh bắt tay sửa chữa và nâng cao bản thảo Điển cố văn học do ông chủ biên và cùng với tám cộng tác viên như Nguyễn Thạch Giang – Kiều Thu Hoạch – Vương Lộc – Bùi Văn Nguyên – Nguyễn Ngọc San – Đặng Đức Siêu – Chu Thiên – Hoàng Hữu Yên. Loại sách công cụ này trước đây đã có Từ điển văn liệu của  Long Điền Nguyễn Văn Minh do nhà xuất bản Á Châu in ở Hà Nội năm 1952, nhưng cuốn sách ấy làm “giống như quyển Quốc văn thành ngữ tự điển củ Trung Hoa” và “chỉ thu thập nhũng thành ngữ từ hai đến bốn tiếng”, dĩ nhiên là chưa đáp ứng nhu cầu tìm hiểu điển tích văn học cổ. Dù cho những từ và cụm từ ấy có bám theo điển tích trong cách thể hiện thì ngữ liệu văn Hán Nôm vẫn mới chỉ là khơi gợi chứ chưa có một định hướng khoa học. Đến lượt mình, giáo sư Đinh Gia Khánh đã đưa ra một các làm mới, “Trong lời giải thích trước hết nêu nghĩa đen, nguồn gốc của điển cố, sau đó nêu ý nghĩa của điển cố trong tác phẩm văn học và dẫn câu thơ đẻ minh họa.

Dựa vào quan điểm duy vật lịch sử, lời giải thích đã đặt những sự tích nhân vật hình tượng và từ ngữ vào bối cảnh lịch sử văn hóa và tư tưởng thời xưa để phân tích đánh giá, nhưng mặt khác khi cần thiết thì cũng bao hàm sự phê phán những nội dung lạc hậu so với nhu cầu văn hóa và tư tưởng của thời đại ngày nay.” (14) Hơn hai mươi năm sau, một trong những cộng tác viên Điển cố văn học đã theo định hướng của giáo sư Đinh Gia Khánh mà làm một cuốn Từ ngữ văn Nôm dày hơn 800 trang khổ 16×24.

Từ những năm bảy mươi của thế kỷ XX Ủy ban Khoa học xã hội có chủ trương biên soạn một bộ Lịch sử văn học Việt Nam và một bộ Lịch sử Việt Nam ở dạng tổng quát, đầy đủ, ngắn gọn và sáng sủa để khẳng định những thành tựu văn hóa Việt Nam và có thể lấy đó làm cơ sở để giới thiệu với bạn bè quốc tế. Riêng bộ Lịch sử văn học Việt Nam (Tập I) coi như do giáo sư Đinh Gia Khánh làm chủ biên. Nói coi như bởi vì “sách được biên soạn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam”. Và đúng như giáo sư viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn đã viết trong lời Tựa: “Nhưng nói thì dễ, mà làm thì khó. Khó không phải vì cách làm đó là mới, chưa ai làm. Không phải như vậy. Từ trước đến nay ở các nước, ngay cả ở ta, những bộ lịch sử văn học trước đây cũng đã biên soạn theo cách đó, nhiều hoặc ít ở mức độ này hay mức độ kia. Cái khó là ở chỗ hệ thống hóa, cô đúc nó lại, gắn văn học với toàn bộ cuộc vận động của đời sống xã hội và những diễn biến của lịch sử.

Bản dự thảo của tập I Lịch sử văn học Việt Nam này là một cốp gắng đáp ứng những nhu cầu nói trên.” (15) Ở tư cách đồng tác giả, giáo sư Đinh Gia Khánh viết 9/23 chương, trong đó chương mở đầu là Đại cương về lịch sử văn học Việt Nam. Với 10 trang sách khổ 16×24, toàn bộ tiến trình  khối lượng tác gia, tác phẩm hơn 10 thế kỷ được viết chuẩn vừa đủ để người đọc nắm bắt vấn đề.

Ngay sau những chủ trương trên thì Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam giao cho một nhóm cán bộ biên tập nhà xuất bản Khoa học xã hội tổ chức lực lượng nghiên cứu, sưu tập văn học Việt Nam làm bộ Tổng tập văn học Việt Nam – Từ thế kỷ X đến năm 1945. Hội đồng biên tập được hình thành, giáo sư Đinh Gia Khánh được cử làm chủ tịch hội đồng. Xác định mục đích làm công trình khoa học có ý nghĩa thời đại này, giáo sư Đinh Gia Khánh Viết: “dù cho có thu thập được toàn bộ tác phẩm văn học của hàng nghìn năm lịch sử – một việc làm có tính chất không tưởng – thì cũng chỉ nên bảo quản trong kho lưu trữ quốc gia, chứ không cần đem ra biên soạn thành một bộ Toàn taajo văn học Việt Nam để xất bản(…). Một bộ sách không phải là toàn tập mà cũng không nên chỉ là Tuyển tập thơ văn Việt Nam. Chúng tôi đã cố gắng để bộ sách này như thế

Bộ sách này gắn với mục đích tìm hiểu tổng quát sự phát triển của lịch sử văn học Việt Nam, cho nên sẽ cố gắng giới thiệu mọi tác giả, tác phẩm có đóng góp vào sự phát triển ấy. Bất kỳ tác gia, tác phẩm nào, dù có nhược điểm hay khuyết điểm về mặt này hoặc mặt khác, nhưng có tác dụng nhất định đối với lịch sử văn hóa, văn học dân tộc thì đều được giới thiệu. Tất nhiên là vị trí của mỗi tác gia tùy thuộc vào mức đọ tác dụng kể trên.

