Hans Robert Jauss và lý thuyết tiếp nhận


Robert G. Holub

Trong một bài luận năm 1969  với tựa đề “Sự thay đổi trong loại hình của văn học cổ điển”, Hans Robert Jauss đã phác thảo về lịch sử của các phương pháp nghiên cứu văn học và công nhận sự khởi đầu của một “cuộc cách mạng” trong nghiên cứu văn học đương đại. Ông thực hiện một cuộc điều tra văn học theo các thủ tục giống như các ngành khoa học tự nhiên khác. Qua đó khẳng định sự phát triển của văn học được đặc trưng bởi chất lượng, sự gián đoạn cũng như điểm xuất phát ban đầu. Khi một thể loại không còn đáp ứng được các yêu cầu, nó sẽ bị loại bỏ. Một thể loại mới ra đời phù hợp hơn và độc lập hơn so với kiểu mẫu cũ, thay thế phương thức lỗi thời, cho đến khi nó không còn khả năng cắt nghĩa văn học đương thời. Mỗi loại hình phải tạo ra được kỹ năng giải thích, đối tượng cần được giải thích và được các nhà phê bình chấp nhận.

Để bảo vệ luận án của mình, Jauss trình bày một đề án mà trong đó ông bàn về trình tự của ba kiểu mẫu trước đây và những gì ông thấy là mô hình mới nổi lên trong các phương pháp nghiên cứu văn học.

Sau giai đoạn “tiền khoa học” của văn học cổ điển, Jauss đã chú ý sự nổi lên của một thể loại mới “cổ điển-nhân văn”. Tiêu chuẩn này cho phép các nhà nghiên cứu văn học liên kết một quy trình mà theo đó các từ ngữ được đặt trong mối tương quan với chuẩn mực của người xưa. Những từ bắt chước thành công các kinh điển được chấp nhận và đánh giá cao. Ngược lại, nếu phá vỡ chuẩn mực sẽ bị loại bỏ và bị đánh giá thấp.

Trong bối cảnh lịch sử của việc thành lập các tiểu quốc và các cuộc đấu tranh cho sự thống nhất quốc gia ở Châu Âu với những thay đổi to lớn về chính trị, tư tưởng, và cả lịch sử văn học, đã có những hành động tập trung vào nghiên cứu nguồn gốc, cố gắng tái tạo lại vẻ nguyên thủy của văn bản tiêu chuẩn thời trung đại, đồng thời chỉnh sửa các văn bản truyền thống quan trọng. Loại hình thứ hai, “Chủ nghĩa thực chứng” được chấp nhận. Đây là loại hình sử dụng các phương pháp cơ học để kiểm tra, theo dõi các hiện tượng văn chương trong một thế giới quan hữu hạn.

Thể loại thứ ba được Jauss gọi là “mỹ học – hình thức”. Cùng với nó là các phương pháp khác như  nghiên cứu phong cách của Leo Spitzer và các Geistesgeschichte (trạng thái nguyên) của chủ nghĩa hình thức Nga và phê bình mới. Nó kết nối những gì mà các nhà phê bình và các trường phái khác sử dụng trong việc giải thích lịch sử và các quan hệ nhân quả ảnh hưởng đến tác phẩm. Việc diễn tả của ngôn ngữ học hình tượng, thành phần và cấu trúc của học thuyết này cùng danh sách những công cụ diễn dịch đã thực hiện được công việc khám phá, giải thích và cụ thể hóa. Đồng thời nó cũng mở rộng phạm vi nghiên cứu tác phẩm văn học với một số lượng đồ sộ.

Nhưng kể từ cuối Thế chiến II, Jauss đã phát hiện ra được sự cạn kiệt của loại hình này. Việc phục hồi chức năng của thông diễn học triết học, các chỉ trích phê bình ngày càng liên quan đến xã hội nhiều hơn. Sự xuất hiện của các giải pháp thay thế như phê bình của Northrop Frye hoặc thuyết cấu trúc, đã cho ông thấy các triệu chứng của một cuộc khủng hoảng trong mô hình thứ ba. Tuy nhiên hiện tại vẫn chưa đủ các yếu tố để cấu tạo nên một loại hình thay thế.

Học thuyết của Jauss có đủ khả năng để xác lập một mô hình mới. Giá trị của nó đã được thử thách trong việc tích hợp các thể loại và quá trình phát triển bởi cách sử dụng ngôn ngữ học vào phân tích các tác phẩm văn học. Nhưng Jauss đã không phác thảo ra các yêu cầu mà nó sẽ phải thực hiện như: sự giải thích, sự dàn xếp và sự biểu hiện trong văn học nghệ thuật, những thứ đặc trưng cho sự hoàn tất của một thể loại, là khả năng giành quyền giải thích, tiếp cận văn học cổ điển bằng một phương pháp mới.

Việc tiếp nhận quan điểm của Jauss, giúp các học giả có thể đối mặt với các mâu thuẫn, “đối lập”, tạo nên sự tin tưởng trong quá trình nghiên cứu. Có nhiều khái niệm bị hạn chế trong văn học cổ điển. Nếu chúng ta quan tâm đến việc nới rộng thời gian cho phạm vi của văn học, ta sẽ lôi kéo thêm được nhiều loại hình vào trong một cuộc tranh cãi phức tạp. Tuy nhiên người ta vẫn công nhận những đóng góp của từng loại hình. Trong nghiên cứu về văn hóa, phải nói đến các cộng đồng một cách độc lập tương đối, mỗi cộng đồng có một mẫu hình riêng được phân biệt rõ ràng.

Jauss đã cố gắng để hiểu về lý thuyết tiếp nhận. Mặc dù các bài luận không thể cung cấp một giải thích thỏa đáng về hiện tượng này, nhưng nó vẫn tạo ra một số hướng đi mới cho tiếp nhận trong những năm khởi đầu. Không ai nghi ngờ về ảnh hưởng to lớn của lý thuyết tiếp nhận trong việc giải thích văn học và nghệ thuật. “Sự cạn kiệt” của cácphương pháp cũ và “sự bất mãn” nói chung đã đóng một vai trò quan trọng cho việc chấp nhận học thuyết này, nhưngnó cũng tăng thêm những nghi ngờ cần phải được giải đáp. Nguồn gốc của lý thuyết tiếp nhận là sự mới lạ được tìm thấy trong bối cảnh lịch sử xã hội đầy biến động, cũng như trong tri thức và đời sống hàn lâm học thuật trong suốt Thế chiến thứ II.

Lý thuyết tiếp nhận được coi là giải pháp cho cuộc khủng hoảng phương pháp luận văn học. Trong hoàn cảnh thực tiễn xem xét lại quá khứ và tìm kiếm một con đường mới, cùng với bầu không khí bất ổn về phương pháp và sự nổi loạn, lý thuyết tiếp nhận không chỉ có một sức hút mạnh mẽ mà còn đáp ứng kịp thời yêu cầu của thời đại. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Jauss là phải hòa giải và chỉnh sửa kinh điển cũ. Sự “rớt đài” của văn học cổ điển và sự lên ngôi của thể loại mới cùng với thành công của những người khổng lồ thế kỷ XX, đặc biệt là Franz Kafka, Rainer Matia Rilke, Thomas Mann… và các nhà văn vô sản xã hội chủ nghĩa đã tạo ra những mâu thuẫn gay gắt.

 

Lý thuyết tiếp nhận cho rằng có hai cách để giải quyết tình trạng khó xử này. Một mặt lý thuyết tiếp nhận đại diện cho một phương pháp mới để xem xét, đánh giá lại các kinh điển cũ, tránh sự tấn công thô bạo của các học thuyết mới. Mặt khác, cho phép các phương tiện thông tin đại chúng và văn học nhìn nhận lại các công trình đã bị chuẩn mực cổ điển loại trừ. Đồng thời quan tâm đến các cực người đọc, sự tương đương giữa các nền văn học và sự thay đổi trong quan điểm nghệ thuật. Người ta ngày càng chú ý nhiều hơn tới phản ứng của người tiếp nhận, thu hút người đọc bằng mọi cách, cho phép họ tự do tiếp cận các văn bản văn học.

Lý thuyết tiếp nhận đã được hình thành và phát triển trong một tình huống xung đột kép, giữa đời sống văn học và thực tiễn chính trị xã hội Đức. Do đó diễn ra một cuộc đối thoại phức tạp và sự tranh luận quyết liệt với các phương pháp khác và phương pháp truyền thống. Nó vừa chống đỡ với các xu hướng cạnh tranh bằng cách tuyên bố họ đã lỗi thời hoặc thiếu sót, vừa phải thừa nhận các cuộc nổi loạn mới và lạ trong giai đoạn đầu của chính nó.

Trong bối cảnh cuối thập niên 1960, lý thuyết tiếp nhận xuất hiện như một bản tuyên ngôn học thuật. Sử dụng ngôn từ logic, tiếp nhận thuyết phục người ta bằng phương pháp suy loại thay vì tranh luận. Nhờ áp dụng lý thuyết phổ biến của Kuhn trong sự thay đổi của học thuật, lý thuyết tiếp nhận đã tự thiết lập một “mảnh đất nhỏ” mà trên đó kết quả của sự gieo trồng là các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển về sau. Bởi tồn tại không ít những đối lập, cạnh tranh, nên nó phải nỗ lực để thuyết phục người đọc rằng họ hoàn toàn tự do cho đến khi có kết luận chính xác cuối cùng.

Bằng cách trình bày lý thuyết tiếp nhận như là một sự phân giải cho cuộc khủng hoảng phê bình và “cuộc cách mạng khoa học”, loại hình thứ tư này đã cho thấy sự trở lại thường xuyên và một lật đổ hiện tại có tính chất giáo điều. Như rất nhiều học thuyết tại thời điểm đó, nó có thể bị lãng quên từ lâu nếu phương pháp mà nó đưa ra không hữu dụng trong việc giải đáp các vấn đề mà văn học Đức đòi hỏi. Mặc dù vẫn còn những mâu thuẫn và nhầm lẫn, “loại hình” của Jauss đã là một thành công không nhỏ, bài luận đã được hợp pháp hóa, các lập luận có thể chấp nhận được.

 

Vũ Thị Huế trích dịch từ “Reception theory, A critical introduction”

Nguồn: Văn nghệ số 44 ra ngày 29, 30 – 10- 201

Leave a Reply