Huyền thoại*


 Daniel-Henri Pageaux

Khác với chủ đề hay hình tượng, huyền thoại là một lĩnh vực khá mới mẻ trong văn học so sánh. Từ nửa thế kỷ nay, khi nói về Don Juan người ta thích nghĩ đó là “truyền thuyết” hơn là “huyền thoại”. Văn học so sánh, như vậy, cũng chỉ đi theo con đường mà những nhà folklore học đã vạch ra: tập trung nghiên cứu truyện cổ tích, truyền thuyết và huyền thoại. Người ta thấy Lịch sử truyền thuyết, cuốn sách nhỏ của tủ sách“Que sais –je?” số 670, đã nâng Faust và Don Juan thành hai trụ cột chính của “huyền thoại học so sánh”. Sự sáp nhập ấy của hai thuật ngữ có lẽ làm ta hiểu hơn ý kiến của Pierre Brunel: “có một sự mập mờ về thuật ngữ  mà chắc chắn người ta không bao giờ xoá hết” (lời tựa cuốn Từ điển huyền thoại , Nxb.Rocher,1988)

 Thật đáng chú ý khi trong bài báo “Chủ đề học”của mình, Pichois và Rousseau cho rằng huyền thoại là một  điều “tưởng tượng” nào đó (truyện thần kỳ dân gian, truyện siêu tưởng và thần thoại) đối lập với một bộ phận thứ hai là cái“ thực tại”, được tạo nên bởi những “mẫu hình tâm lý và xã hội”, những “nhân vật văn học”, những “đồ vật và hoàn cảnh”. Có sao đâu, “nhà so sánh đang ở trong ngôi nhà của mình” và họ cố gắng giữ để không mỉa mai về ngôi nhà với những bức tường dường như di động của mình. Tuy nhiên hãy lưu ý là người ta có thể gọi là “chủ đề huyền thoại”. Raymond Trousson, tác giả của hợp đề này, từ 1965 đến 1981  luôn dao động giữa chủ đề  và huyền thoại để rồi cuối cùng phân biệt chúng. Còn Yves Chevrel thì thích nói về Oedipe, về Don Juan, về Prométhée hay về Werther, như là những “hình thái thần thoại”. Ông khẳng định rằng huyền thoại giao thoa với chủ đề, đề tài, môtíp, hình ảnh, biểu tượng, mẫu hình. Ông cũng xác định là văn học so sánh thỉnh thoảng phải trở lại hệ thống thuật ngữ của mình “để tinh luyện nó”; nhưng những vấn đề của hệ thống thuật ngữ thường  nấp dưới những vấn đề của phương pháp. Chủ đề, huyền thoại và cả hình tượng, hình thái, môtíp là những bộ phận của một toàn thể là văn bản. Toàn bộ huyền thoại là một “chủ đề” của văn bản, nhưng toàn bộ chủ đề không phải là huyền thoại, cho dù các chủ đề và các huyền thoại đều là những kết cấu của văn bản. Từ đó có câu hỏi kép: huyền thoại văn học là gì? huyền thoại là gì đối với văn học so sánh?

TỪ HUYỀN THOẠI TỚI HUYỀN THOẠI VĂN HỌC

Huyền thoại vốn là lĩnh vực của nhà nghiên cứu văn học dân gian, nhà dân tộc học, nhà nghiên cứu lịch sử tôn giáo, và nhà xã hội học. Những người này thích đưa ra những nội hàm pérojatives (những ấn bản về huyền thoại). Với công trình Huyền thoại học (Le Seuil, 1957), Roland Barthes đã công bố một loạt những tiểu luận về những điều tưởng tượng của Pháp những năm 50 – 60. Cũng có loại huyền thoại “nguyên thủy” của các nhà dân tộc học hay nhân chủng học và nó không hề biến mất trong  văn chương, vì vậy người ta nói về “tình huống căn bản” hay “tình huống nhân văn dưới dạng thức những  tiêu biểu cho một tập thể” (André Dabezies, trong kết luận của Những khuôn mặt của Faust trong thế kỷ XX, PUF, 1967).

Thật hấp dẫn, thậm chí sáng rõ, khi dùng “tình huống căn bản” để nói về cái giao kèo với quỷ (Faust), về một sự trừng phạt (Don Juan), một sự hy sinh (Iphigénie), một sự bất chấp cái chết nơi Don Juan hay Antigone. Ở đó, người làm văn học so sánh nghiên cứu những sơ đồ cơ bản, chắc hẳn vì chúng trước hết là những ngụ ngôn đã được chuyển thành văn tự, khi những bản in văn học đầu tiên xuất hiện. Chúng là những văn tự lịch sử, những bản chữ in biến đổi từ nền văn hóa này đến nền văn hóa khác, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Khi ấy, người ta thấy sự tương đồng với chủ đề và sự khác biệt dường như tựa vào một tính chất cố định, người ta gọi là “tính chất sơ đồ” của vật liệu được sử dụng. Bởi huyền thoại, cũng như chủ đề và hình tượng so sánh, là những vật liệu làm nên văn bản nghiên cứu của những nhà so sánh: chúng là “nội dung” của chính nó (như các  nhà trung đại học có thể gọi là “chất liệu Bretagne”, khi nói về các tiểu thuyết của Arthur). Nhưng ta biết rằng không có một nội dung không hình thức (cũng như không có một hình thức không nội dung). Sự ảnh hưởng lẫn nhau này, vừa rõ ràng vừa rất tinh tế trong nghiên cứu, có lẽ tìm thấy nơi huyền thoại một giải pháp độc đáo và hiệu quả .

TỪ HUYỀN THOẠI DÂN TỘC-TÔN GIÁO ĐẾN HUYỀN THOẠI VĂN HỌC

Những huyền thoại nguyên thủy – nội dung của những tôn giáo, tín ngưỡng- khi đi vào văn chương, đã trải qua một quá trình có thể gọi là bước chuyển từ cái thiêng  đến cái  tục.

 *Từ cái thiêng  đến cái  tục. Về vấn đề này, có nhiều công trình đáng chú ý. Chúng ta đã thấy hai quan điểm của Micea Eliade qua hai tác phẩm: Những phương diện của huyền thoại (Gallimard, 1963); Cái thiêng và cái  tục (Gallimard, 1965). Chúng ta cũng có thể nghĩ đến Denis de Rougemont với Tình yêu và Phương Tây (1939), đến Cl. Lévi- Strauss, người nhận ra trong huyền thoại đã được văn chương hóa “tiếng thì thầm cuối cùng của một cơ cấu sắp tàn”. Ngược lại, với Pierre Brunel, văn chương và nghệ thuật (và hiện nay là điện ảnh) có vai trò căn bản như là một “phòng lưu trữ huyền thoại”. Chính vì huyền thoại bị “bao bọc” bởi văn chương mà nó có thể còn tồn tại. Nhưng huyền thoại “văn chương” đã bổ sung những ý nghĩa mới cho huyền thoại nguyên thuỷ . Pierre Albouy đã nói rất rõ rằng, chẳng có huyền thoại văn chương nào mà không có “một sự tái sinh”, huyền thoại đã được sống lại trong một thời đại mà ở đó khả năng “diễn tả tốt hơn những vấn đề đặc biệt” là hiển nhiên. (xem Huyền thoại và huyền thoại học trong văn chương Pháp, A. Colin, 1969, tái bản, 1980).

Từ đây, nghiên cứu so sánh cũng như khoa học văn học so sánh có một hướng đi rõ rệt. Ấy là đưa ra cho người ta thấy những dạng thức huyền thoại trong văn chương: xác định cái nào là huyền thoại được phục hồi, cái nào là huyền thoại bị biến đổi, trong đó cái nào là huyền thoại thường hằng, cái nào là huyền thoại chỉ có mặt trong một vài thời đại, cũng như cái nào là huyền thoại bị biến mất ở những thời điểm nhất định, hay ở một số nhà văn nào đó. Qua việc làm này, ta nhận ra rằng nhiều huyền thoại cổ xưa cho đến nay vẫn còn hiện diện nguyên vẹn, bên cạnh đó cũng không ít huyền thoại  đã mất dấu và một số huyền thoại đã được cải biên một cách kỳ diệu. Như vậy, có thể nói, với văn chương, với thế giới tưởng tượng của văn chương, huyền thoại quả thật là một câu chuyện năng động và mẫu mực, một câu chuyện của cộng đồng và của cá nhân.

*Về một vài khác biệt chủ yếu.  Trong công trình Văn học, (Littérature, 1984), Philippe Sellier xác định giữa huyền thoại “dân tộc-tôn giáo” và huyền thoại văn chương có một vài  khác biệt cơ bản.

1) Huyền thoại “dân tộc –tôn giáo” là một câu chuyện gốc, không có tên tác giả, do cộng đồng sáng tạo, được xem như là thật và nếu phân tích nó, chúng ta nhận ra ở đó có những đối lập quan trọng về cấu trúc. Khi đi vào văn chương, huyền thoại gốc giữ lại “cái bão hòa tượng trưng”, cái tổ chức “chặt chẽ” và cái sáng rõ siêu hình, nhưng nó đã mất đi cái tính chất gốc, cái chân thật và tính khuyết danh.

2) Còn có những huyền thoại khác phát sinh từ văn chương, là những câu chuyện mẫu, chẳng hạn, Tristan và Yseult, Faust hay Don Juan.  Và những “yếu tố huyền thoại” trong văn chương như: vị thuốc bùa của Médée, bản hợp đồng  với quỷ sứ (Faust), hay pho tượng đá (Don Juan).

3) Ngoài ra, có thể kể thêm một số biểu hiện khác của huyền thoại trong tác phẩm văn chương, được xem như là những huyền thoại văn chương, với ít nhiều dè dặt. Đó là huyền thoại về những thành phố (như Venise, chẳng hạn), những dạng huyền thoại này gần như không thể tạo ra được tình huống để phát triển thành truyện kể. Tuy nhiên, cần chú ý rằng khi huyền thoại Venise tham dự vào cái chết (bởi từ những quá trình lịch sử, văn hóa phức hợp được thay thế bằng văn chương), lúc ấy chúng ta đứng trước một phác thảo của truyện kể huyền thoại, thậm chí  kịch bản cho một câu chuyện.

Ph. Sellier còn nêu ra những huyền thoại “nhân vật chính trị” như Alexandre, César, Louis XIV, Napoléo, ở đó bút pháp tự sự được mở rộng và thủ pháp huyền thoại gần giống với thủ pháp sử thi; và cuối cùng là những huyền thoại có từ kinh thánh: Golem, người Do Thái lang thang, Léthé, những huyền thoại này đòi hỏi người viết phải luôn tựa vào một câu chuyện gốc.

Pierre Brunel đã kế thừa những ý kiến trên đây, kết hợp với các quan niệm cởi mở từ những công trình của André D’Abezies. Nhà nghiên cứu này cho rằng, là sự toả sáng của một hoàn cảnh nhân văn tiêu biểu, những huyền thoại “hình tượng – sức mạnh” thuộc về xã hội học như  Tiến bộ, Giống nòi, Máy móc.. cũng bộc lộ rõ rệt “khả năng mê hoặc tập thể mạnh mẽ không thua kém gì sức hấp dẫn của những huyền thoại nguyên sơ”.

Trong thực tế, nếu một nhân vật lịch sử như vậy trở thành “huyền thoại” (chẳng hạn Napoléon xuất hiện như một Achille mới, một Prométhée khác hay con yêu tinh vùng Corse) thì điều quan trọng là khả năng thâm nhập của nó trong ý thức cộng đồng. Từ đó, P. Brunel kết luận: huyền thoại chính là “tất cả những gì mà văn chương đã biến thành huyền thoại”. Có lẽ chính xác hơn, là toàn bộ những gì mà một nền văn hóa có thể và mong muốn biến thành huyền thoại.

 *Huyền thoại hóa. Khái niệm này làm ta nhớ đến khái niệm “chủ đề hóa”, như là quá trình huyền thoại thâm nhập vào văn học, rồi như một vật liệu đi vào văn bản. Khái niệm huyền thoại hoá cho phép ta nắm bắt huyền thoại văn chương trong thế tiến triển không ngừng, khi huyền thoại trở thành đối tượng nghiên cứu. Trong ý nghĩa sâu của thuật ngữ, huyền thoại thuộc về loại văn chương “tiền văn bản”, một tiền văn bản được vực dậy, từ những huyền thoại cổ xưa trong truyền thống truyền miệng (một “văn bản-dân tộc học”, nói như các nhà chuyên môn). Huyền thoại là một câu chuyện “đi vào” văn chương. Orphée và Napoléon trước hết là những “tiền văn bản” trước khi là vở nhạc kịch của Monteverdi và là tiểu thuyết của Tolsto¿. Rồi sau đó, nhạc kịch và tiểu thuyết đã phát triển việc huyền thoại hóa hoặc phát triển truyền thống huyền thoại.

Huyền thoại phải chăng là một chủ đề “đang hoạt động ”, hoàn toàn giống với những từ, những mẫu, những hình tượng đang trên đường trở thành những kịch bản? Nếu quả như vậy, sự biến đổi -huyền thoại hóa này đã phải vay mượn ở bản chất của huyền thoại (một câu chuyện có thể được tái hiện bởi nhiều thế hệ bởi vì nó đa nghĩa) hay ở chức năng mà nó đảm nhận (câu chuyện có thể có những mối quan hệ với một cộng đồng bởi giá trị điển hình và loại suy của nó, như những liên quan theo từ nguyên có ở các huyền thoại gốc nằm trong tôn giáo)?. Và phải chăng tự bản chất, huyền thoại  cũng đã có chức năng đặc biệt này?

Về bản thân huyền thoại học

Chúng ta bắt đầu bằng một bài báo nhỏ, ở đó nhà nghiên cứu tiếng Hy Lạp Jacques Bompaire khảo sát huyền thoại như  nó xuất hiện trong tập Thi học của Aristote, dưới ánh sáng của chủ nghĩa cấu trúc mà Jean Piajet trình bày (xem Sự hình thành và trỗi dậy cuả huyền thoại, hội thảo ở Nanterre, 1974, Paris, Les Belles Lettres, xb. 1977).

  • Huyền thoại như là cấu trúc. Từ góc độ “cấu trúc”, huyền thoaị lưu giữ ba đặc trưng, như Jean Piajet ghi nhận: tính toàn thể (la totalité), tính biến đổi (la transformation) và sự tự điều chỉnh (l’autoréglage). Huyền thoại, theo Aristote, chính là hợp thể (synthesis), một tổ chức được quan niệm như cái toàn thể, cái toàn thể hữu cơ. Tuy nhiên, ông cũng nhận ra những biến dạng, theo đó, nội dung của huyền thoại có thể bị thay đổi và người ta có thể nói rằng ấy là sự vận động từ bản chất. Thực ra, huyền thoại tự điều chỉnh để nhằm hướng đến cuộc đối thoại của riêng mình. Khi thay thế những yếu tố thiết yếu trong cấu trúc, cấu trúc sẽ biến mất và một cấu trúc khác xuất hiện. Huyền thoại là một hệ thống, một tập hợp những yếu tố liên kết năng động, nó phát triển tùy theo những yêu cầu và những tham số nội tại riêng.

Từ thực tế ấy, người ta nhận ra văn chương, hay đúng hơn là nhà thơ, phải   đứng trước một nghịch lý. Trong Thi học (Poétique), Aristote cho rằng, nhà thơ không thể thay đổi những huyền thoại nhận từ di sản, song nhà thơ cũng phải chứng tỏ khả năng sáng tạo của mình. Ay chính là tính năng động về bản chất (còn gọi là tính biện chứng) của sự mô phỏng, khác với thói bắt chước và chúng ta phát hiện ra rằng, theo cách riêng của mình, huyền thoại đã mang đến cho chúng ta một dạng tưởng tượng có kiểm soát.

Vậy thì,  chúng ta có thể nhớ đến cái văn bản ít nhiều được “lập trình” vốn là vấn đề dành cho hình tượng. Đối với văn chương, huyền thoại là một câu chuyện được lập trình sẵn, một tiền văn bản. André Siganos cho rằng nếu không có “ngữ đoạn nhỏ nhất của huyền thoại”, ông ta không thể có một tổ hợp cấu trúc để  dựng nên huyền thoại và nhìn nhận  nó với tư cách là một câu chuyện được xác lập lại bằng văn chương (Le Minotaure và huyền thoại của nó, PUF, 1993). Có một logic nào đó của huyền thoại, vàlogic ấy đến lượt nó, là một sự câu thúc đối với những cấu tạo mới; những cấu tạo này có thể dẫn đến việc nói ngược lại “văn bản” ban đầu: một Don Juan được cứu vớt mà không bị trừng phạt, một Iphigénie được cứu thoát mà không phải hy sinh. Nhưng cái sơ đồ đảo ngược – hay nhại lại – cũng giả định sự tồn tại và phục sinh của cái sơ đồ đã được dùng làm mẫu.

*Huyền thoại như là câu chuyện.

Từ khi nào huyền thoại Napoléon ra đời? Đó là khi một câu chuyện “thứ hai” đã nhân đôi câu chuyện “thực” bằng một truyện kể có cấu trúc bằng “truyền thuyết” về hoàng đế, bằng những biên niên sử hoang đường về Đế chế.  Như Jean Tulard đã chứng minh trong Huyền thoại về Napoléon (A. Colin, 1971), truyện kể thứ hai này được nuôi dưỡng bằng những huyền thoại có trước, rất cần thiết cho việc huyền thoại hóa. Ay là những nét giống nhau có thể có giữa “số phận” Napoléon và chân dung Christ; là sự giao thoa với huyền thoại  Prométhée; là sự ký sinh với những mẫu dạng yêu tinh. Napoléon trở thành nhân vật huyền thoại khi cuộc đời ông ta trở thành truyện kể, thành câu chuyện. Như vậy, việc chủ đề hóa ở đây được gọi là huyền thoại hóa: đây là ý tưởng của Chateaubriand trong bài văn đả kích Về Buonaparte và về giòng họ Bourbon (1814). Câu chuyện là “tiêu cực” trong nội dung tự sự, nhưng lại “tích cực” về phần vai trò mà nó đảm nhận trong trí tưởng tượng của thời đại. Câu chuyện huyền thoại, do mang trong lòng nó tính chất vừa tiêu cực vừa tích cực, đã  chú ý đến mọi sự khác nhau với một vài thế hệ, nên nó đã có một vị trí, một chức năng có thể  sánh với những gì mà các huyền thoại xưa đã có với thời cổ đại và với những nhà thơ.   Trong quá trình huyền thoại hóa Napoléon, ta thấy nổi lên những  cột mốc và những tên tuổi: Byron, Beethoven, Goya, K. Marx, Tolstoi, và có thể thêm: Chateaubriand, Vigny, Hugo, Aragon,  Abel Gance.

Huyền thoại học là “cổ” hay “kim”?. Có thể nói, huyền thoại là một câu chuyện sống động đối với những ai tái tạo nó, lắng nghe nó và đọc nó. Một câu chuyện huyền thoại không còn được sử dụng có thể tiếp tục được gọi là “huyền thoại” trong một quan điểm lịch đại cởi mở, nhưng nó thôi là huyền thoại từ khi nó chỉ còn là một bộ phận của văn hóa và của văn chương nghiên cứu. Và huyền thoại lại tái sinh khi được quy chiếu lại, khi nó mang đến một câu chuyện mới để nuôi dưỡng trí tưởng tượng.

Mỗi một thời đại có những huyền thoại riêng, và có huyền thoại học riêng của thời mình. Trong ý nghĩa này, cũng như chủ đề, huyền thoại có thể  làm phong phú và đa dạng hoá sắc thái cho lịch sử văn chương. Người ta có thể nói về huyền thoại  của thời đại, giống như về chủ đề của thời đại. Với Trí tưởng tượng lãng mạn (Oxford Univ. Press, 1969, in lại từ kỷ yếu hội thảo 1948-1949) C. M. Bowra đã bổ sung một đóng góp cũ, gần như cổ điển, trong nghiên cứu về “trí tưởng tượng lãng mạn”. Trong cuốn sách này, chúng ta  thấy những tác phẩm và những “ngọn cờ” lý luận, những công trình nghiên cứu chủ đề và các phối cảnh huyền thoại (Don Juan, Prométhée) sát cánh nhau. Trong cuốn Cuối thế kỷ. Hình tượng và huyền thoại (Munich, W. Fink, 1977), Hans Hinterhauser đã tập hợp một vài hình tượng trong huyền thoại học cuối thế kỷ và thời kỳ suy đồi: sự trở lại của Christ, những thành phố chết, cuộc nổi loạn của các công tử bột, những người phụ nữ péraphaélite, những nhân mã… Christ cuối thế kỷ, cũng như Christ trước đây, là những chủ đề kịch bản được hệ thống hóa (cái gì diễn ra nếu Christ trở lại và làm lại những điều gống nhau?) và cũng là chủ đề về mẫu giá trị cho một hay nhiều thế hệ.

Như vậy, cần phải nghiên cứu việc làm thế nào mà chủ đề, mẫu loại, hình tượng, một nhóm hình tượng, hoặc đôi khi từ ngữ, có khả năng chuyển thành câu chuyện, trở thành cấu trúc- tập hợp của những thành tố mang tính tổ chức và của những biến thể-;  cần phải hiểu ra vai trò điển hình mà câu chuyện này  có thể có, nhằm rút ra những cái lặp đi lặp lại, những cái phục hồi. Sẽ nhận ra “Câu chuyện” nào  hay “nhân vật” nào trở thành điển hình trong một nền văn hoá này và nó chỉ có  số phận khiêm tốn trong một nền văn hóa khác.

Hiển nhiên, huyền thoại không hề có tính thường hằng hay tính phổ quát: chỉ có những huyền thoại Hy Lạp chứng tỏ tính phổ quát của mình trong việc bá chủ văn hóa ở Châu Au, người thừa kế khôn ngoan những câu chuyện này. Ngược lại, chúng ta thấy có một cuộc đời, một sự sống sót, những cuộc phục hưng  của các huyền thoại cổ; sự xuất hiện của những huyền thoại mới, sự cải biên các truyện xưa thành truyện hiện đại; và sự dung hợp của một vài thành tố hay nhân vật trong huyền thoại làm thành những câu chuyện điển hình mà văn chương, giữa những bộ môn khác, đã góp vào làm nên các mẫu .

*Về một định nghĩa cho huyền thoại văn chương

Với các công trình nghiên cứu của mình về huyền thoại, được tập hợp trong cuốn Từ điển đã nêu trên, Pierre Brunel  phân biệt 3 thành phần xác định của  huyền thoại mà ông gọi khác đi là những chức năng.

Huyền thoại-truyện kể. Huyền thoại kể một câu chuyện, đó là truyện kể. Theo Platon, truyện kể đối lập với đối thoại, với tranh luận. Ý niệm về huyền thoại như là truyện kể, như là kịch bản (sẽ dẫn đến Cl. Lévi Strauss hay với hình tượng khi nó đi vào văn chương) dẫn đến quan điểm cấu trúc của một Tomachevski trong khi định nghĩa huyền thoại như là “hệ thống cuả môtíp”. Câu chuyện đặc biệt ấy chính là huyền thoại khi nó làm nên  những sự lặp lại, những sự phục hồi các thành tố (điều mà L.Strauss gọi là những “chủ đề huyền thoại”). Pierre Brunel nhắc lại đúng lúc định nghĩa về huyền thoại theo Mircea Eliade (“Huyền thoại kể về một câu chuyện thiêng liêng , nó thuật lại một biến cố xảy ra trong thời kỳ đầu tiên, thời kỳ hoang đường nguyên thủy”). Hay định nghĩa của Gilbert Durand (“Một hệ thống năng động của các biểu tượng, của các cổ mẫu và của các dạng thức, ngả về hướng tạo thành truyện kể, dưới áp lực của một sơ đồ”). Một sơ đồ trở thành truyện kể, ý tưởng này có thể là yếu tố đầu tiên làm cho  định nghĩa về huyền thoại trở nên đơn giản và sáng rõ. Bởi vì  nó nêu lên ý niệm về một “kịch bản huyền thoại”. Sơ đồ về “huyền thoại” Antigone là cái  sau đây: sự chống đối của nhân vật nữ chính với kẻ độc tài; việc cấm chôn một trong những người anh của Antigone; sự xâm phạm lệnh cấm này, lễ đính hôn với con trai kẻ độc tài, cuộc kết tội và cái chết (xem Simone Fraisse, Huyền thoại về Antigone, A. Colin, 1974; và George Steiner, Những huyền thoại Antigone, Gallimard, 1986). Giữa những dữ kiện ổn định này, có chỗ cho những “dị bản”, ấy chính là dấu hiệu  của “tự do, của đời sống, của văn chương” như Pierre Brunel ghi nhận. Chúng ta có thể thêm: ấy cũng là dấu hiệu  một câu thúc ít nhiều nặng nề của trí tưởng tượng khi nó phải xoay quanh kịch bản ấy.

Sự câu thúc này chỉ có trong một vài trường hợp rất thực, và nó có thể đem lại những hệ quả nghiêm trọng trên bình diện mỹ học. Chúng ta có thể rất chính đáng khi  cho rằng số phận kỳ lạ của Thiên đường đã mất của Milton cũng được xem như là hệ quả gây trở ngại cho trí tưởng tượng của những ai thử ghi lại một lần nữa sách Sáng thế. Bởi vì nhà thơ Anh này đã mang đến một kịch bản bi đát cùng những bức tranh tráng lệ, nhưng đồng thời ông cũng lập nên một thỏa ước đích thực chống lại cái điều mà ông đã gian nan đương đầu, ấy chính là sáng tạo. Giữa Cựu ước và Milton, phạm vi vận hành của trí tưởng tượng quả thực quá chật hẹp (xem J. Blondel Thiên đường đã mất (1667-1967) , Minard, Lettres modernes, 1967, và Jean Gillet, Thiên đường đã mất trong văn học Pháp. Từ Voltaire đến Chateaubriand , Klincksieck, 1975).

*Huyền thoại –giải thích. Huyền thoại là một truyện kể thuộc hệ nhân quả, một ngụ ngôn mang tính giải thích (cội nguồn của cành nguyệt quế được cắt nghĩa bằng câu chuyện, huyền thoại về sự biến hóa của Daphné, xem Yves Giraud, Ngụ ngôn về Daphné. Tiểu luận về một kiểu biến thái thực vật trong văn chương và trong nghệ thuật, Genève, Droz, 1969). Huyền thoại kể lại với chúng ta hiện thực tồn tại như thế nào, thế giới  phát triển ra sao và con người quan hệ với thế giới bằng những kiểu nào. Chúng ta xác định: huyền thoại là sự giải thích, bởi vì trước hết nó là tri thức về nội dung của truyện. Tri thức này chứng minh làm thế nào huyền thoại là cấu tạo của thế giới : toàn bộ những huyền thoại là câu chuyện về cội nguồn, nhất là huyền thoại gốc. Ở bình diện văn hoá, huyền thoại là một sự tự trị, một sự quy chiếu ít nhiều thường xuyên và nó đòi hỏi sự lặp lại, sự nghi thức hóa.

*Huyền thoại –biểu hiện. Huyền thoại có chức năng biểu hiện và như vậy chúng ta có thể nói với Mircea Eliade rằng toàn bộ huyền thoại học là một “thước đo gốc về cảm giác ánh sáng” (“ontophanie”). Nếu huyền thoại gốc khai mở cái thiêng, thì huyền thoại văn chương cũng là một “lời đáp lại”. Trong khi tiếp bước André Jolles (Những dạng thức đơn giảnFormes simples, Le Seuil, 1981), Pierre Brunel đã nhận thấy, giữa câu hỏi mà con người đặt ra và lời đáp sau đó, có một không gian khả thủ dành cho một “dạng thức” mà người ta gọi là huyền thoại.

Lời đáp ấy thực sự có một chức năng kép hay một giá trị kép: ấy là đạo đức học và quy luật bù trừ. Huyền thoại làm nhiệm vụ của Lịch sử, từ giá trị mẫu của câu chuyện và rộng hơn là từ cấp độ đạo đức học của nó. Những huyền thoại cổ đã gắn bó chặt chẽ với cộng đồng, và cộng đồng chấp nhận chúng như một nền tảng tôn giáo, như một ngôn ngữ tượng trưng. Tương tự như vậy, toàn bộ huyền thoại “hiện đại” (Jean d’Arc, Napoléon, Ché Guévara…) cũng đã đem lại  một giá trị đạo đức cho cộng đồng, và cộng đồng ấy ý thức về chính mình qua những câu chuyện này. Như vậy, cộng đồng đã tán thành một câu chuyện, và câu chuyện này, từ  một sản phẩm riêng đã trở thành tài sản chung. Vì huyền thoại là “lời đáp lại”, như Pierre Barbéris đã ghi nhận về huyền thoại Napoléon (Tạp chí Lịch sử văn học Pháp, 1970), tất nhiên nó có chức năng về sự bù trừ: đó là khi chúng ta nói đến câu chuyện thứ hai, sau câu chuyện thứ nhất. Đặc điểm bù trừ  và chức năng đạo đức này, ở nghĩa trung tính, rất là quan trọng để thiết lập những mối giây liên hệ giữa huyền thoại và hệ tư tưởng, huyền thoại và trí tưởng tượng.

Trong văn chương, chức năng “lời đáp” của huyền thoại đem lại  dáng vẻ  đơn lẻ cho những kết quả phức hợp. Nhà văn, người cầu viện đến huyền thoại, đặt câu hỏi cho lời đáp và văn bản thực hiện trên một lời đáp, như thế, ở đó một kịch bản đã ra đời. Vậy nên, cần phải phân tích những gì huyền thoại mang đến và những gì nhà văn, thời đại, nền văn hóa đang nói đến góp vào.

Huyền thoại văn chương chỉ có thể được nghiên cứu trong sự giao nhau của hai quá trình bổ sung: cuộc đối thoại của một kịch bản và sự biến đổi của nó, được nhận ra từ công việc và những lựa chọn của nhà văn. Nếu C. Lévy- Strauss cho rằng huyền thoại là tập hợp của các biến thể, thì chúng ta có thể đi đến quan niệm, trong văn học tổng quát và văn học so sánh, huyền thoại cũng là một tập hợp những biến đổi diễn ra qua một kịch bản, từ một trật tự hệ tư tưởng và mỹ học, hoặc gợi lên từ một tưởng tượng nào đó, khác với tưởng tượng của huyền thoại trong các văn bản trước đó mà nhà văn có. Cũng cần giải thích lý do việc   chọn lựa, phục hồi một kịch bản của nhà văn hay một thế hệ nhà văn.  Đề xuất mang ý nghĩa gợi mở sau đây của Jean –Louis Backès rất quan trọng với chúng ta: “Huyền thoại không là nội dung để giải thích mà là đối tượng của sự sực nhớ lại”(Huyền thoại Hélène, Adosa, 1984). Thực vậy, sự sực nhớ lại đòi hỏi sự định giá lại. Huyền thoại không cần giải thích thêm, bởi nó đã xuất hiện chính thức với các bản in chì, in đúc, người ta có thể tiếp tục sử dụng nó ngay sau đó. Cần khẳng định rằng, trong khi huyền thoại không thể quên dễ dàng  nguồn cội tôn giáo của mình, thì nó cũng chỉ có thể có chiều kích văn chương nếu nó tiếp tục tồn tại như là ngôn từ sống.

Những nguyên tắc của phê bình huyền thoại

Rất thận trọng, và chưa nói hết điều mình nghĩ, trong công trình Phê bình huyền thoại, lý thuyết và những hành trình (Puf , 1992), P. Brunel chấp nhận bàn về một phê bình huyền thoại  trong văn học tổng quát và văn học so sánh . Ba quy luật mà ông trình bày sau đây đã đem đến những quan điểm rất bổ ích:

Quy luật trội bật. Tiến hành xem xét những dấu vết huyền thoại trong một văn bản mà không dừng lại ở những trường hợp sáng tỏ. Cuốn Colomba của Mérimée lúc ấy nhanh chóng trở thành một biến thể của huyền thoại Electre. Công việc của nhà so sánh là không chỉ mang đến sự xác định mà còn mang đến sự giải thích, cậy vào câu chuyện văn chương (khảo sát về mối liên hệ lịch sử). Chúng ta đừng quên rằng huyền thoại phải “làm” ra một câu chuyện. Trong Dòng sông Alphée, Roger Caillois đã làm sáng tỏ một kiểu tiểu sử tinh thần trong vài dòng đề từ. Nhưng lời dẫn là huyền thoại  mà không  hoang đường, bất chấp tính hàm súc thơ ca tuy là rất mạnh (dòng sông thoát thai từ biển và lại trở thành sông, suối).  Huống hồ, là nhà ngữ pháp hình thái, Caillois nói về “phép ẩn dụ  xa xưa”trong  lời dẫn mà vẫn không thể khẳng định là có  một phép ẩn dụ ám ảnh hay có  một “huyền thoại cá nhân” (ở cái nghĩa mà Charles Mauron dùng trong phê bình phân tâm học). Có một dấu ấn rõ rệt của huyền thoại trong văn bản, một vài dấu hiệu, nhưng ngụ ngôn cổ không gợi nên bất kỳ một hư cấu mới nào, cũng không điểm thêm chi tiết. Có một sự ló dạng mà không lan tỏa.

   Quy luật linh hoạt. Khái niệm nầy phản ánh tính mềm mại của sự thích ứng và tính bền vững của những yếu tố huyền thoại trong văn bản. Như vậy, cần đối chiếu văn bản với sơ đồ đã được thiết lập trước đó của huyền thoại gốc .

Sơ đồ này thực chất là công việc, là sự khám phá của nhà nghiên cứu. Ong ta  đọc thấy trong các câu chuyện một vài yếu tố tái diễn trong những lớp truyện chủ yếu, chúng tổ chức thành cái mà André Siganos gọi là “ngữ đoạn tối thiểu”. Xem huyền thoại về quỷ nhân ngưu Minotaure, sẽ thấy có ba lớp xuất hiện. Lớp 1:sự vi phạm trật tự tự nhiên, con quỷ ra đời. Lớp 2: trật tự được thiết lập: con quỷ nhân ngưu Minotaure hành động, nó là chủ thể. Lớp 3: xác định nguyên cớ trừng phạt: Minotaure nhận chịu. Đối chiếu sơ đồ với văn bản sẽ thấy được  khả năng “mô hình hóa” của nó, như A. Siganos đã nói. Có “một dáng vẻ khác” trong văn bản được nghiên cứu: đây là kết luận thú vị của P. Brunel.

Quy luật lan tỏa. Quy luật này có ý nghĩa tất yếu, vì chính có nó mà công việc phân tích văn bản mới được tiến hành. Nó nói với chúng ta rằng, yếu tố  huyền thoại, dù được lưu giữ, tiềm tàng, vẫn luôn có khả năng lan tỏa. Chúng ta có thể bắt đầu từ nhan đề “là ký hiệu xác định cuốn sách hay văn bản”, hoặc  với  lời đề từ, như là sự “hướng dẫn”, chẳng hạn tiếng kêu mở đầu phần hai cuốn Aurélia của Nerval: “Eurydice! Eurydice!”, theo P Brunel, nó xuất hiện như một “lời dẫn kép vừa về huyền thoại, vừa về nhạc kịch”. Như vậy, việc đọc có thể được xác định bằng giòng chữ đầu tiên (“Một lần thứ hai đã mất!”) và bằng  đoạn kết của văn bản.

Quy luật lan tỏa còn cần phải được xem xét trong hình thức của văn chương. Khi ấy sơ đồ của huyền thoại bắt đầu cọ xát với thể loại của văn chương, chẳng hạn sự sân khấu hóa huyền thoại, logic của huyền thoại và logic của tiểu thuyết…. Mặt khác, theo thuật ngữ của Gérard Genette, huyền thoại có thể được xem như một “tiểu văn bản”;  và  là thành tựu  thi  pháp ở tầm cao, văn bản nghiên cứu được xem như một “siêu văn bản”. Bằng mối quan hệ với sơ đồ huyền thoại, nó trở lại xem xét những quan hệ giữa sơ đồ huyền thoại và văn bản như những quan hệ siêu văn bản.

Từ những điều trên đây, Pierre Brunel  nêu ra hai nguồn của quy luật lan tỏa “tiềm văn bản”: một là, huyền thoại hiện diện và tỏa chiếu trong tác phẩm của một nhà văn dù có lúc không rõ ràng; hai là, bản thân huyền thoại và “sự tỏa rạng vốn có” của nó trong “ký ức và trí tưởng tượng của một nhà văn ngay cả khi ông ta không ý thức về nó”. Vì huyền thoại có trước việc hình thành văn bản, nên nếu chúng ta thực sự muốn tiến hành một  cuộc đọc huyền thoại thì cần phải “miêu tả cách tổ chức của văn bản”. Và Pierre Brunel lưu ý rằng, trong trường hợp này “có thể mỗi một người trong chúng ta đã làm công việc phân tích cấu trúc mà không ý thức về điều ấy”.

Thi pháp của huyền thoại

Cần trở về với hai đặc trưng quan trọng mang tính hình thức hay tính cấu trúc của huyền thoại: đó là câu chuyện và sơ đồ hay kịch bản. Trong Văn xuôi trữ tình (Gallimard, 1994), Jean -Yves Tadié nghiên cứu “mối quan hệ giữa hai hình thức văn chương”, “những biến đổi giữa hai hệ thống”. Ba khả năng mà ông phân biệt có những nét giống với ba “quy luật” của P. Brunel. Hay đúng hơn văn xuôi trữ tình là “toàn bộ huyền thoại” (lan tỏa), hoặc “nó sáp nhập vào huyền thoại” dưới hình thức “truyện kể xen vào” (linh hoạt), hay “sự hiện diện của những huyền thoại tiềm ẩn” và nó được đọc “xuyên qua một vài hồi của câu chuyện hay vài nhân vật” và thậm chí “bùng nổ thành một đám tinh vân biểu tượng” (trội bật).

Trong thực tế, vấn đề cần nhất là chứng minh rằng, văn xuôi trữ tình, khi  không dùng những huyền thoại cổ qua xuyên văn bản, (trường hợp của tác giả đầu tiên Giono), nó lại sáng tạo nên những huyền thoại mới (trường hợp Aragon). Văn xuôi trữ tình là “một cỗ máy tái sinh những ý nghĩa bị ẩn giấu”. Bằng điều đó, nó “đối lập với văn xuôi hiện thực”. Nó báo hiệu rằng về sau việc phân tích sẽ phát triển theo hướng phân tích những biểu tượng và những giấc mơ. Chính nhờ trở lại với ý niệm “sơ đồ” mà người ta nhận ra dễ hơn vai trò của câu chuyện huyền thoại trong một văn bản cũng như mối quan hệ, nơi sơ đồ huyền thoại nối kết với cấu trúc văn bản được nghiên cứu.

Như vậy, sự ra đời của huyền thoại  gắn  chặt  với việc tổ chức của một sơ đồ, một kịch bản, để cho ra đời một câu chuyện mới. Công việc của phê bình, của thi pháp, trước hết là xác định được sơ đồ huyền thoại (những hằng thể, những thành tố ), cũng như trình bày sự vận hành và những biến thể của nó.

Những cách đọc huyền thoại

Có nhiều cách đọc với nhà so sánh. Có thể là làm việc trên những cấu trúc của văn bản (sơ đồ huyền thoại); có thể là khảo sát trên những vấn đề liên văn bản (con đường từ văn bản này đến văn bản khác và sự có mặt của một câu chuyện  huyền thoại trong một văn bản); cuối cùng là nghiên cứu những vấn đề thuộc về hình thức và thể loại văn chương, đối chiếu với sơ đồ huyền thoại: ở đó có “những ẩn dụ thứ yếu” nói theo Jean Rousset, trong Huyền thoại về Don Juan, (A. Colin, 1976). Công việc nghiên cứu này hướng dẫn và giúp chúng ta khám phá ra một kiểu đọc mới khả thủ, hay đúng hơn một phương pháp mới để so sánh các văn bản, bên cạnh việc đọc ghi vào danh mục trước đây.

Phương pháp cấu trúc và chồng văn bản

Khi phân tích một “kịch bản Don Juan quen thuộc”, Jean Rousset nhận thấy ở đó, những đơn vị tổ chức, những hằng số của nó làm thành con số 3: cái chết (“nếu không có nó người ta kể một câu chuyện khác”); một nhóm đàn bà (“một loạt những nạn nhân và có một nạn nhân nổi bật”); cuối cùng là chính nhân vật, người “chống lại cái chết” và người nhận được sự “trừng phạt cuối cùng”. Vậy, với hằng số này có lẽ phải nói về sự trừng phạt mà không phải là về nhân vật.

Chúng ta  xác định rằng cái “hằng số” này là thành phần của một mô hình; như vậy nó không có một quan hệ nào với những hằng số đã thấy. Những hằng số làm thành một sự trừu tượng hoá: “một tam giác tối thiểu có ý nghĩa quyết định”, nó xác định một “quan hệ tay ba tác động lẫn nhau”.

J. Rousset đề xuất “một phương pháp cấu trúc” nhưng ông không muốn mình bị giam hãm ở đó. Ông muốn đọc những văn bản; tiến hành những “phân tích vi  mô”; thực hiện những thao tác “chồng” các yếu tố, các trường đoạn, các đơn vị khác nhau; “lập những chồng tư liệu gốc” và khảo sát những văn bản khác nhau về huyền thoại “như chúng là đồng đại, bằng cách tháo gỡ những liên hợp chính”. Tất cả những cái đó cuối cùng là để so sánh.

 Cần chào mừng sự xuất hiện của khái niệm “chồng văn bản”. Bởi vì từ khi ra đời nó đã mang đến một phương pháp hữu hiệu. Nếu một mặt, sự tổ chức một tư liệu gốc là kết quả của việc đọc, của trực giác, của kiến thức, nó hoạt động dễ dàng qua hình thức tiếp cận nhau, qua những liên tưởng chủ đề hay qua sự tập hợp ý tưởng, và ở đây qua tên của nhân vật chủ chốt, cũng như  qua các nhan đề có thể dễ dàng sắp xếp; thì mặt khác, sự soạn thảo sơ đồ và những đối chiếu từ văn bản này đến văn bản khác được thực hiện qua việc chồng văn bản. Như thế vấn đề không còn là “sự bàn thảo qua lại” hoặc là việc đọc “phụ trợ”, việc đọc quy chiếu, như là đã bàn ở chương trước. Sự tồn tại của sơ đồ, của cấu trúc trong các huyền thoại, ngụ ngôn xưa và ví dụ từ những công trình của Lévi – Strauss, đã cắt nghĩa sự vận hành của một phương pháp lấy cảm hứng từ cấu trúc.

Hằng thể và biến thể

Mô hình 3 hằng thể cho phép “ kiểm tra” những văn bản và giải thích sự loại bỏ những mô hình khác về  “kẻ quyến rũ” và “sự quyến rũ” (Casanova, Lovelace…). Những văn bản được tiếp nhận thường là do chúng phù hợp của với  mô hình chứ không do tính chất thẩm mỹ. Vì thế, tính lịch đại và tính đặc thù của mỗi văn bản được lưu giữ bên cạnh nghĩa phát sinh từ hiện tượng “văn bản – giao nhau”. Chẳng hạn, Don Juan (1813) của E. T. A. Hoffmann là nơi gặp gỡ của ba thể loại: một cuốn truyện kể, một cuộc trình diễn opéra của Mozart Don Giovanni và một tiểu luận về nhân vật Don Juan. Với những cách đọc khác nhau về tư liệu gốc, cũng như “những cuộc du hành  xuyên qua các thể loại”, thi pháp về huyền thoại được hình thành,

Hằng thể (rồi sẽ trở thành biến thể) về cái chết và về sự trừng phạt của Don Juan là một trong những điểm nhấn quan trọng trong công trình nghiên cứu của Jean Rousset. Thật ra, dễ rơi vào bức hí họa cấu trúc khi tin rằng tất cả những hằng thể đều có giá trị. Chạm đến “chủ đề huyền thoại” (mythème) về cái chết, về sự trừng phạt, ấy là đã làm hỏng đi logic tiên thiên của huyền thoại, đã thay đổi nội dung, tầm vóc và ý nghĩa của nó.

Nghiên cứu thi pháp về môtíp sự trừng phạt, tác giả không chỉ đi sâu vào vấn đề hình thức mà còn  quan tâm đến cả nội dung của huyền thoại, cùng ý nghĩa mà nó có được trong một xã hội, trong một nền văn hoá nào đó.

Công trình nghiên cứu thi pháp huyền thoại là khoảnh khắc đọc này, ở đó những thông tin của câu chuyện vang lên, cho phép lập ra một viễn cảnh với mục đích giải thích. Có thể gọi đó là logic của huyền thoại, giống như logic của hình tượng. Trong cả hai trường hợp, cần rút ra một cách giải thích tựa vào một kịch bản, một ngụ ngôn, vào sự cấu thành của nó trong những trường đoạn tổ chức, vào các sự luân phiên có thể có, và vào những phái sinh của nó trong tương quan với một sơ đồ nguyên thủy. Điều ấy cần một lời giải thích kép: là nội tại, bởi nó  gắn bó với kết cấu của văn bản được nghiên cứu; là ngoại tại, bởi nó liên hệ với trí tưởng tượng của một nhà văn, một thời đại, một nền văn hóa.

Huyền thoại và tưởng tượng

Huyền thoại văn chương, dưới hình thức văn bản, đòi hỏi một sự suy ngẫm, một giải thích về câu chuyện phải luôn luôn  độc đáo, điển hình. Điều ấy diễn ra trước người đọc, trước khán giả, nó cũng thông báo như nhà văn về sự có mặt của những câu chuyện khác, có trước hay có song song cùng thời. Không thể nghiên cứu về huyền thoại mà không nghiên cứu về sự tiếp nhận huyền thoại.

Tiếp nhận và tái giải thích huyền thoại

Như André Dabezies đã lưu ý, ở Đức có nhiều Faust hơn Jeanne d’Arc, dù huyền thoại Pháp đã nói đến Schiller với Die Jungfrau von Orleans.  Huyền thoại tạo ra những hâm mộ: theo A. Dabezies, đã có một “faustomanie” lãng mạn. Những huyền thoại  thâm nhập lẫn nhau: có công trình  Don Juan và Faust (1829) của Grabbe. Người ta thừa nhận rằng những xâm nhập như vậy đã vượt qua hoạt động liên văn bản về chủ đề hay mô hình. Những huyền thoại đau lòng rời bỏ ngữ cảnh nguyên thuỷ của chúng và bị “đồng hóa”.

Huyền thoại học và huyền thoại cá nhân.

Trong ý nghĩ cần thiết phải cắt nghĩa huyền thoại, từ bản nháp chuyển qua sơ đồ, từ phác thảo cho đến các phức hợp biến thể, rồi đến một hợp thể, người ta nhận ra bằng cách nào để có thể sáp nhập khái niệm “huyền thoại cá nhân” vào lĩnh vực tư tưởng,.

Phương pháp phê bình phân tâm học. Từ  trong  trào lưu phân tâm học, khái niệm huyền thoại được khai sinh, vì vậy đây không phải là một  lạm dụng hay là một sự dễ dãi trong cách dùng từ.  Trong Những biến thái ám ảnh của huyền thoại cá nhân (Corti,1963), khái niệm huyền thoại được Charles Mauron xác lập, để tiến hành vận dụng thể nghiệm một vài phương pháp phân tâm học vào văn chương (phê bình phân tâm học). Charles Mauron tìm thấy huyền thoại  sau khi làm những cuộc chồng các văn bản khác nhau ở cùng một tác giả. Các cuộc chồng văn bản này làm ló dạng những hệ thống tổ hợp, những nhóm hình ảnh ám ảnh. Sự lặp lại, ngoài ý thức, dẫn đến hình ảnh của một huyền thoại cá nhân, được giải thích như là biểu hiện của nhân cách vô thức nhà văn. Như vậy những kết quả của việc đọc được đối chiếu với những dữ kiện của tiểu sử, luôn luôn nằm trong việc phân tích tâm lý.

Những cách đọc, đặc biệt là cách đọc “chồng văn bản, gần với những điều người ta đã khẳng định trong khi khảo sát cấu trúc và sơ đồ huyền thoại. Huyền thoại cá nhân cũng phải có một kịch bản tối thiểu. Nếu khái niệm (huyền thoại cá nhân) xuất hiện nơi đây có phần lấn sân, thì hãy đồng ý với nhau là nó đứng giữa huyền thoại xưa và cá tính nhà văn, với những tương đồng độc đáo. Ở cuối cuốn Phê bình huyền thoại,  Pierre Brunel nhấn mạnh: “Mỗi nhà văn có huyền thoại của riêng mình. Valéry có Narcisse. Rilke có Orphée. Camus có Sisyphe. Gide đã đọc kỹ nhiều huyền thoại Hi Lạp, sau đó hòa trộn Thésée trong tác phẩm cuối cùng của mình, rồi nêu tên Prométhée như là “người đỡ đầu” của các nhà văn”.

Ý kiến này mở ra một yêu cầu mới cho việc thực hành nghiên cứu  văn học tổng quát và văn học so sánh. Theo đó, văn học tổng quát và văn học so sánh cần được bảo lưu  trong ranh giới của một loạt đơn thuần những văn bản. Nghiên cứu, chủ yếu là thiết lập một  quan hệ giải thích, nhằm làm sáng tỏ huyền thoại và văn chương, sơ đồ huyền thoại và tưởng tượng sáng tạo.

Văn chương như là huyền thoại học

Trong Trí tưởng tượng được nghiên cứu (1984), Northrop Frye đề nghị, với một hợp đề nghiêm ngặt, rằng văn chương hôm nay cũng làm công việc mà huyền thoại đã thực hiện ngày xưa, vì văn chương và huyền thoại học thuộc vào thế giới mà con người xây dựng nên chứ không phải là thế giới (tự nhiên) mà họ  thấy. Dù là ngôn từ của thi ca, huyền thoại vẫn thuộc về phía Logos, vì nó là trật tự của Văn hóa mà không là trật tự của Thiên nhiên. Trong ý nghĩa này, nghiên cứu những huyền thoại, chính là để nhà so sánh bắt đầu tiếp cận vấn đề thi học ở mức cao nhất:  viết là gì?.

Tiến trình huyền thoại hóa dường như hòa nhập cùng với tiến trình của nền văn minh, được hiểu như là sự tương thích dần dần của con người với tất cả những gì không là trật tự của Logos, nhờ vào khả năng sáng tạo của họ. Những huyền thoại tham dự vào công việc vô tận này, như Holderlin đã xác định trong câu nói sau đây: “Vì chất thơ mà con người cư ngụ trên trái đất này”.

                                                     Nguyễn Thị Thanh Xuân lược dịch

                       Dịch từ La littérature générale et comparé

                                   Armand Colin, Paris,1994

[*] Đây là chương thứ sáu trong cuốn sách gồm 10 chương, có nhan đề Văn học tổng quát và văn học so sánh, của Daniel- Henri Pageaux, nhà xuất bản Armand Colin, Paris, ấn hành năm 1994.

Daniel-Henri Pageaux là giáo sư dạy văn học tổng quát và so sánh của trường Đại học Sorbonne- Mới, Paris III. Ong bắt đầu nghiên cứu về Tây Ban Nha học ở đại học Rennes từ 1965 đến 1975. Năm 1975, bảo vệ luận án tiến sĩ quốc gia tại Paris III-Sorbonne Mới (đề tài:Tây Ban Nha trong ý thức của  Pháp vào thế kỷ 18). Là giáo sư văn học so sánh tại đại học Paris III, chuyên về văn học Tây Ban Nha- Bồ Đào Nha-Mỹ và văn học các nước nói tiếng Pháp ở Châu Phi và Châu Mỹ (Acadi, Antilles). Viện sĩ thông tấn của Viện hàn lâm khoa học (Văn chương) của Lisbone. Uỷ viên hội đồng biên tập của nhiều tạp chí; đồng giám đốc của Tạp chí Văn học so sánh. Hướng nghiên cứu của Daniel-Henri Pageaux là hình tượng học (imagologie), văn học trung gian (Littérature de médiation: intermédiaires, critiques), thi học so sánh. Năm 1986, ông xây dựng tuyển tập « Những tác phẩm cổ điển cho ngày mai » (Classiques pour demain, L’Harmattan, Paris, 26 tập) nhằm  trang bị một cách tiếp cận với những nhà văn, hay những tác phẩm đã nổi tiếng hoặc mới phát hiện, đặc biệt ở những nền văn học nói tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp.Ong còn xuất bản hai  tiểu thuyết  dưới bút danh Michel Hendrel.

Các công trình chính:

Đôi cánh của từ. Phê bình văn chương và thi pháp của sáng tạo, Paris, L’Harmattan, 1994.

Văn học tổng quát và văn học so sánh, Paris, Colin, 1994.

Sự ra đời của tiểu thuyết, Paris, Klincksieck, 1995

Giàn thiêu của Hercule. Lịch sử, phê bình và lý thuyết văn học, Paris, Champion, 1996.

Cây đàn của Amphion. Về một thi học không biên giới, Presses universitaires de la Sorbonne, 2001.

-Dưới  ký hiệu của Vertumne. Kinh nghiệm thi ca và sáng tạo văn chương. Paris, Jean Maisonneuve, 2003.

Ba mươi tiểu luận về văn học tổng quát và văn học so sánh hay Cái sừng của Amalthée, Paris, L’Harmattan, 2003.

Leave a Reply