Vì mục đích giúp vào việc tìm hiểu một cách có hệ thống về lịch sử văn học Việt Nam, vì có tham vọng phản ánh tổng quát diện mạo của kho tàng văn học Việt Nam, cho nên bộ sách lấy tên là Tổng tập văn học Việt Nam(16) Dự tính khoa học rất hiện đại, nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên phải gần 20 năm sau bộ sách mới in được trọn vẹn 42 tập, măc dù về cơ bản tất cả các tập đã được hoàn chỉnh bản thảo tuwfb trước đó. Chỉ có trên dưới 10 tập do in thí điểm hoặc cần in gấp để phục vụ nhiệm vụ chính trị được in trước thì lần in tổng kết năm 2.000 cũng được tái bản đồng loạt với đa số những tập còn lại. Quan trọng hơn nữa là cách làm tổng tập do giáo sư Đinh Gia Khánh đề xuất đã mở đường cho các bộ Tổng tập văn học dân gian người ViệtTổng tập văn học các dân tộc ít người mới xuất bản gần đây.

Hẳn rằng cuốn Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm do nhà xuất bản Văn học in năm 1983 là đã có bản thảo từ những năm bảy mươi còn đọng lại. Dẫn hai câu thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Vinh nhục một cơ hằng đắp đổi

Ắt là từng thấy một hai phen

Rồi giáo sư Đinh Gia Khánh tiểu kết: “Âm qua thì dương lại, ra đi sẽ trở về, kết thúc lại bắt đầu, sinh ra rồi mất đi, hết vòng tất quay trở lại, vũ trụ và xã hội cứ ở trong cái chu kỳ luẩn quẩn như thế mãi. Thế là sự am hiểu Lý học chẳng đem lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm khả năng tìm hiểu chân lý trong vũ trụ và trong xã hội. Không nên và cũng không cần tìm hiểu xem Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiếp thu được cái gì của Lý học, vì bản thân thứ triết học này của Tống nho chẳng qua cũng chỉ phản ánh sự bế tắc của trí tuệ. Tống nho đã sai lầm khi họ cho rằng vạn vật biến đổi trong sự tuần hoàn. Kể ra thì một sự vận động như thế cũng có thể thấy khi chiêm nghiệm sự thay đổi các triều đại trong chế độ phong kiến ở phương Đông, một chế độ vốn bị ngưng trệ hàng mấy nghìn năm(…) Việc xây dựng mở mang đất nước Đại Việt, mà nhân dân kiên trì bất kể trở ngại gì, đã luôn luôn tiến lên phía trước, chứ không phải là biến đổi trong một cái vòng tuần hoàn để cuối cùng quay về xuất phát điểm ban đầu.” (17) Song “Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kế thừa những kinh nghiệm và thành tựu của người trước, đã sử dụng thể thơ thất ngôn pha lục ngôn rất thành thục để biểu đạt những tư tưởng độc đáo của mình, để phản ánh hiện thực sinh động của đời sống.” (18) Hồ Như Sơn cộng tác biên soạn (và cũng là cán bộ biên tập của nhà xuất bản) phần thơ Nôm, phần thơ Việt Hán do giáo sư Đinh Gia Khánh và Bùi Duy Tân dịch chú, biên soạn, đã giới thiệu dduwowjc161 bài thơ Nôm và 69 bài văn thơ Việt Hán. Nhưng trong số 69 bài thơ Việt Hán có 12 bài gồm từ 2 dế 6 bài ngắn kết thành nên cũng có thể tính là 92 bài. Tác phẩm thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm được dịch trên tạp chí Nam phong (1926) và hai tuyển Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm và Thi văn bình chú của Ngô Tất Tố, Văn đàn bảo giám của Trần Trung Viên (1932), Bạch Vân am thi văn tập của Sở Cuồng Lê Dư(1939) chưa có bản nào vượt quá 100 bài thơ Nôm và thơ văn Việt Hán thì lại càng ít. Nêu vấn đề như thế để thấy rõ sự đóng góp không nhỏ của giáo sư Đinh Gia Khánh và các cộng sự.

Có lẽ cuốn sách về văn học cổ trung đại Việt Nam cuối cùng của giáo sư Đinh Gia Khánh là Thế giới của truyện thơ Nôm in tam ngữ Việt – Hán – Pháp, cùng viết với các cộng tác viên Nguyễn Văn Nguyên và Philippe Papin, do nhà xuất bản Văn hóa phối hợp với Viện Viễn Đông bác cổ của Pháp ở Hà Nội ấn hành. Thực chất đây là việc xử lý để công bố một bản thảo chưa hoàn chỉnh curaMaurice Durand (1914 – 1966) theo yêu cầu của Trường Viễn đông bác cổ Pháp tại Hà Nội. Lời nói đầu của Philippe Papin cho biết: “ông D. Lombard – giám đốc đương nhiệm của trường- người đã trực tiếp mời giáo sư Đinh Gia Khánh tham gia vào việc biên soạn cuốn sách. Công việc phức tạp không chỉ vì phải thêm phần phụ lục ngay từ lần đầu biên soạn, mà còn vì sự lộn xộn, đan xen nhiều lần lẫn nhau giữa các ngôn ngữ trong cùng một văn bản có nguồn gốc từ những bản nháp và những ghji chép. Chính vì vậy, vừa phải nắm bắt tinh thần của văn bản, nội dung khoa học cũng như kết cấu của nó, đồng thời chúng tôi phải thể hiện được tính tự do trong cách lý giải mà trước hết trong việc tập hợp tư liệu.”Như vậy là uy tín khoa học của giáo sư Đinh Gia Khánh đã được một cơ sở giáo dục đào tạo nổi tiếng thế giới biết đến và nhờ cậy một niềm tin khoa học, cẩn tắc.

Ở bài viết này, chúng tôi mới điểm lại những đóng góp khoa học cơ bản của giáo sư Đinh Gia Khánh về lĩnh vực văn học cổ trung đại Việt Nam. Tuy nhiên những tuyển tập được trích tập trực tiếp từ các văn bản Hán Nôm hoặc chính là các bản dịch trước đây của chính tác giả được tập duyệt lại như Truyện hay nước Việt, Truyện thần thoại Trung Quốc, thoáng nhìn có vẻ sơ lược, nhưng thực tế nhu cầu thị trường tri thức đã lôi cuốn số lần xuất bản chính ngạch và ngoại ngạch nhiều lần đã nói lên giá trị thực tiễn của mỗi cuốn sách. Giáo trình Văn học Việt Nam (thế kỷ X- nửa đầu thế kỷ XIX) bản in lần thứ hai có thêm sự cộng tác Mai Cao Chương đã được tái bản lần thứ ba. Và chắc chắn cùng với bộ Tổng tập văn học Việt Nam sẽ còn mãi mãi là công trình khoa học đồ sộ, hoành tráng nhất thế kỷ XX trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Từ những phát kiến sáng tạo xuất sắc của mình, người giáo viên nhân dân, giáo sư Đinh Gia Khánh đã góp phần cơ bản vào việc đào tạo khá nhiều nhà văn, nhà báo, nhà lãh đạo tri thức cho nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thiết tưởng việc trường Đại học quốc gia Hà Nội nên có một trung tâm hay một giảng đường nào đó trong nội trị trường Khoa học xã hội và nhân văn đặt tên Đinh Gia Khánh, rộng hơn là đề nghị đặt tên một đường phố để ghi ơn chắc cũng không có điều gì phải cân nhắc.

————————

 (1) Đinh Gia Khánh, Việt – Hán từ điển, Nxb. Giáo dục, H, 1993

 (2) Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám, Nxb. Văn học, H, 1968

(3) Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên, Văn học dân gian Nxb. Giáo dục, H, 1962.

(4) (5) Thiên Nam ngữ lục Đinh Gia Khánh – Nguyễn Ngọc San, Nxb. Văn hóa 1958 – 1959

(6) (7) Việt điện u linh Trịnh Đình Rư dịch, Đinh Gia Khánh Giới thiệu, Nxb. Văn hóa, H, 1960

(8) Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X – XVII Đinh Gia Khánh chủ biên và viết lời giới thiệu. Đinh Gia Khánh – Bùi Văn Nguyên – Nguyễn Ngọc San sưu tầm, tuyển dịch và biên soạn, với sự công tác của các cụ Ngô Lập Chi – Nguyễn Văn Huyến – Nguyễn Sỹ Lâm, Nxb. Văn hóa, H, 1962

(9) (10) (11) Lâm tuyền kỳ ngộ, Đinh Gia Khánh – Nguyễn Ngọc San phiên âm, khảo dị và giới thiệu, Nxb. Van hóa, H, 1964

(12) (12) Tuyển tập Đinh Gia Khánh, Tập 2, Nxb. Giáo dục, H,

(13) Đinh Gia Khánh làm Tuyển tập thơ văn yêu nước chống phong kiến xâm lược.

(14) Điển cố văn học do ông chủ biên và cùng với tám cộng tác viên như Nguyễn Thạch Giang – Kiều Thu Hoạch – Vương Lộc – Bùi Văn Nguyên – Nguyễn Ngọc San – Đặng Đức Siêu – Chu Thiên – Hoàng Hữu Yên.

(`15) Lịch sử văn học Việt Nam (tập I) , Nxb. Khoa học xã hội, H, 1980

(16) Tổng tập văn học Việt Nam(tập I) , Nxb. Khoa học xã hội, H, 2.000

(17) (18) Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb. Văn học, H, 1983

Nguồn: Bản tác giả gửi Phê bình văn học.Copyright © 2012-2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply