GS. Đinh Gia Khánh và những nhận định về đặc trưng các thể loại tự sự dân gian


Nguyễn Thị Huế

Trước tình hình thực tế tài liệu truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam được sưu tập, xuất bản là hết sức đa dạng phong phú. Ranh giới của thể loại truyện cổ đôi khi là rất khó xác định, khó phân biệt. Vì thế công việc xác định nội dung, nghiên cứu đặc điểm phân loại truyện cổ dân gian hiện nay vẫn luôn luôn được giới nghiên cứu folklore Việt Nam đặc biệt quan tâm. Các bộ giáo trình, các chuyên luận khoa học tập trung vào việc đưa ra những kiến giải phân loại và dần đi đến một sự thống nhất khoa học.

Các công trình nghiên cứu, các giáo trình, các chuyên luận là những công trình vừa mang tính tổng kết vừa mang tính khởi đầu quan trọng cho công việc nghiên cứu văn học dân gian nói chung và truyện kể dân gian nước ta nói riêng trong nhiều thập kỷ  qua.

Về thể loại truyện kể dân gian, đặc biệt là các thể loại tự sự, giới folklore thế giới đã thu được những thành tựu nghiên cứu đáng kể trong việc dựng lại quá trình hình thành của các tác phẩm. Có thể chỉ ra các trường phái lớn của thế giới mà nhờ họ đã mở ra rầm rộ phong trào nghiên cứu truyện kể dân gian với những công trình nghiên cứu có giá trị. … Những công trình này đã ngày càng đi sâu vào thi pháp truyện kể dân gian, thể nghiệm và ứng dụng các phương pháp mới hiện đại mang tính quốc tế để nghiên cứu truyện dân gian các dân tộc trên phạm vi toàn thế giới.

Ở nước ta, quá trình nghiên cứu truyện kể dân gian gắn với quá trình nhận thức khu biệt về các thể loại truyện khác nhau. Trước đây, danh từ truyện đời xưa nhằm chỉ chung toàn bộ truyện kể dân gian. Về sau các bộ phận truyện được tách dần như: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười… Ranh giới giữa các thể loại truyện kể dân gian nhiều khi rất khó xác định. Thành tựu của những năm gần đây của giới nghiên cứu folklore Việt Nam ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng cả về lý thuyết và thực tiễn trong việc xác định và phân loại các thể loại văn  học dân gian, đặc biệt trong đó có các thể loại truyện kể dân gian.

Giáo sư Đinh Gia Khánh là một trong số những bậc tiền bối đã sớm đưa ra những ý kiến đề xuất về đặc trưng khu biệt trong quá trình nhận thức các thể loại văn học dân gian.  Trong đó chủ yếu là sự nhận diện các thể loại thuộc loại hình tự sự dân gian và về cơ bản có sự gần gũi nhau về mặt thể loại cũng như thời điểm ra đời, đặc biệt trong đó là những nhận định của ông về ba thể loại thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích.  Quan điểm nhận diện của giáo sư Đinh Gia Khánh trên cơ sở kết hợp sự tham kiến quan điểm nghiên cứu của các nhà folklore thế giới và đặc biệt là dựa trên cơ sở tư liệu văn học dân gian Việt Nam. Đó là những quan điểm khoa học hết sức mới mẻ, sâu sắc và đầy tính thuyết phục về những vấn đề cơ bản của folklore nói chung cũng như việc nghiên cứu về lịch sử, cấu trúc, đặc trưng của các thể loại văn học dân gian nói riêng. Những đóng góp lớn lao này đã đưa ông lên vị trí hàng đầu trong các nhà folklore học và cổ tích học Việt Nam.

       I.Giáo sư Đinh Gia Khánh với quan điểm nhận diện thần thoại trong tương quan với thể loại truyền cổ tích  

 Trước hết, phải kể tới quan điểm của giáo sư  Đinh Gia Khánh ở bộ giáo trình của Đại học Tổng hợp Lịch sử văn học Việt Nam – Văn học dân gian, (Nxb. ĐH và THCN, H, 1972; Văn học dân gian Việt Nam, Nxb. GD, H, 1997- 2001) do  Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn biên soạn, trong đó truyện kể dân gian về nguyên tắc đã được xếp thành “những thể loại riêng”. Trong bộ giáo trình, ở Chương ba: Các thể loại văn học dân gian Việt Nam, phần B: Các thể loại tự sự dân gian do Đinh Gia Khánh viết, ông đã nêu lên được đặc điểm của các thể loại truyện kể dân gian Việt Nam như thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, vè… Trong khi đưa ra định nghĩa về thần thoại, ông đã đưa ra khá nhiều đặc điểm của truyện cổ tích như tính phiếm chỉ, tính tưởng tượng và tính hư cấu, tính thần kỳ, tính có hậu, chức năng giáo huấn… và những đặc điểm này của thể loại truyện cổ tích được phân biệt khi so sánh với thần thoại.

Việc định nghĩa thần thoại cũng như truyện cổ tích liên quan tới vấn đề xác định mối quan hệ và sự phân biệt giữa truyện cổ tích với hai thể loại gần gũi là thần thoại và truyền thuyết. Quá trình nhận thức về các thể loại này cũng là một quá trình tìm tòi, xác định đặc trưng, xác định thời điểm ra đời và phát triển, cũng như vai trò, vị trí của chúng đối với đời sống xã hội của con người. Nhiều nhà nghiên cứu thì từ lâu thường gọi truyện kể dân gian của các dân tộc nguyên thuỷ bằng những tên gọi như thần thoại, truyện cổ tích, truyện truyền kỳ, truyền thuyết, truyền thống, sự tích… Hoặc như các nhà nghiên cứu thuộc trường phái thần thoại học thì cho rằng nguồn gốc của truyện cổ tích chính là thần thoại .

Thông qua việc so sánh, xác định về các thể loại tự sự, giáo sư Đinh Gia Khánh đã xác định khái niệm và những nét đặc trưng của thần thoại khác với  truyện cổ tích như sau:

– Thần thoại là những truyện trong đó nhân vật là thần, còn những truyện cổ tích là truyện trong đó nhân vật là người,… Nhân vật chính trong truyện cổ tích là người, lấy nguyên mẫu trong xã hội loài người.

– Thần thoại là sáng tác dân gian thời nguyên thuỷ, là đặc sản chủ yếu của xã hội thị tộc, khi chưa phân biệt giai cấp… khác với thần thoại, truyện cổ tích phần lớn xuất hiện khi xã hội thị tộc tan rã và được thay thế bằng gia đình riêng lẻ khi xã hội có phân chia giai cấp… chủ yếu phản ánh cuộc đấu tranh xã hội.

– Thần thoại hấp dẫn chúng ta bằng những hình tượng mỹ lệ và táo bạo vì nội dung chất phác nhưng kỳ vĩ của sự tích. Truyện cổ tích lôi cuốn chúng ta vào những nỗi niềm vui khổ, vào không khí đấu tranh chống cường quyền của những con người bị áp bức. Hai thể loại, hai tính cách, hai cách tác động đến ý thức thẩm mỹ.

Sự nhận diện về thần thoại cũng đã được tiếp tục ở các bộ giáo trình và các chuyên luận khác của các nhà folklore Việt Nam.

Thí dụ, trong giáo trình Văn học dân gian (Tập hai, Nxb.Giáo dục, H, 1990) của Hoàng Tiến Tựu, tác giả cũng đã viết như sau về thần thoại: “ Thần thoại là gì? Thần thoại khác với các loại truyện dân gian khác (như truyền thuyết, truyện cổ tích) ở chỗ nào? Từ đầu thế kỷ XIX đến nay các nhà nghiên cứu thần thoại trên thế giới  đã có không ít những câu trả lời, những sự kiến giải khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về nguồn gốc, chức năng và bản chất xã hội của thể loại văn học dân gian này”. Ông cũng chỉ ra rằng thần thoại Việt do không được ghi chép sớm và không có hình thức thơ ca ổn định, cho nên bị pha tạp và tha hóa nhiều (lịch sử hóa, truyền thuyết hóa, cổ tích hóa, ngụ ngôn hóa và thậm chí cả tiếu lâm hóa nữa). Vì vậy việc  sư tầm khôi phục kho tàng thần thoại Việt cũng như việc nghiên cứu, phát hiện và bảo vệ những giá trị nội dung và nghệ thuật chân chính của thần thoại Việt là một công việc hết sức khó khăn phức tạp.

Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của nhóm tác giả Lê Chí Quế (chủ biên), Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội (1990), cũng đưa ra quan niệm: “Nếu như thần thoại ra đời và tiêu vong trong thời kỳ nguyên thuỷ, trong đó nhân vật chủ yếu là các vị thần, truyền thuyết hình thành gắn với các nhân vật và sự kiện lịch sử thì truyện cổ tích tuy có mầm mống trong giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy nhưng phát triển chủ yếu trong thời kỳ phong kiến, nhân vật chính là con người ở trần thế (còn thần linh chỉ đóng vai trò phù trợ)”.

Gần đây, trong giáo trình Văn học dân gian, nhóm tác giả Phạm Thu Yến (chủ biên), Lê Trường Phát, Nguyễn Bích Hà, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dựa trên những nghiên cứu về thần thoại, đã tạm đưa ra định nghĩa về truyện cổ tích như sau: “Truyện cổ tích là những truyện kể có yếu tố hoang đường, kỳ ảo. Nó ra đời từ sớm nhưng đặc biệt nở rộ trong xã hội có sự phân hóa giàu-nghèo, xấu- tốt. Qua những số phận khác nhau của nhân vật, truyện trình bày kinh nghiệm sống, quan niệm đạo đức, lý tưởng và ước mơ của nhân dân lao động”.

Như vậy là đã có rất nhiều cách nhận diện và định nghĩa khác nhau về thể loại thần thoại của các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam qua các bộ giáo trình nói trên. Nhưng có thể nói, trong bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam  (Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn) các quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu của giáo sư Đinh Gia Khánh về văn học dân gian và truyện kể dân gian, trong đó có thể loại thần thoại đã mang tính khởi đầu quan trọng.

Với Việt Nam, chắc chắn thần thoại cũng đã ra đời khá sớm, được thoát thai từ triết lý sống tự nhiên của con người, được sáng tạo ra trong thời kỳ các thị tộc, bộ lạc đã sớm có ý thức về địa vực cư trú và ý thức về giống nòi. Đi sâu vào nội dung thần thoại chúng ta sẽ thấy sống lại không khí sinh động của một thời kỳ mà tài liệu chính sử đã không nói đến. Thần thoại gợi lên cho chúng ta sự cảm thông với dân tộc thuở nguyên vẹn, tươi trẻ của con người buổi ban đầu.

Theo quan điểm của giáo sư Đinh Gia Khánh, thì ở nước ta “Thần thoại đã nảy sinh từ cuộc sống của người nguyên thuỷ và phát triển theo yêu cầu của xã hội Lạc Việt”, có nghĩa là thần thoại có từ trước công nguyên, trước thời Bắc thuộc, và vì những lý do riêng, những thiên thần thoại đó đã không còn giữ lại hình thức lúc đầu của chúng nữa và thậm chí cốt truyện cũng đã thay đổi đi nhiều.

Đồng quan điểm như trên, các nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị, Chu Xuân Diên cũng đưa ra các ý kiến: “Nói một cách đơn giản thần thoại là một loại truyện nói về thần, mang yếu tố thiên nhiên và xuất hiện vào thời kì khuyết sử” và “Thần thoại chỉ có thể xuất hiện trong một giai đoạn thấp của sự phát triển xã hội và của sự phát triển nghệ thuật. Trong giai đoạn đó, thần thoại đã có một vai trò tích cực trong đời sống tinh thần của con người: đó là phương tiện nhận thức quan trọng của người nguyên thuỷ, cũng là một trong những nguồn hình thành những giá trị tinh thần truyền thống đầu tiên của dân tộc”.

 Như vậy, so với các bộ giáo trình khác nêu trên, trong bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam – Văn học dân gian, giáo sư Đinh Gia Khánh đã là người đi tiên phong và sớm xác định được nội hàm thần thoại bằng cách cho rằng thần thoại khác với truyện cổ tích ở những điểm sau đây:

Thời điểm ra đời và tồn tại: “Thần thoại là sáng tác dân gian thời nguyên thuỷ, là đặc sản chủ yếu của thời thị tộc, khi chưa phân chia giai cấp…  Truyện cổ tích xuất hiện phần lớn khi công xã thị tộc tan rã và được thay thế bằng gia đình riêng lẻ, khi xã hội có phân chia giai cấp”.

Yếu tố nhân vật: “Trong thần thoại, tuyệt đại đa số các nhân vật là thần”. “Nhân vật chính trong truyện cổ tích là người, lấy nguyên mẫu trong xã hội loài người”

Yếu tố dân chủ:  “Thần thoại không tránh khỏi những phần gắn với tôn giáo nguyên thuỷ nhưng trước hết, thần thoại thể hiện khí thế tự do, ý thức dân chủ của loài người khi chưa bị đè nén dưới ách thống trị của giai cấp… Trái lại, truyện cổ tích một mặt phản ánh sự đấu tranh của nhân dân chống giai cấp thống trị nhưng một mặt, vẫn chịu ảnh hưởng ý thức hệ thống trị của thời đại, tức là ý thức hệ của giai cấp thống trị”.

Yếu tố thẩm mỹ: Thần thoại hấp dẫn chúng ta bằng những hình tượng mỹ lệ và táo bạo vì nội dung chất phác nhưng kỳ vĩ của sự tích. truyện cổ tích lôi cuốn chúng ta vào những nỗi niềm vui khổ, vào không khí đấu tranh chống cường quyền của những con người bị áp bức. Hai thể loại, hai tính chất, hai cách tác động đến ý thức thẩm mỹ.

Thực chất, các kết quả của việc nghiên cứu về thần thoại đã chứng minh rằng thần thoại có những đặc điểm cơ bản là khác biệt đối với truyện cổ tích. Thần thoại ra đời từ nhu cầu nhằm giải thích, khám phá và chinh phục thế giới. Thần thoại là lời giải thích của người xưa về thế giới tự nhiên. Từ thế giới quan vạn vật hữu linh, người xưa đã tin vào lời giải thích của chính mình. Như vậy tính chất kỳ vĩ trong thần thoại trước hết chưa phải là hư cấu nghệ thuật. Do trình độ khoa học còn ấu trĩ, người xưa đã mượn tưởng tượng để hình dung hóa các sức mạnh tự nhiên, kết quả là họ đã để lại những sản phẩm có giá trị nghệ thuật và đó là thứ nghệ thuật vô thức, “nghệ thuật không tự giác” (Mác).

II. Giáo sư Đinh Gia Khánh với quan điểm nhận diện truyện cổ tích

Đối với một thể loại sáng tác dân gian vô cùng phong phú về số lượng, đa dạng phức tạp về nội dung và có một lịch sử phát triển dài lâu như truyện cổ tích, thì việc nhận thức không hề đơn giản.Trên thế giới, định nghĩa về truyện cổ tích của anh em Grimm đã được phổ biến rộng rãi ở châu Âu đầu thế kỷ XX có thể tóm tắt như sau:“Truyện cổ tích là những truyện được xây dựng nên bằng trí tưởng tưởng nghệ thuật, đặc biệt là những điều tưởng tượng về thế giới thần kỳ, những câu chuyện không có quan hệ với những điều kiện của đời sống thực và làm thoả mãn người nghe thuộc mọi tầng lớp xã hội ngay cả dù cho họ tin hay không tin vào những điều được nghe kể”.

Trong những năm đầu và giữa thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu về truyện cổ tích của các nhà folklore Nga đã xuất hiện và được viện dẫn như là những tác phẩm nghiên cứu tiêu biểu được ưa chuộng nhất trong ngành folklore thế giới và các tác giả của nó được coi là những nhà khoa học lỗi lạc, đại diện cho trường phái folklore học ngữ văn. Trong đó Hình thái học của truyện cổ tích thần kỳ (1928), Những căn rễ lịch sử của truyện cổ tích (1946) của V.Ia.Prốp, Nhân vật truyện cổ tích thần kỳ, Xuất xứ của hình tượng (1958), Truyện cổ và truyền thuyết dân gian Đungan (1977) của E.M.Mêlêtinxky… đã nghiên cứu, xem xét nhiều vấn đề của truyện cổ tích, đặc biệt là truyện cổ tích thần kỳ. Đối với V.Ia.Prốp, trong những công trình của mình ông đã đặt vấn đề nghiên cứu truyện cổ tích theo hướng xem xét chức năng nhân vật của truyện. Còn E.M.Mêlêtinxki đã nghiên cứu truyện cổ tích chủ yếu theo hướng xem xét hệ thống nhân vật của truyện, đặc biệt là nhân vật của truyện cổ tích thần kỳ như: đứa trẻ mồ côi, kẻ bất hạnh, người em út…

Truyện cổ tích được xác định là thể loại nằm trong loại hình tự sự của văn học dân gian. Nó xuất hiện tiếp sau thể loại thần thoại và truyền thuyết. Về thời điểm xuất hiện của truyện cổ tích, nhà nghiên cứu văn học dân gian Nga Davletop đã chỉ ra: “Cổ tích xuất hiện sau khi các thể loại anh hùng lịch sử đã bị triệt tiêu. Cổ tích sống từ thuở cổ xưa nhất song song với thơ ca sử thi, chúng ta đề cập tới tính liên tục trong bối cảnh phồn thịnh cực độ của các lĩnh vực này trong sáng tác dân gian, tới sự phồn thịnh đã trải qua một thời đại riêng trong quá trình phát triển của sáng tác dân gian”. Cũng tương tự như vậy là quan điểm của M.Meletinxki: “Cổ tích thần kỳ… vẫn nằm trong phạm vi “cục bộ” của các quan hệ gia tộc. Nó phản ánh quá trình chuyển tiếp từ thị tộc đến gia đình và với sự đồng cảm miêu tả những nạn nhân của quá trình đó- những người vô tội bị xua đuổi: đứa bé mồ côi, người em đần độn, cô con gái riêng của người chồng…”. Trong chuyên luận Truyện cổ tích, Davletop luôn luôn nhấn mạnh điều kiện và thời điểm ra đời của truyện cổ tích: “Tất nhiên, việc thần thoại trở thành cổ tích – chính là do tính chất tiến triển của nó – tất phải diễn ra dần dần và được bắt đầu ngay trong thời kỳ thần thoại phồn thịnh nhất, bởi vì trong quá trình phát triển của thần thoại, các yếu tố đã “lỗi thời” của nó có thể mang ý nghĩa một tài liệu tường thuật tự do không ràng buộc với nội dung tôn giáo, với sự hạn chế của tín ngưỡng. Đó là sự phát triển về số lượng và chất lượng của cổ tích.

Về thể loại truyện cổ dân gian, đặc biệt là truyện cổ tích, giới folklore thế giới đã thu được những thành tựu nghiên cứu đáng kể trong việc dựng lại quá trình hình thành của các tác phẩm. Có thể chỉ ra các trường phái lớn của thế giới mà nhờ họ đã mở ra rầm rộ phong trào nghiên cứu truyện cổ dân gian vơis những công trình nghiên cứu có giá trị. Đó là trường phái Ấn – Âu mà đại biểu là anh em nhà Grimm với bộ sách Truyện cổ Grimm (1812-1815) nổi tiếng, trường phái Ấn Độ mà đại biểu lớn nhất là Côxcanh với cuốn Những truyện cổ tích Ấn Độ và phương Tây (1922), trường phái Phần Lan với đại biểu là Các Crôn và người tiếp tục là A. Aarne với Thư mục các cốt truyện và người bổ sung cho thư mục đó là S.Thompson với Bảng mục lục tra cứu típ và môtíp (1958). Đó là những học giả Xôviết tên tuổi như V.Ia.Prốp, E.M.Mêlêtinxki, V.M.Girmunxki, A.N.Vêxêlốpxki, B.N.Putilôp, B.L.Ríptin, M.Xakhanốp… với những tác phẩm nghiên cứu đồ sộ và có tiếng vang toàn thế giới như Hình thái học truyện cổ tích (1928), Những căn rễ lịch sử của truyện cổ tích (1946), Nhân vật truyện cổ tích thần kỳ, Xuất xứ của hình tượng (1958), Thi pháp của thần thoại (1976), Truyện cổ và truyền thuyết dân gian Dungan (1977)… Những công trình này đã ngày càng đi sâu vào thi pháp truyển kể dân gian các dân tộc trên thế giới, thể nghiệm và ứng dụng các phương pháp mới hiện đại mang tính quốc tế để nghiên cứu truyện dân gian trên phạm vi rộng lớn toàn cầu.

Với tình hình thực tế tài liệu truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam được sưu tập, xuất bản đa dạng phong phú.  Do vậy công việc xác định nội dung, nghiên cứu đặc điểm, phân loại truyện cổ dân gian ngày càng có điều kiện thuận lợi và cho tới nay vẫn được giới nghiên cứu folklore Việt Nam đặc biệt quan tâm. Các bộ giáo trình, các chuyên luận khoa học tập trung vào việc đưa ra những kiến giải phân loại và dần đi đến một sự thống nhất khoa học. Trước đây cũng còn khá nhiều người chưa có sự phân biệt rõ ràng hai khái niệm truyện cổ dân gian (hoặc truyện dân gian) và truyện cổ tích. Đến nay giới nghiên cứu đã nêu lên khá nhiều đặc điểm khác nhau của truyện cổ tích như tính phiếm chỉ, tính tưởng tượng và hư cấu, tính thần kỳ, tính có hậu, chức năng giáo huấn… Và giới nghiên cứu cũng đã đưa ra được những định nghĩa về truyện cổ tích.

Trước hết, về tình hình này, nhà nghiên cứu cổ tích Nguyễn Đổng Chi trong lời mở đầu bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam đã từng nhận xét như sau: “Khi nói đến mấy tiếng “truyện cổ tích” hay “truyện đời xưa” chúng ta đều sẵn có quan niệm rằng đấy là một danh từ chung bao gồm hết thảy các loại truyện do quần chúng vô danh sáng tác và lưu truyền qua các thời đại. Cũng vì thế xác định nội dung của từng loại truyện cổ khác nhau để đi đến phân loại truyện cổ vẫn là một công việc hứng thú và luôn luôn có ý nghĩa”… Nhận xét này của Nguyễn Đổng Chi đã phản ánh đúng một thực tế nghiên cứu về truyện kể dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng ở nước ta cả một thời gian dài. Đó là khái niệm “ truyện cổ tích” thường được dùng với nghĩa rộng, chỉ chung các loại truyện dân gian, do đó không có sự phân biệt với các khái niệm “truyện đời xưa”, “truyện cổ”, “truyện dân gian”… Đồng thời, chắc chắn Nguyễn Đổng Chi đã dựa vào định nghĩa truyện cổ tích của anh em nhà Grimm được phổ biến rộng rãi ở châu Âu để nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam. Trong  phần chuyên khảo về truyện cổ tích ở bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi đã xác định 3 đặc điểm của cổ tích như sau: một là tính chất cố sự, hai là “trong sự việc được kể, đừng có yếu tố gì quá xa lạ với bản sắc dân tộc”, ba là truyện cổ tích phải thể hiện tư tưởng và tính nghệ thuật, nghĩa là “nó là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh. Nó là một thể loại đã đạt đến cấp độ cao trong nghệ thuật tự sự truyền miệng, trước khi chuyển sang giai đoạn toàn thịnh của văn xuôi tự sự trong nền văn học viết”.

Giáo sư Đinh Gia Khánh trong bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam- Văn học dân gian, đã xác định khái niệm truyện cổ tích thông qua việc so sánh thần thoại với truyện cổ tích. Tuy ông không đưa ra một công thức định nghĩa nào về truyện cổ tích, nhưng ông đã khẳng định: “Truyện cổ tích là bộ phận quan trọng nhất trong các thể loại tự sự dân gian. truyện cổ tích có  những phần thống nhất và dị biệt với những thể loại truyện dân gian khác, và trong khi phân loại thì không nên quên sự thâm nhập chuyển hóa giữa chúng với nhau. Để phân biệt truyện cổ tích với thần thoại, người ta thường xét xem nhân vật trong đó là người hay là thần và cho rằng thần thoại là những truyện trong đó nhân vật là thần, còn những truyện cổ tích là những truyện trong đó nhân vật là người.”

Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng “Ai cũng biết rằng thần thoại là sáng tác dân gian thời  nguyên thủy, là đặc sản chủ yếu của xã hội thị tộc, khi chưa phân chia giai cấp. Nhưng cũng không có lý do gì để quyết đoán rằng khi ấy người ta không sáng tác những truyện về người”. Những đặc điểm thể loại của truyện cổ tích được ông phân biệt khi so sánh truyện cổ tích với thần thoại.

Tiếp theo bộ giáo trình của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, trong  bộ giáo trình Văn học dân gian Hoàng Tiến Tựu cũng đã viết như sau về truyện cổ tích: “Ở nước ta, quá trình nghiên cứu truyện cổ tích gắn khá chặt với quá trình nhận thức, khu biệt các loại truyện dân gian khác (như thần thoại, truyền thuyết, truyện cười, truyện ngụ ngôn, giai thoại…). Trước đây (khoảng từ Cách mạng tháng Tám 1945 trở về trước), danh từ truyện cổ tích (còn được gọi là “truyện đời xưa”) thường được dùng để chỉ chung hầu như toàn bộ lĩnh vực truyện dân gian truyền miệng kể xuôi (tương tự như “truyện cổ dân gian” hay “truyện kể dân gian” sau này). Về sau, phạm vi của truyện cổ tích được thu hẹp dần, song song với quá trình nhận thức các loại truyện dân gian khác và tách chúng ra khỏi cổ tích”.

 Năm 1989, chuyên luận Truyện cổ tích  dưới mắt các nhà khoa học của Chu Xuân Diên đã là một công trình tổng kết các trào lưu nghiên cứu truyện cổ tích của các nhà folklore thế giới và Việt Nam, nhằm khẳng định và hướng tới một cách nhìn toàn diện về lịch sử nghiên cứu và phân loại thể loại này.

Theo sự nghiên cứu của Chu Xuân Diên thì: “Căn cứ vào những tài liệu ít ỏi có được hiện nay, có thể tạm đưa ra một số mốc thời gian giả định: thuật ngữ “truyện cổ tích” được dùng ở Việt Nam có lẽ muộn nhất cũng là từ thế kỷ XIX. Một cuốn sách chữ Nôm in tại Hà Nội năm 1871, có tên là Ngọc Hoa cổ tích truyện. Từ đầu thế kỷ XX trở đi, thuật ngữ này đã được dùng phổ biến. Thường thì khái niệm “truyện cổ tích” được hiểu với nghĩa rộng, chỉ các loại truyện dân gian nói chung, do đó không có sự phân biệt với các khái niệm “truyện đời xưa”, “truyện cổ”, “truyện cổ dân gian”. Song những năm gần đây, trong khoa học ngày càng có xu hướng cố gắng phân biệt “truyện cổ tích” với truyện dân gian nói chung và với các loại truyện dân gian khác nhau nói riêng, như thần thoại, truyền thuyết”.

Như vậy,việc định nghĩa truyện cổ tích liên quan tới vấn đề xác định mối quan hệ và sự phân biệt giữa truyện cổ tích với hai thể loại gần gũi là thần thoại và truyền thuyết, mà xu hướng khẳng định cổ tích gần gũi với thần thoại, được thoát thai từ thần thoại là hướng nghiên cứu mà giáo sư Đinh Gia Khánh là người đã đề cập và được các nhà folklore Việt Nam hưởng ứng, quan tâm.

Thực chất, các kết quả của việc nghiên cứu về thần thoại đã chứng minh rằng thần thoại có những đặc điểm cơ bản là khác biệt đối với truyện cổ tích. Thần thoại ra đời từ nhu cầu nhằm giải thích, khám phá và chinh phục thế giới. Thần thoại là lời giải thích của người xưa về thế giới tự nhiên. Từ thế giới quan vạn vật hữu linh, người xưa đã tin vào lời giải thích của chính mình. Như vậy tính chất kỳ vĩ trong thần thoại trước hết chưa phải là hư cấu nghệ thuật. Do trình độ khoa học còn ấu trĩ, người xưa đã mượn tưởng tượng để hình dung hóa các sức mạnh tự nhiên, kết quả là họ đã để lại những sản phẩm có giá trị nghệ thuật và đó là thứ nghệ thuật vô thức, “nghệ thuật không tự giác” (Mác).

Cổ tích ra đời khi xã hội đã phát triển, đã hình thành quan hệ giai cấp con người phải đối mặt với chính mình, nhất là đối với những thói hư tật xấu của con người mang tính giai cấp. Cuộc đấu tranh chống lại cái xấu ngày càng trở nên gay gắt hơn và không ra đời trực tiếp được phản ánh trong cổ tích. Cổ tích đã ra đời với chức năng chống lại cái xấu, bênh vực cái tốt, giáo dục con người hướng thiện. Người lao động xưa đã sử dụng cổ tích như một công cụ đấu tranh. Trong sáng tác của mình, họ đã sử dụng hư cấu, nhất là yếu tố kỳ diệu để tạo ra một thế giới cổ tích, khiến cho cổ tích trở thành những sản phẩm nghệ thuật hấp dẫn.

Khác với thần thoại, người kể cổ tích không tin vào điều được kể ra và cũng không nhằm tác động vào lòng tin của người nghe. Tuy nhiên người kể chuyện cổ tích đã khéo léo tạo ra một thế giới không có trong thực tại nhưng lại tương đồng với thế giới thực tại, nhằm tạo ra một trục liên tưởng cho người nghe để họ cảm xúc trước những điều xảy ra trong cổ tích làm cho họ yêu cái tốt, ghét cái xấu và ra sức đấu tranh chống lại cái xấu. Cổ tích thật sự là những sáng tạo nghệ thuật và đó là nghệ thuật có chủ tâm.

 Trước đó, năm 1968 trong  chuyên luận Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám (Nxb Khoa học xã hội, H), giáo sư Đinh Gia Khánh cũng đã thể hiện quan điểm nhận diện truyện cổ tích của mình. Công trình xuất hiện đã có tiếng vang lớn và những quan điểm của ông về những vấn đề của truyện cổ tích trong chuyên luận này nhiều thập kỷ qua đã trở thành phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian cho các nhà folklore Việt Nam. Trong công trình này với khối tư liệu phong phú về những dị bản của kiểu truyện Tấm Cám ở trong nước và trên thế giới, giáo sư Đinh Gia Khánh đã đề cập đến những vấn đề đặc trưng cơ bản của thể loại truyện cổ tích: “Đó là tính dân tộc và tính quốc tế, tính địa phương và tính toàn dân của truyện cổ tích, là vấn đề hình thái biểu hiện của nội dung đấu tranh xã hội trong thể loại này, là vấn đề phương pháp nghệ thuật trong truyện cổ tích, là vấn đề tâm lý của nhân dân khi sáng tác và lưu truyền tác phẩm văn học dân gian”.

Đồng thời, trong bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, khi đưa ra định nghĩa về truyện cổ tích, giáo sư Đinh Gia Khánh đã nêu lên khá nhiều đặc điểm quan trọng của truyện cổ tích cũng như những dấu hiệu nhận biết về thể loại này khi ông chỉ ra những vấn đề sau:

Về thời điểm ra đời của truyện cổ tích, giáo sư Đinh Gia Khánh đã nhận định:  “ Khác hẳn với thần thoại, truyện cổ tích xuất hiện phần lớn khi công xã thị tộc tan rã và được thay thế bằng gia đình riêng lẻ, khi xã hội có phân chia giai cấp. Truyện cổ tích chủ yếu phản ánh cuộc đấu tranh xã hội, nội dung chính của lịch sử khi ấy. Truyện cổ tích có thể đặt ra  những vấn đề liên quan đến cuộc đấu tranh giữa người với thiên nhiên, nhưng trước hết và chủ yếu nó phản ánh  những mâu thuẫn giai cấp. Những truyện như Thạch Sanh, Tấm Cám, Phượng hoàng và cây khế, Người họ Liêu và Diêm Vương, Cái cân thủy ngân… là những thí dụ tiêu biểu”.

Nội dung phản ánh của truyện cổ tích chủ yếu là cuộc đấu tranh xã hội, đấu tranh chống cường quyền của những con người bị áp bức. Nếu như nhiệm vụ và mục đích chủ yếu của thần thoại là giải thích thiên nhiên vũ trụ, và giải thíc sự kiến lập của vũ trụ với các quy luật biến hóa của nó thì truyện cổ tích chủ yếu phản ánh các quan hệ của con người, miêu tả cuộc sống gia đình với những mâu thuẫn, xung đột trong phạm vi gia đình nhưng là để nhằm phản ánh xã hội thời kỳ đầu phân chia giai cấp. Do vậy truyện cổ tích không giống thần thoại ở chỗ nó không phải là những truyện mang tính toàn nhân loại mà là những truyện của từng số phận cá nhân, truyện của phạm vi gia đình. Mở đầu nhiều truyện cổ thích thường theo công thức “ Ngày xửa, ngày xưa…” hay “ Ngày xưa có một gia đình …” hay “Ngày xưa ở một làng nọ, có một người nông dân… ”

Nghệ thuật chủ yếu của thần thoại là khi miêu tả thế giới hoặc mô hình thế giới đều dùng phương pháp biểu tượng, tượng trưng, nhưng nghệ thuật của truyện cổ tích là miêu tả hiện thực với các tình tiết kết cấu cụ thể cộng với việc sử dụng những yếu tố thần kỳ, mặc dù truyện cổ tích được thoát thai và sản sinh trên nền tảng thần thoại cho nên trong truyện cổ tích có không ít các motif được vay mượn từ thần thoại.

Về nhân vật truyện cổ tích, ông chỉ ra rằng: “Nhân vật chính trong truyện cổ tích là người, lấy nguyên mẫu trong xã hội loài người. Nếu có một số nhân vật là thần linh hoặc được xây dựng trên cơ sở nhân cách hóa các hiện tượng thiên nhiên thì đó cũng chỉ là nhân vật phụ”.

Về phân loại truyện cổ tích, giáo sư Đinh Gia Khánh cũng cho thấy  những bất cập, lúng túng của những cách phân loại của các học giả, các nhà nghiên cứu trước nay. Ông chỉ rõ “Ở nước ta từ trước đến nay đã có nhiều cách phân loại truyện cổ tích  ngoài cách phân loại của Nguyễn Văn Ngọc (thực ra Nguyễn Văn Ngọc đã phân loại truyện dân gian nói chung chứ không phải phân loại truyện cổ tích). Còn có những cách phân loại của Nghiêm Toản, Thanh Lãng … Đại khái những tác gia này chia truyện cổ tích ra rất nhiều loại: truyện mê tín hoang đường, truyện ma quỷ, truyện thần tiên, truyện luân lý, v.v … cứ theo kiểu phân loại này thì không bao giờ có thể kể ra cho hết các loại truyện cổ tích. Phân loại như thế sẽ đưa đến chỗ bị động: truyện cổ tích có rất nhiều chủ đề nếu tìm thấy thêm một truyện có chủ đề khác với chủ đề đã biết thì tất phải đặt thêm một loại nữa … Nguyễn Đổng Chi trong phần nghiên cứu về truyện cổ tích sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Tập 1 (In lần thứ tư. Nxb Khoa học xã hội, H, 1972) đưa ra cách phân loại tương đối hợp lí.  Ông phân biệt truyện cổ tích thế sự, truyện cổ tích hoang đường và truyện cổ tích lịch sử. Theo chúng tôi, không cần phân ra một loại truyện cổ tích hoang đường làm gì. Truyện cổ tích lịch sử và truyện cổ tích thế sự cũng có yếu tố hoang đường (chính Nguyễn Đổng Chi cũng đã nhận thấy như vậy. Vả lại không có truyện cổ tích hoang đường nào lại không phản ánh lịch sử hoặc phản ánh đời sống thế tục”.

Giáo sư Đinh Gia Khánh đã đưa ra quan điểm phân loại truyện cổ tích: “Xét đến cùng truyện cổ tích nên chia làm hai loại chính: truyện cổ tích lịch sửtruyện cổ tích thế sự. Dầu nội dung cuộc sống trong truyện cổ tích phức tạp đến thế nào đi nữa thì cũng có hai loại sự kiện. Một loạt sự kiện có liên quan đến vận mệnh dân tộc, có ảnh hưởng lớn đến toàn xã hội hoặc ít ra có ảnh hưởng đến một vùng rộng lớn trong đất nước: đó là những sự kiện có tính chất lịch sử. Một loại sự kiện khác tuy không có tác dụng to lớn như loại trên, nhưng phổ biến hơn, đa dạng hơn đó là những sự kiện xảy ra trong đời sống bình thường của nhân dân. Những truyện về những sự kiện đó là truyện cổ tích thế sự. Truyện Nang Quát phu nhân, truyện Quận He … thuộc loại truyện cổ tích lịch sử. Truyện Tấm Cám, truyện Cây tre trăm đốt , truyện Cái cân thủy ngân, v.v… thuộc loại truyện cổ tích thế sự”.

III. Giáo sư Đinh Gia Khánh với quan điểm nhận diện truyện cổ tích lịch sử hay thể loại truyền thuyết

Việc xác định mối quan hệ và sự khác biệt giữa truyện cổ tích và truyền thuyết cũng là vấn đề không đơn giản. Theo quan điểm của Đinh Gia Khánh trong Lịch sử văn học- văn học dân gian Việt Nam, thì ông không công nhận truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian. Trong Từ điển văn học, Chu Xuân Diên đã đưa ra định nghĩa về truyền thuyết “Đặc điểm chủ yếu phân biệt truyền thuyết với các thể loại thần thoại và truyện cổ tích là trong truyền thuyết bao giờ cũng giữ được những nét chính yếu của những sự kiện và con người có thực, làm thành cái lõi cốt hiện thực lịch sử- cụ thể cho trí tưởng tượng nghệ thuật của nhân dân”. Như vậy đặc điểm chủ yếu để phân biệt truyền thuyết với cổ tích và thần thoại là yếu tố cốt lõi lịch sử. Song lịch sử trong truyền thuyết không đơn giản là sự thật lịch sử đích thực mà nói đúng ra là lịch sử hư cấu, là lịch sử trong trí tưởng tượng hư ảo được người kể xây dựng tuân theo quy luật hư cấu của nghệ thuật dân gian. Mục đích của truyện cổ tích là để giải trí, còn mục đích của truyền thuyết là để tạo niềm tin. Trong giới nghiên cứu folklore Việt Nam, có thời kỳ đã từng có sự tranh luận về việc tồn tại hay không thể loại truyền thuyết và có xu hướng xếp truyền thuyết vào thể loại cổ tích và coi đó là cổ tích lịch sử. Hiện nay đã có sự thống nhất trong việc xác định thể loại truyền thuyết và phân biệt rõ ranh giới giữa truyền thuyết và cổ tích với tư cách là hai thể loại tự sự trong văn học dân gian, với những đặc trưng, tính chất riêng biệt mặc dù giữa chúng vẫn có sự xâm nhập chuyển hóa lẫn nhau rất phức tạp.

Về quan điểm phân loại, giáo sư Đinh Gia Khánh đã quan niệm không có thể loại truyền thuyết và coi truyền thuyết như là một loại “truyện cổ tích lịch sử”. Đó là sự thể hiện một quan niệm nhất quán của ông về truyện cổ tích trong mối quan hệ với các thể loại khác của truyện kể dân gian và ông giữ quan điểm này trong công trình Lịch sử văn học Việt Nam – Văn học dân gian (ở thời điểm xuất bản năm 1973) và Văn học dân gian Việt Nam (ở thời điểm xuất bản năm 1997 và những lần tái bản sau đó) cũng như ở một số công trình, bài viết khác của mình.

Cho đến nay trong giới nghiên cứu văn học dân gian đã tương đối thống nhất  phân loại truyện cổ tích ra thành ba tiểu loại là: truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt.

Cách phân chia này phù hợp với tiến trình lịch sử của truyện cổ tích các dân tộc. Ngay từ đầu có thể truyện cổ tích đã có hai dòng truyện phát triển song song: truyện kể về loài vật và truyện kể về loài người. Càng về sau dòng truyện kể về vật càng hẹp lại, truyện kể về người càng ngày càng phong phú, song song với sự phát triển mọi mặt của xã hội loài người. Truyện cổ tích thần kỳ hình thành và phát triển trong thời kỳ đầu của truyện cổ tích, còn truyện cổ tích sinh hoạt chủ yếu phát triển ở thời kỳ sau.

 Những nhận định của giáo sư Đinh Gia Khánh trong bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, thể hiện quan điểm phân loại truyện cổ tích mà ông đã công bố trên các tạp chí chuyên ngành từ những năm 60 của thế kỷ XX. Đáng chú ý là bài “Qua việc nghiên cứu các danh từ riêng trong một số truyện cổ tích”, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3/1962. Ông viết “… Nhìn chung một số truyện được sưu tầm từ trước tới nay, ta thấy rằng kho tàng truyện cổ tích đại khái gồm hai loại chính: truyện cổ tích lịch sử và truyện cổ tích thế sự … Việc phân biệt hai loại truyện này kể ra cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, vì thường có sự thâm nhập chuyển hóa giữa hai loại”.

Chúng ta có thể thấy giáo sư Đinh Gia Khánh đã thể hiện rõ việc nhận diện về hai tiểu loại của truyện cổ tích. Đối với truyện cổ tích lịch sử, ông nhấn mạnh tính liên quan, gắn bó với những sự kiện có thực trong đời sống “Truyện cổ tích lịch sử bao giờ cũng bắt nguồn từ những sự kiện có thực trong đời sống của nhân dân. thường thì cốt truyện đầu tiên bắt ngồn từ một sự việc xảy ra ở một địa phương nhất định có liên quan đến những nhân vật có thật. Sự việc đó hấp dẫn sự chú ý của nhân dân vì những lý do nào đó, rồi vì thế mà được lưu truyền từ nơi này qua nơi khác và có khi được lưu truyền từ đời này sang đời khác”. Đồng thời ông chỉ rõ “Truyện cổ tích lịch sử có hai loại: một loại trong đó cốt truyện bám sát những sự kiện lịch sử có thật, một loại trong đó cốt truyện đã xa rời những sự kiện lịch sử có thật, tuy vẫn đề cập đến các sự kiện đó. Trong loại truyện cổ tích lịch sử thứ nhất, nhân vật, không gian, thời gian được xác định một cách rõ rệt. Những truyện như Thánh Lồi, Ruộng thác đao, Đầm một đêm, Hồ Gươm, Quận He, Chàng Lía, Chúa Chổm, v.v… thuộc vào loại này. Trong truyện Ruộng thác đao, nhân vật chính là Lê Phụng Hiểu, Lý Thái Tông, Võ Đức vương, Đông Chính Vương …, các địa điểm chính là Băng Sơn, Đàm Xá, Cổ Bi, kinh đô Thăng Long, thời gian là đời nhà Lý; trong truyện Quận He, nhân vật chính là Nguyễn Hữu Cầu, Phạm Đình Trọng, Đỗ Thế Giai, Chúa Trịnh, địa điểm là làng Đồng Lũi, huyện Yên Phong, sông Bạc Đằng, biển Đồ Sơn, thời gian là đời Lê, Trịnh. Trong các truyện này, các tình tiết gắn với những sự việc và những nhân vật lịch sử có thật”. Và ông đã đưa ra những diễn giải về mối  liên quan giữa truyện cổ tích lịch sử và những yếu tố vật chất như đền, đình, nơi thờ tự, không gian, thời gian: “ Nhân dân, trước hết là nhân dân ở các vùng lân cận địa điểm mà nhân vật lịch sử lúc sinh thời đã ở hoặc ghé qua, có thể chỉ rõ cái di tích có liên quan đến nhân vật, đến sự kiện kể trong truyện. Ký ức nhân dân được di tích hỗ trợ, nhất là khi bên cạnh các di tích lại còn có cả đền thờ trong đó có ngọc phả ghi chép tiểu sử của nhân vật, không gian và thời gian. Nhân dân kể truyện cổ tích lịch sử thường muốn tỏ rằng sự việc xảy ra đúng như nội dung của truyện”.

 Nhìn lại những diễn giải của giáo sư Đinh Gia Khánh về hai tiểu loại truyện cổ tích là cổ tích lịch sửcổ tích thế sự, có thể nhận thấy rằng mặc dù ông không công nhận có thể loại truyền thuyết nhưng những gì ông lấy làm căn cứ để định ra nét đặc trưng cho tiểu loại truyện cổ tích lịch sử cho thấy đấy cũng chính là những đặc điểm chung nhất tiêu biểu cho thể loại truyền thuyết mà sau này các nhà folklore Việt Nam đã chỉ ra. Cụ thể như truyền thuyết thường lấy nhân vật và sự kiện lịch sử để làm đối tượng miêu tả, vì vậy truyền thuyết có đặc trưng mang tính tưởng niệm và ngợi ca. Truyển thuyết kể những câu chuyện nảy sinh ở một địa phương cụ thể, truyện của một nhân vật liên quan đến một sự kiện lịch sử nào đó. Do vậy truyền thuyết có tính địa phương rõ ràng nổi bật, nhân vật và địa phương được kể đến trong truyền thuyết đều mang đậm tính riêng (đặc biệt là truyền thuyết địa danh và truyền thuyết về nhân vật lịch sử, văn hóa…). Và phạm vi lưu truyền của truyền thuyết thường không rộng lớn mà thường chỉ được lưu truyền trong những vùng miền cụ thể. Truyền thuyết cũng không giống với truyện cổ tích, nhân vật của truyện cổ tích mang tính phiếm chỉ, địa điểm miêu tả trong truyện cổ tích cũng không phải là những địa danh cố định, rõ ràng. Truyền thuyết mặc dù có chứa đựng những yếu tố thần kỳ, nhưng sự việc được nói tới thường là những sự việc, hiện tượng phát sinh ở địa phương có thật, trong thời đại lịch sử, nhân vật thường cũng là nhân vật có thật.

Những đặc điểm đặc trưng nói trên của thể loại truyền thuyết được các nhà folklore Việt Nam đã chỉ ra hoàn toàn trùng khít với những đặc điểm của truyện cổ tích lịch sử qua nhận định của Đinh Gia Khánh. Ông cũng nêu rõ sự gắn bó giữa yếu tố sự thực lịch sử với trí tưởng tượng và sự sáng tạo bay bổng của dân gian trong những câu chuyện cổ tích lịch sử  như : “ Phải thấy rằng tuy các truyện thuộc loại này có nguồn gốc từ các sự kiện lịch sử, nhưng nội dung về căn bản đã được nhân dân sáng tạo nên. Ở các truyện này khi nhân dân nhắc đến tên một nhân vật có thực trong lịch sử, tên một vài địa điểm có thực trong nước ta chẳng qua là vì muốn tin rằng, muốn tỏ rằng truyện hàn toàn có thực. Nhưng xét kỹ thì thấy nhân vật hoặc sự kiện lịch sử được nêu lên trong truyện chỉ là một cái cớ hay nói cho đúng hơn, một chỗ dựa để cho trí tưởng tượng của nhân dân tự do phát huy và xây dựng nên những tình tiết ly kỳ”.

Truyền thuyết đến nay đã được xác định là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian, thời điểm xuất hiện của nó được coi là sau thần thoại và trước truyện cổ tích và đã được các nhà nghiên cứu đưa ra các đặc trưng thể loại của nó. Truyền thuyết cũng thường được các nhà nghiên cứu phân chia thành những tiểu loại căn cứ theo các chủ đề phản ánh. Thí dụ truyền thuyết có nhóm truyện liên quan đến lịch sử, đến địa danh, đến tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, đến các nhân vật văn hóa, sáng tạo ngành nghề… Do vậy, nên thường được gọi là truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết địa danh, truyền thuyết giải thích phong tục, truyền thuyết về anh hùng văn hóa, sáng tạo ngành nghề, v.v…

Hàng chục năm qua công việc nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn truyện kể dân gian Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan. Chúng ta trân trọng những thành tựu của đội ngũ các nhà folklore Việt Nam với chặng đường nghiên cứu dài lâu đó. Những nhận định, những công trình nghiên cứu, phân loại, đánh giá, tổng kết về thể loại truyện kể dân gian trong đó có thần thoại, truyện cổ tích và các thể loại khác như truyện ngụ ngôn, truyện cười, vè… của giáo sư Đinh Gia Khánh nói trên là những cơ sở khoa học hết sức quý báu đối với chúng ta lớp người kế cận, trong việc tiếp tục tìm hiểu các thể loại này trong tương quan với các thể loại khác của nền văn học dân gian phong phú Việt Nam. Với đội ngũ đông đảo những người làm công tác nghiên cứu folklore hiện nay, chắc chắn việc nghiên cứu một cách toàn diện mọi thể loại văn học dân gian truyền thống, trong đó có truyện kể dân gian sẽ ngày càng rộng mở và đạt được những thành tựu khoa học to lớn hơn./.

Hà Nội, ngày 6 tháng 10 năm 2013

Nguồn:  Copyright © 2012-2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply