In ấn và quyền lực: Những tranh luận Việt Nam về địa vị của đàn bà trong xã hội, 1918 – 1934 (phần 1/2)


Shawn McHale*

 

Những người nghiên cứu về lịch sử Việt nam quen thuộc với sáo ngữ rằng đàn bà Việt hưởng quyền lực nhiều hơn những người tương ứng Trung quốc của họ. Tuy nhiên, các học giả đã ít phân tích những văn bản viết về hoặc do đàn bà trong thời kì thuộc địa và sản xuất ra ít bản nghiên cứu lịch sử về đàn bà Việt. Tiểu luận của tôi xem xét cung cách mà đàn ông và đàn bà thuộc giới ưu tú bắt đầu tưởng tượng lại địa vị của đàn bà trong xã hội, và cứu xét vai trò mà một nền văn hoá in ấn hiện xuất đảm nhiệm trong sự tái quan niệm này. Tôi tập trung vào những tranh luận về sự bình đẳng của đàn bà và sự giải phóng của đàn bà đã xảy ra giữa hai cuộc thế chiến.[1]

Trọng tâm bài tiểu luận của tôi sẽ là một sự so sánh của một tập hợp những văn viết xuất hiện trên tờ Nữ giới chung [Tiếng chuông cho đàn bà] vào năm 1918 cùng với một tập hợp khác được công bố trên tờ Phụ nữ tân văn [Báo đàn bà] trong đầu thập niên 1930. Năm 1918, những người viết trên Nữ giới chung đã đề cập tới nam nữ bình quyền trong khuôn khổ của sự hợp tác Pháp-Việt. Tới thập niên 1930, những người viết báo thuộc Phụ nữ tân văn đã theo một lập trường mang tính hoạt động xã hội hơn và dấn thân vào những cuộc tranh luận sôi nổi về việc giải phóng phụ nữ. Họ bác bỏ một thái độ hợp tác dễ dãi và đôi lúc chất vấn những định chế cơ bản, như gia đình, và những giá trị Nho giáo mà qua đó những định chế này đã được hiểu. Sự xuất hiện của mỗi tập hợp các bài báo bị phân cách khoảng mười lăm năm, tuy vậy một thay đổi lớn lao thì hiển nhiên trong những tri giác của giới ưu tú về vai trò của đàn bà trong xã hội.

Những bài viết mà tôi cứu xét, chẳng hạn những phê bình đương thời về xã hội Việt, cũng minh hoạ chiều sâu của sự khủng hoảng phát sinh do sự hội ngộ thuộc địa. Suốt thời kì này, đàn ông và đàn bà Việt đặt những câu hỏi thăm dò về địa vị của đàn bà trong gia đình và trong xã hội. Họ nhìn tới Trung quốc, Nhật bản, và phương Tây cho cảm hứng trong việc tái công thức những vai trò của đàn bà. Tới nửa sau thập niên 1920, một ít đàn bà Việt hướng tới chủ nghĩa phụ nữ [nữ quyền], và cô gái tân thời phô trương những cung cách phương Tây nổi trội trong giới ưu tú. Hoặc thảo luận về tình yêu, những quyền của đàn bà, việc tự sát, hoặc nghĩa vụ Nho giáo của đàn bà, những văn viết của thời kì muộn hơn chuẩn đoán tinh tế nhiều “căn bệnh” tác động lên đàn bà Việt dù một số phương thuốc được gợi ý (chẳng hạn như bỏ gia đình) bây giờ dường như không thực tế.

Luận văn này sẽ không chỉ phân tích một tập hợp những văn bản về địa vị của đàn bà trong thời Việt nam thuộc địa. Nó cũng thăm dò vấn đề về cách nào để tiếp cận những văn bản này và người Việt thời đó đọc chúng ra sao. Hướng tới mục đích này, tôi sẽ mô tả mối quan hệ của những văn bản được lựa chọn với một “văn hoá in ấn” hiện xuất, cố định giá sự hưởng ứng của độc giả tới những văn bản, và thảo luận về cộng đồng đàn bà thiết lập thính giả (nhưng không chỉ) chính về cả hai tờ báo này. Thay vì thông giải những văn bản như thể chúng không nhập thể trong thời gian và không gian, bài viết này áp dụng một lối tiếp cận theo lịch sử. Như nhà sử gia Pháp Roger Chartier đã cho rằng, chúng ta phải kết nối thế giới biểu tượng của văn bản với những thực hành được điều kiện hoá theo lịch sử giúp mang ý nghĩa tới việc đọc. Tôi sẽ quan tâm đặc biệt tới mối quan hệ giữa việc đọc và ngữ cảnh của nó trong khi thăm dò những cung cách mà việc đạt tới chữ in và “văn hoá in ấn” đã chuyển đổi từ 1918 tới 1934. Thực sự, một sự hiểu biết sơ sài về những khác biệt trong văn hoá in ấn của mỗi thời kì, và mối quan hệ của độc giả với chữ in, giúp chúng ta đặt định những văn bản trong khung cảnh thích hợp của chúng. Câu hỏi trung tâm dẫn dắt Chartier trong những điều tra về nước Pháp thời Chế độ Cũ (Ancien Regime, tức thời Quân chủ) cũng hướng dẫn tôi ở đây: Sự lưu thông gia tăng của chữ in đã biến cải những dạng thức của xã hội tính, cho phép những cung cách mới về suy nghĩ, và làm thay đổi những tương quan về quyền lực ra sao?”[2]

 

Sự hưng khởi của “văn hoá in ấn”

Việt nam từ lâu đã sở hữu một giới biết chữ sử dụng những văn bản được viết, được in, và được khắc (văn bia). Tuy nhiên, so sánh với Trung quốc, ít văn bản in được lưu thông ở Việt nam cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20. Chỉ trong thập niên 1920 mới có những số lượng lớn báo hàng ngày, tạp chí, tạp chí minh hoạ, và sách bắt đầu xác nhận đời sống công chúng và gia đình Việt. Ngay cả khi văn hoá in ấn này bắt đầu nở rộ, phương tiện truyền khẩu về truyền thông chiếm ưu thế. Tuy nhiên, thay vì nhìn ra một sự phân li giữa những cõi truyền khẩu và văn viết, tốt hơn là xem mối quan hệ giữa truyền khẩu và văn viết theo hạn từ sự tương nhập về những phương cách truyền thông.

Những văn bản in ấn kết nối tiếng Việt với vài khối văn hoá. Vào năm 1918, nhiều người trong giới biết chữ tự coi mình là thành phần của một khối Đại Đông Á về học thuật. Phong trào cải cách 1898[3] và phong trào Văn hoá Mới[4] ở Trung quốc và Công cuộc Duy tân[5] ở Nhật bản, đã thiêu đốt ý thức của giới trí thức như Phan Bội Châu. Những thành viên trẻ hơn của giới ưu tú trí thức Việt có cơ hơn để nhìn trực tiếp tới phương Tây (và đặc biệt là Pháp) để tìm cảm hứng trong những vấn đề chính trị và văn hoá. Cuối cùng, người Việt rút ra từ di sản văn hoá của chính họ, phần lớn di sản đó là truyền miệng. Với những sự xuất bản như Việt nam phong tục của Phan Kế Bính, họ bắt đầu nhìn nhận “những truyền thống” dân gian như một nguồn mạch của căn cước Việt và so sánh chúng với những cung cách phương Tây[6]. Đây không phải là chỗ để nhìn sâu vào sự đan bện của những mối văn hoá khác nhau này. Tuy nhiên, như tôi sẽ thảo luận sau đây, thập niên 1920 và 1930 đã thấy một chuyển đổi khỏi khối học thuật Đông Á tới khối học thuật phương Tây và Việt nam. Trong tiến trình tái định hướng đó, ý thức Việt hiện đại–hoặc, chính xác hơn, những lối tiếp cận cạnh tranh với tính hiện đại–đã hình thành.

Đọc thêm trên PBVH

1.Vấn đề nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ XX

2.Dòng báo phụ nữ trước cách mạng tháng Tám năm 1945

Vào năm 1918, ít đàn ông Việt–và thậm chí còn ít đàn bà hơn–có thể đọc tiếng Việt (hoặc tiếng Trung, hay tiếng Pháp) trôi chảy. Trong những năm từ 1918 tới thập niên 1930, Việt nam đã thấy một sự bùng nổ nhỏ về sách báo in trong dạng những cuốn sách, sách nhỏ, truyền đơn, và báo chí. Một bài báo năm 1934 trên tờ Phụ nữ tân văn liệt kê 155 tờ nhật báo đã được xuất bản trong nước cho tới ngày đó, phần lớn từ thập niên 1920 trở đi.[7] Một số trong những sách báo in này đã nêu ra vấn đề về địa vị của đàn bà trong xã hội: như David Marr ghi nhận:

Tới thập niên 1920, “đàn bà và xã hội” đã trở thành một thứ gì đó của một tiêu điểm quanh đó những đề xuất khác thường xoay quanh. Hàng trăm cuốn sách, sách nhỏ, và các bài báo được xuất bản trên khắp mọi phía. Đàn bà trở nên tự ý thức như một nhóm xã hội với những quan tâm, khiếu nại, và yêu cầu đặc thù.[8]

Cùng với sự tăng trưởng trong sản xuất báo chí và sách đọc, một bầu khí quyển công cộng phát triển được định nghĩa bởi sự truyền bá về sự hiểu biết được viết và được in. Đọc báo chí, sách, và truyền đơn đưa người ta vượt qua thế giới của sự tiếp xúc mặt đối mặt và kết nối họ với một cộng đồng độc giả rộng lớn hơn. Bầu khí quyển công cộng này vượt ngoài những trung tâm thành phố lớn. Chẳng hạn, độc giả của tờ Nữ giới chung và tờ Phụ nữ tân văn rải rác ở những phần khác của Đồng bằng Cửu long và cả nước. Hà nội và Sài gòn là những trung tâm chính, nhưng không phải duy nhất của việc sản xuất và tiêu thụ văn bản. Những độc giả này đến từ nhiều bối cảnh đa phức. Trong khi một số độc giả là người Pháp và người Hoa, thì đa số là người Việt.[9] Sự phát triển của bầu khí quyển công cộng này là một bước quan trọng trong sự tăng trưởng về một cảm thức về cộng đồng, một giai đoạn chuyển tiếp giữa những phong trào địa phương hay những hội kín (chẳng hạn Thiên địa hội) và sự xuất hiện của những dạng thức có tổ chức khác như chính đảng hoặc công đoàn.

Bầu khí quyển công cộng trong đó công chúng phát tiết những suy nghĩ mở rộng tầm ảnh hưởng của nó bất kể những toan tính do guồng máy thực dân Pháp để kiểm duyệt chữ in và để ban bố những hạn từ của những tranh luận chính trị và xã hội. Như thế, báo chí đã vận động dân chúng tham dự tang lễ năm 1926 của Phan Châu Trinh. Bầu khí quyển công cộng này cũng tác động lên những địa hạt hoạt động khác. Chẳng hạn, trong một cung cách có giới hạn, tiểu thuyết đã mang đàn bà từ miền Bắc và miền Nam lại với nhau, và giúp họ phát triển những hiểu biết mới về căn cước của đàn bà. Các nhà sư đã dịch những văn bản Phật giáo từ chữ Nho sang tiếng Việt và bắt đầu xuất bản những tạp chí Phật giáo. Những sự xuất bản này đóng một vai trò chìa khoá trong việc lan truyền tư tưởng Phật giáo và trong việc cho một số lớn hơn những người Việt tiếp cận với những tranh luận về giáo lí và về vị trí của Phật giáo trong xã hội.[10]

Một sự tăng trưởng mau chóng trong từ vựng Hán-Việt, đã giúp độc giả mô tả và phê bình xã hội mới đang định hình, đi kèm việc lan rộng của chữ in. Chẳng hạn, trong năm 1918, nhiều quan niệm mà người Việt ngày nay coi là đương nhiên khi đó còn lạ lẫm với hầu hết những người đọc biết chữ. Những từ như chủ nghĩa, chính phủ, chính sách, xã hội, thuộc địa, và bình quyền “dường như xa lạ cả với mắt và tai.”[11] Một số những từ này đã có những từ Việt tương đương thích hợp, một số từ này giới thiệu những khía cạnh mới của ý nghĩa vào trong tiếng Việt, trong khi những từ khác là những quan niệm hoàn toàn mới. Một bài báo trên tờ Nữ giới chung (1918) ghi đậm sự xa lạ của những quan niệm như thế khi nó cung cấp những lời giải thích cho nhiều từ ngữ khó.

Trong khung cảnh của tờ báo này, điều đánh động độc giả là con số những khái niệm liên quan tới chính trị nói chung và những quyền của đàn bà nói riêng mà nghe ra lạ lẫm với hầu hết độc giả năm 1918. Những độc giả này đơn giản phải vật lộn qua các trang của tờ Nữ giới chung–hoặc những tờ báo khác–để hiểu các thảo luận về những chủ đề như thế. Hơn thế nữa, hầu hết người Việt không biết một loạt từ ngữ mà ngày nay chúng ta giả thiết một công chúng biết chữ hẳn phải biết–những từ như xuất bản hoặc đoạn văn. [12] Chỉ hơn mười năm sau, tình hình này đã thay đổi một cách triệt để. Bây giờ các nhà báo thường sử dụng nhiều khái niệm đồng nhất, trước đây từng nghe ra xa lạ, để mô tả xã hội, phê bình chính phủ, và tranh đấu cho những quyền của đàn bà. Nhà nước thực dân khuyến khích tiến trình này bằng cách giúp phổ biến một từ vựng chính trị. Quan trọng hơn, Việt nam đang phát triển một “văn hoá in ấn” phần nào tự chủ với nhà nước thực dân, và nhiều từ ngữ Hán-Việt mới được chiếm hữu đã chứng tỏ hữu ích trong thuyết ngôn công cộng. Các nhà văn đã làm đầy tờ Phụ nữ tân văn với những bài báo có cách hành văn trong sáng để thảo luận bình quyền và vai trò của đàn bà trong xã hội. Mười năm trước đó, độc giả (và thính giả) hẳn phải thấy những tiểu luận như thế tăm tối.

Sự tăng trưởng đột ngột của một từ vựng Hán-Việt hiện đại và của sách báo in không nên làm chúng ta không thấy tầm mức hạn chế của những sự phát triển này. Giai cấp, giới tính, và địa lí vẫn thu hẹp việc biết chữ. Trong những năm đôi mươi của thế kỉ này, việc sử dụng chữ latinh hoá [quốc ngữ] là phổ biến nhất trong hành chính, mặc dầu tình hình này đang thay đổi vì ngày càng nhiều người đi học đọc bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Trong khi ít người Việt là độc giả thông thạo của quốc ngữ, nhiều người bị tác động bởi việc sử dụng nó (chẳng hạn, trong việc ghi chép văn tự mua bán đất đai, bằng cách nghe những tài liệu và báo chí được đọc lớn tiếng lên, và qua việc sử dụng ngày càng tăng bởi tín đồ Cao đài và Phật tử). Như thế chúng ta phải gia giảm với những tác giả hàm ý rằng vì quá ít người Việt biết chữ, quốc ngữ không thể có tác động đáng kể lên xã hội Việt cho tới khi chiến dịch xoá mù chữ được thực thi từ cuối thập niên 1930 tới 1946. Sự xác quyết đó không có cơ sở trong nghiên cứu mang tính thuyết phục.

Chúng ta có thể thiết lập những kết nối thử nghiệm giữa sự phát triển của một “văn hoá in ấn” và sự hưng khởi của một giới tư sản bản địa. Trong nghiên cứu mẫu mực của ông về những giai cấp xã hội ở Việt nam, Dumarest biện luận rằng “những chi phí đa phức trình ra cả sự xa hoa–chắc chắn, khá khiêm tốn–và sự Âu hoá tăng trưởng của giới tiểu tư sản; anh ta bỏ rơi nhà hát An nam cho các rạp chiếu bong; anh ta hút thuốc và đọc báo chí.”[13] Dựa trên giới tiểu tư sản này, Dumarest đặt một “giới tư sản có tiền” thường chiếm được tiền tài từ đất đai, và một “giới tư sản trí thức.” Trong cuối thập niên 1920 và thập niên 1930, những giai cấp này tạo thành quan chúng chính của chữ in. Họ cũng theo sau sát nhất những trào lưu phương Tây: thực sự, Dumarest biện luận rằng kẻ nào thuộc giai cấp càng cao, thì kẻ đó càng có cơ sao chép những tập quán ăn mặc của châu Âu.[14] Chữ in phục vụ như một đại lộ chính của truyền thông cho những giai cấp này. Những bài báo được chiều theo những mối quan tâm của tư sản và tiểu tư sản, và những quảng cáo hiện đại cố gắng đề cao những thị kiến mới trong mọi thứ từ xe hơi cho tới thuốc lá và kem bôi mặt.

Những quan sát này về những sự phát triển trong văn hoá in ấn của thập niên 1920 và 1930 cho chúng ta một khung cảnh để đánh giáo hai tờ báo Nữ giới chung (1918) và Phụ nữ tân văn (1929–1934). Dựa trên những nội dung của chúng, dường như giới đàn bà ưu tú là những độc giả chính của cả hai tờ báo này. Sự khái quát hoá này áp dụng nhiều cho tờ Nữ giới chung hơn là tờ Phụ nữ tân văn, vì tờ báo sau phủ lại một màng lưới rộng hơn về những chủ đề xã hội, chính trị, văn hoá. Mặc dầu một số độc giả đóng góp bài từ những thị trấn tỉnh lẻ trong vùng Đồng bằng Sông cửu long, Phnom Penh, và Hà nội, giới độc giả của tờ Nữ giới chung tuyệt đại đa số căn bản sống ở Sài gòn. Đối lại, giới độc giả của tờ Phụ nữ tân văn, mặc dầu tập trung ở Sài gòn và vùng Đồng bằng Sông cửu long, về phạm vi thì rộng lớn hơn và mang tính toàn quốc hơn. Đối với một phạm vi lớn hơn nhiều so với tờ đi trước, Phụ nữ tân văn phục vụ để kết hợp đàn bà trên khắp miền Nam như một cộng đồng độc giả. Trong khi Nữ giới chung tồn tại chưa đến một năm, lại khó đọc, và không có cơ hội để thiết lập một giới độc giả trung thành, Phụ nữ tân văn kéo dài khoảng năm năm, thiết lập được một mạng lưới phát hành lớn hơn nhiều, và sử dụng tiếng Việt đơn giản trong nhiều bài báo của nó.

Trong việc đọc hai tờ báo này để nghiên cứu, tôi không giả định một sự trọn vẹn cho mỗi văn bản mà tôi đã gặp. Những sự biện luận mảnh mún, không định hình bởi và về đàn bà nương náu trên các trang mạng lớn hơn về những thực hành văn hoá và những tranh luận xã hội. Khi đọc những văn bản này, chúng ta phải giữ trong trí rằng chúng được in, và như vậy được chiếm hữu và truyền tải trong những cung cách chuyên biệt. Hơn thế nữa, với những thay đổi lớn trong ngôn ngữ Việt, những quan niệm cá thể thường thiếu vắng những nghĩa cố định. Những nghĩa văn bản thì không “thấu suốt.” Những phương tiện truyền thông đã mang tới và đóng khung những văn bản này để tác động sự tiếp nhận chúng. Gerard Génette đã viết rằng cái cận văn bản–tức là tựa đề, phụ đề, những quảng cáo, “và những loại tín hiệu phụ thêm khác… cho văn bản một cái khung (biến thiên) và thỉnh thoảng một lời bình luận.”[15]Nhiều tín hiệu cận văn bản như thế đóng khung những văn bản vào tờ Nữ giới chung và tờ Phụ nữ tân văn.

Đọc những văn bản này là một hành vi của kích động về phần độc giả mà ngày nay chúng ta có chiều hướng quên đi mất: sống trong những xã hội biết chữ cao độ như Việt nam, Pháp, và Mĩ ngày nay, chúng ta có khuynh hướng coi việc đọc và viết là đương nhiên.

 

Thế giới của độc giả

Độc giả Việt mang những chuyện đời đặc thù, những phong cách đọc, những kĩ năng thông giải và những nhận thức về quyền lực của chữ viết và chữ in tới cho những văn bản. Bất hạnh thay, những học giả khi phân tích những văn bản Việt đã không thảo luận việc đọc hay mối quan hệ độc giả-văn bản. Họ đã giả thiết rằng trong quá khứ người Việt đọc những văn bản này trong cùng kiểu như người Việt, người châu Âu, và người Hoa kì ngày nay. Tiết mục này sẽ thảo luận vấn đề về việc đọc và chuyên biệt hơn, cung cách mà đàn bà Việt tiếp cận những văn bản.

Trong hai mươi năm vừa qua, nhiều nhà lí thuyết văn học và một ít sử gia phương Tây đã chuyển đổi sự chú ý của họ từ một tiêu điểm chuyên biệt vào văn bản như chốn của ý nghĩa tới một sự tiếp cận nhấn mạnh mối quan hệ độc giả-văn bản.[16] Chartier, người tôi đã đề cập, biện luận rằng “một lịch sử về những phong cách đọc phải vạch ra những thiên hướng chuyên biệt đánh dấu những cộng đồng độc giả và những truyền thống về việc đọc của họ” và những thứ này, khi khuếch trương, cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự thiết dựng về ý nghĩa văn bản.[17]

Trong khung cảnh thuộc địa, sự chuyển đổi hướng tới độc giả hình thành một phần của một mối quan tâm rộng hơn trong những cung cách mà những quan chúng (dù là độc giả, thính giả, hoặc người quan sát) hiểu những văn bản và những cách trình bày.[18] Trong trường hợp Việt nam, nó tập trung quan tâm vào vai trò tích cực mà người Việt đã chiếm hữu những ảnh hưởng từ nước ngoài. Hiểu những ảnh hưởng về văn học và hệ tư tưởng trong  khung  cảnh nguyên thuỷ của chúng không nhất thiết giúp chúng ta hiểu cung cách mà người Việt đã đổi kiểu ý nghĩa của chúng trong một khung cảnh khác triệt để. Chúng ta cần hiểu không chỉ những ý nghĩa vốn có trong những văn bản khác nhau mà cái tác dụng một “chân trời mong đợi”[19] khác–chẳng hạn, một kỉ nguyên lịch sử khác và những quy ước hệ tư tưởng và mĩ học của nó–có trên sự hiểu biết về tác phẩm. (Chẳng hạn, chúng ta có thể lương thiện nói rằng sự tán dương của Chủ nghĩa Lãng mạn về cá nhân được hiểu trong cùng cung cách ở Paris thế kỉ 19 và Sài gòn thế kỉ 20 không? Ý tưởng này nghe ra lố lăng.) Mặc dầu chúng ta không thể biện luận một cách máy móc rằng phân cách xã hội quyết định sự hiểu biết về những văn bản, cũng đúng không kém phần là giới tính và cấp bậc xã hội tác động lên việc đọc và sự tiếp nhận sách báo in. Nói như thế rồi, và mặc dầu trong nhiều trường hợp người đọc đọc lớn cho những người khác trong một nhóm, tiêu điểm những nhận xét của tôi trong những đoạn tiếp theo là về độc giả cá thể. (Kinh nghiệm lắng nghe của nhóm–dù là trong một khung cảnh nghi lễ hay trong một khung cảnh người nghe có thể chất vấn với người đọc–giúp truyền đạt những ý tưởng vượt xa con số nhỏ nhoi những người biết chữ.)

Từ năm 1918 tới thập niên 1930, thế giới của độc giả Việt thay đổi một cách sâu xa. Sự hưng khởi của văn hoá in ấn có tác dụng lớn nhất lên–nhưng không bị giới hạn vào–giới ưu tú của các thành phố. Tôi tò mò một cách riêng về những độc giả nữ, hợp thành quan chúng chính của hai tờ báo mà tôi sẽ thảo luận sâu sau đây. Đối với đàn bà biết đọc và đầy đủ tiền để mua sách báo in, báo chí và sách mở ra một thế giới rộng lớn hơn. Tri thức và những kĩ năng thông giải họ mang tới những văn bản đóng một vai trò quan trọng trong việc cấu trúc hiểu biết của họ về chữ in.

Trước tiên để hiểu đàn bà như độc giả và nhà văn chúng ta cần nắm vững vài nét chủ chốt về địa vị của họ trong xã hội. Những vai trò giới tính đã tiến hoá từ 1918 đến 1934, nhưng ở cả hai thời điểm đàn bà giới ưu tú cầm giữ quyền uy lớn hơn nhiều trong nhà so với trong công cộng. Năm 1918, Sương Nguyệt Anh[20] bình luận rằng “đàn bà như một ngọn đèn: trong nhà họ chiếu sáng rực rỡ, nếu bị đưa ra đường họ nhạt nhoà đi….”[21] Sự tương phản biểu tượng giữa đàn bà/mái nhà: đàn ông/công cộng đã khuôn đúc sự phát triển về việc đọc và viết của đàn bà. Nó tác động lên mọi thứ từ những loại sách mà các tác giả viết cho đàn bà tới những chủ đề nào mà đàn bà nghĩ họ có thể thảo luận. Chẳng hạn, Sương Nguyệt Anh phát biểu rằng tờ báo của bà, trong khi đưa ra vấn đề về sự giáo dục của đàn bà, “sẽ không dám chen vào chính trị, và cũng không liều lĩnh cạnh tranh với đàn ông.”[22] Tới thập niên 1930, đàn bà ít dè dặt hơn nhiều để đề cập những chủ đề chính trị và dấn vào việc thảo luận về những đề xuất công cộng. Tuy nhiên, nhiều đàn ông nhìn họ như những kẻ đột nhập vào thế giới báo chí do đàn ông thống trị. Thậm chí trong thập niên 1930, những nhà biên tập của tờ Phụ nữ tân văn thỉnh thoảng phải tự vệ chống lại những nhà báo nam có khuynh hướng chế nhạo nữ quyền của họ. Khi một bỉnh bút của tờ Phụ nữ tân văn tiếp tục vòng nói chuyện trong năm 1934 để đề cao nữ quyền (và tờ báo mà cô phục vụ luôn thể), một số phóng viên chất vấn đạo đức của cô. Hoàn toàn rõ ràng, đàn bà đã làm những bước tiến kể từ năm 1918, nhưng họ vẫn bị coi như những ngọn đèn tốt nhất là chiếu sáng trong nhà. Tóm lại, bầu khí quyển công cộng đã bị giới tính hoá từ năm 1918 tới 1934, và tình huống này chỉ đang thay đổi một cách chậm chạp.

Chủ nghĩa báo chí của đàn bà đã đối mặt với một trở ngại lớn hơn: ít đàn bà Việt có thể đọc. Họ có thể thường thuộc về giới ưu tú–mặc dầu một số đàn bà nghèo cũng học được kĩ năng này[23]. Việc học đọc thì lí thú–nếu thỉnh thoảng cũng gây bối rối. Tuyết Mai bày tỏ tốt đẹp những cảm xúc này khi cô chia sẻ những kinh nghiệm về việc đọc lần đầu của mình với một quan chúng độc giả tờ Nam phong:

Tôi đã nghiên cứu trong một thời gian dài nhưng chỉ đúng khi bắt đầu học quốc ngữ…. Cho tới lúc đó đó tôi chỉ từng học tiếng Pháp. Mặc dầu quốc ngữ được dạy trong trường, người ta chỉ được học nó một lần một tuần, và một trong những lần đó cũng là giờ chúng tôi đùa chơi.

Tôi nghĩ về việc quốc ngữ quý báu đối với chúng ta ra sao, thiết yếu thế nào, tuy vậy chúng tôi chỉ có một giờ mỗi tuần để học nó. Cái giờ đó bị coi thường với sự khinh bỉ. Tôi vẫn tự hỏi tại sao. Khi tôi suy nghĩ về tình huống này, tôi cảm thấy chán ngán…. Tôi thấy trống rỗng trong lòng. Tôi vẫn tự hỏi sao chữ viết phương Tây có thể quá được tôn trọng trong khi chữ viết của chính chúng ta lại quá bị coi khinh!

… Tôi quá may mắn vì thầy của tôi nhấn mạnh, trong cách nghĩ của ông, tràn đầy âu lo, để dạy chúng tôi quốc ngữ. Giờ đây giờ dạy quốc ngữ đã trở thành quan trọng và quý giá, và không lâu nữa nó không còn bị thờ ơ như trong quá khứ. Tôi tràn ngập vui thích và xúc động. Vì vậy tôi bắt đầu học quốc ngữ.[24]

Tôi mong muốn tô đậm vài điểm về đoạn này. Người đọc bị gây ấn tượng bởi quốc ngữ được nhìn nhận quý báu ra sao đối với Tuyết Mai. Cùng lúc, nhà văn của đoạn tiểu luận này cảm thấy rằng người Pháp nhìn quốc ngữ như thấp kém hơn so với chữ viết của họ. Thực sự, nhiều người Việt cảm thấy rằng ngôn ngữ của họ thì thấp kém hơn so với tiếng Pháp. Trong một bài báo năm 1934, nhà báo Nguyễn Thị Kiêm[25] đề cập rằng bà đã hỏi vài đàn bà giới ưu tú tại sao họ không bao giờ sử dụng “ngôn ngữ Annam” hoặc đọc sách viết bằng quốc ngữ; họ trả lời rằng “tiếng Annam khó hiểu; nó không rõ ràng chút nào!”[26] Sự nhận thức về việc thấp kém hơn của ngôn ngữ có một ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài lên những cung cách mà giới ưu tú Việt kết nối việc đọc với sự thống trị thực dân.

Độc giả nữ không mang những lịch sử đời sống và tri thức nền tảng tới văn bản giống như đàn ông. Vị thế này dẫn tới các bài báo giải thích việc đọc là gì và nó được làm ra sao–mỉa mai của những sự mỉa mai, bởi cung cách chính mà những bài báo có thể được hiểu là qua việc đọc chúng! Viết trong năm 1933, một tác giả kí những bài báo của cô (anh?) là “T.V.” chỉ ra rằng

đọc không phải đơn giản là cách mở bất cứ cuốn sách nào ra, đặt mắt trên nó, và nghĩ về nó. Việc đọc cũng đòi hỏi việc sử dụng một phương pháp.

… tất cả sách có một tổ chức, nghĩa là có một sự khởi đầu và một kết thúc. Người ta nên đọc từ chương đầu tới chương cuối. Đừng nhảy lung tung khi đọc. Và đừng đọc nửa chừng, và rồi quay lại từ đầu.

Còn về những sách không có tổ chức, thì người ta chắc chắn không phải đọc chúng trong cung cách như thế. Chẳng có gì khác biệt dù là bạn muốn đọc nửa cuốn, hoặc nửa đoạn. Chẳng hạn, trong một tuyển tập thơ, bút kí, hoặc tập truyện ngắn, không có một lí do bó buộc nào để đọc từ đầu tới cuối cả.[27]

Lời khuyên này dường như hiển nhiên với chúng ta–nhưng nó trình ra rằng nhiều độc giả đã không làm chủ cái họ xem như là những thực hành căn bản. Tác giả tiếp tục chỉ ra rằng những thể loại khác nhau của sách báo đòi hỏi những phương pháp khác nhau. Thơ và ca khúc nên được học thuộc lòng, trong khi triết học và khoa học nên được đọc những ý tưởng chính. Khi đọc những sách xưa, người ta nên nỗ lực hiểu chúng với đôi mắt của người thuộc thời đó.[28]

Từ những câu trích dẫn trước, chúng ta có một cảm thức rằng việc đọc vừa được yêu dấu vừa được thực hiện có phương pháp. Độc giả cũng nhận biết rằng nó có một chiều kích đạo đức. Trong một bài báo Nam phong 1930, một nữ sĩ nổi tiếng từ Hà tiên, là Mộng Tuyết, đã xác quyết rằng

Bằng việc đọc sách chúng ta có thể mở mang trí hoá, hiểu biết quá khứ và hiện tại, thấy được những điều quan tâm và học chúng, và cảnh giác về những thứ tầm thường. Thông qua việc đọc một người ngu ngốc có thể trở thành khôn ngoan. Sự minh triết như thế là đạo đức và thành thực, và khác với sự tinh ma và tính lường gạt của người vô học.[29]

Câu trích dẫn ở trên thì thuộc giới ưu tú và có đạo đức một cách khuôn sáo. Mặc dầu do một người đàn bà viết, nó có thể đã tới từ cây bút của một người đàn ông. Nhưng đàn bà hẳn xem rằng việc đọc và việc học phục vụ những chức năng khác nhau cho đàn ông và đàn bà. Ngày càng, thay vì xử sự như người tiêu dùng bị động của chữ viết và chữ in, đàn bà xem việc đọc trong hạn từ về những quyền lợi với bản thân họ. Tới năm 1933, một bài xã thuyết trên tờ Phụ nữ tân văn hô hào đàn bà đọc sách từ một quan điểm phụ nữ: “khi các bạn gặp một cuốn sách hoặc tờ báo, hãy tự hỏi: [nó]… hỗ trợ hay làm hại quyền lợi của chúng ta, [những quyền lợi của] phong trào phụ nữ?[30] Thái độ này có thể đã là một phản ứng với sự kiện rằng hầu hết sách báo in đều nhắm vào đàn ông.

Từ năm 1918 tới thập niên 1930, việc đọc nói chung làm tròn những chức  năng mô phạm hoặc mang lại thành tích. Những văn bản thường mô tả việc đọc như một hoạt động của đàn ông. Tuy nhiên, những nhà văn nam thỉnh thoảng khuyến khích đàn bà đọc, chính bởi vì những hiệu quả tốt khả dĩ của nó, nhưng họ phát ra một thông điệp hàm hồ bởi sự cảnh báo về những nguy cơ của việc đọc. Chẳng hạn, một người bình luận nam biện luận một cách chống chế rằng nói chung giáo dục giúp đỡ đàn bà kiềm chế dục tình của họ, trong khi một bình luận nam khác khác nhắc nhở độc giả rằng vài thiếu nữ đã tự tử ở Hà nội sau khi đọc những cuốn sách độc hại.[31] Sự hiểu biết đạo đức này về việc đọc, tốt nhất thì vẫn hàm hồ trong thông điệp của nó, đang thay đổi chậm chạp. Những bài viết của Sương Nguyệt Anh và Mộng Tuyết chỉ ra rằng việc đọc có thể phát triển cả đạo đức và luôn trí tuệ của đàn bà. Đến thập niên 1920 và 1930, lời kêu gọi đàn bà hãy có giáo dục và học đọc thì thông thường, dù cho những kết quả vẫn chỉ là sơ sài.

Trong các trang của tờ Nữ giới chungPhụ nữ tân văn và luôn cả những tờ báo khác, vai trò đạo đức của việc đọc và việc viết thường được nhấn mạnh cùng lúc rằng việc đọc ngày càng ít bị xem như một hoạt động bị giới tính. Hơn nữa, trong khi dường như có sự đồng ý về nhu cầu đạo đức, không có đồng thuận nào về một đạo đức như thế phải ra sao. Kết quả là sự hỗn mang, khi các nhà văn cố gắng tạo nghĩa cho những ảnh hưởng phương Tây, Trung quốc, và Việt nam lên xã hội Việt và phác hoạ một dòng chảy hiện đại–nhưng mang tính Việt nam.

(Còn một kỳ nữa)

 

Bản dịch tại Sài gòn ngày 10/6/2013

Hồ Liễu dịch. 

Nguồn: Trích trong cuốn Những tiểu luận vào trong những quá khứ của Việt nam (Essays into Vietnamese Pasts), do K. W. Taylor và John K. Whitmore biên tập, Chương trình Đông Á học, Đại học Cornell, Ithaca, New York, 1995.


*Shawn McHale, Đại học Case Western Reserve

[1] Tiểu luận này xây dựng dựa trên sự phân tích của David Marr về văn viết Việt của thập niên 1920 và 1930 về “vấn đề phụ nữ”. Xem David Marr, Truyền thống Việt nam bị thử thách 1920–1945/ Vietnamese Tradition on Trial 1920–1945 (Berkeley và Los Angeles: Ấn quán Đại học California, 1981), chương 5, “Vấn đề phụ nữ”. Chương này của Marr là sự thảo luận tốt nhất vượt trội về phạm vi rộng của sách báo trong chủ đề này.

Tôi xin cảm tạ những bình luận hữu ích của Keith Taylor, Thaveeporn Vasavakul, và nhiều thành viên khác của Nhóm Việt nam học thuộc Đại học Cornell về bài viết này.

[2] Roger Chartier, “Thế giới như đại diện” (Le monde comme représentation) Kỉ yếu về Kinh tế, Xã hội, Văn minh (Annales E.S.C. [É conomies, Socíetés, Civilsations]) (số ra tháng 11–12, 1989), trang 1509, tôi cũng chịu ơn lớn nhờ những tác phẩm khác của Chartier, đặc biệt Những cội nguồn văn hoá của Cách mạng Pháp (The Cultural Origins of the French Revolution), do Lydia Cochrane dịch (Durham và London: Ấn quán Đại học Duke, 1991). Chartier không đặt định một thực tại xuyên lịch sử mà người ta thích hợp một việc đọc văn bản vào đó. Trái lại, bằng cách nhấn mạnh những đặc thù của những thực hành văn hoá, ông khích lệ giới sử gia phân tích cẩn trọng hơn “lịch sử địa phương” về việc đọc và sản sinh văn bản.

[3] Đây là phong trào Mậu Tuất chính biến (ND)

[4] Còn gọi là Ngũ tứ vận động, để kỉ niệm việc khởi xướng dùng văn bạch thoại thay cho cổ văn ngày 4/5/1919, nhưng Trung quốc áp dụng cách gọi niên đại của phương Tây, tức tháng trước ngày sau nên mang tên Ngũ tứ. (ND)

[5] Công cuộc này do Minh trị Thiên hoàng vào năm 1867 ở Nhật. (ND)

[6] Sẽ là lí thú để vẽ sơ đồ sự hưng khởi của văn học dân gian Việt nam hiện đại, chẳng hạn, từ Việt nam phong tục của Phan Kế Bính (1917) qua Việt nam Văn hoá sử cương của Đào Duy Anh (1938) tới a) những lối tiếp cận hiện hành mang tính dân gian và lịch sử với xã hội Việt–ví dụ như Trần Quốc Vượng; và b) những văn bản Cộng sản cố gắng chiếm hữu “những truyền thống” dân gian qua sự ca tụng về quần chúng.

[7] “Báo chí ở nước ta,” trên tờ Phụ nữ tân văn, số ra ngày 18 tháng Một năm 1934, trang 6. Con số này chắc chắn còn thiếu: một nguồn tin khác liệt kê 158 tờ “cách mạng” được xuất bản từ 1925 tới tháng Sáu 1936. Xin xem Nguyễn Thành, Báo chí cách mạng Việt nam 1925–1945 (Hà nội, Nxb Khoa học Xã hội, 1984), trang 324–333.

[8] Marr, Truyền thống Việt nam bị thử thách 1920–1945, trang 191.

[9] Hầu như không có gì được viết về người Khmer sống ở vùng Đồng bằng Sông Cửu long. Họ dường như không viết hay in ấn nhiều bằng tiếng Khmer.

[10] Để đo lường tầm quan trọng của chữ latinh hoá (quốc ngữ) đối với việc chấn hưng Phật giáo trong thập niên 1920 và thập niên 1930, xin xem nhiều truyền đơn Phật giáo trong Kho lưu trữ Đông dương (Fonds Indochinois), Thư viện Quốc gia (Bibliothèque nationale), Paris. Cũng xin xem Lịch sử Phật giáo Việt nam (Hà nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1988), đặc biệt các trang 431–434. Bất hạnh thay, nguồn tin này biện luận (một cách không thuyết phục) rằng chủ nghĩa cộng sản đã ảnh hưởng đáng kể lên việc chấn hưng Phật giáo từ thập niên 1920!

[11] [Vô danh], “Tiểu từ điển”, Đại việt tạp chí 1 (tháng Một năm 1918): trang 102. Từ điển này, được đăng nhiều kì trong bốn số đầu tiên của tạp chí, liệt kê khoảng chừng 350 từ mới hoặc lạ lẫm. Cũng xin xem một số tiểu luận trong những số đầu tiên của tờ Nữ giới chung, đã có cước chú với những lời giải thích cho những từ chưa quen. Để có một cảnh quan chung về chủ đề của sự thay đổi trong ngôn ngữ, xin xem chương xuất sắc của David Marr (“Ngôn ngữ và sự biết chữ”) trong Truyền thống Việt nam bị thử thách 1920–1945.

Một số từ ngữ mới đã giới thiệu vào trong ngôn ngữ được đặt ra hoặc được cho những nghĩa hiện đại bởi người Nhật, được tái giới thiệu vào trong chữ Nho, và rồi được đưa vào tiếng Việt.

[12] Như trên.

[13] André Dumarest, Sự hình thành những giai cấp xã hội ở xứ An nam (Formation de classes socials en pays annamite; Lyon: Nxb Ferreol, 1935), trang 234.

[14] Như trên, trang 201.

[15] Gérard Genette, Dấu thuỷ ấn: văn học bình phương (Palimpsestes: la littérapture au second degree, Paris, 1982), trang 9.

[16] Ba nhà đề xướng hàng đầu về một sự phê bình “hướng tới quan chúng” hơn là Wolfgang Iser, Hans Robert Jauss, và Stanley Fish. Để tìm đọc lối tiếp cận hiện tượng luận của Iser, mĩ học lịch sử về tiếp nhận của Jauss, và sự phát triển về khái niệm “những cộng đồng thông giải” (hay những cộng đồng chia sẻ những quy ước đọc) của Fish, xin xem Wolfgang Iser, “Tiến trình đọc: một lối tiếp cận hiện tượng luận”, trong Phê bình: độc giả-đáp ứng: Từ chủ nghĩa hình thức tới hậu cấu trúc (Reader-Respone: Criticism: From Formalism to Poststructuralism), biên tập Jane Tompkins (Baltimore: Ấn quán Đại học Johns Hopkins, 1980), trang 50–69; tiểu luận thường được trích dẫn của Hans Robert Jauss, “Lịch sử văn học như một thách thức với lí thuyết văn học,” trong tác phẩm của ông là Hướng tới một mĩ học về tiếp nhận/ Towards an Aesthetic of Reception (Minneapolis: Ấn quán Đại học Minnesota, 1982), trang 3–45; Stanley Fish, Có một văn bản trong lớp này không?: Quyền uy của những cộng đồng thông giải/ Is There a Text in This Class?: The Authority of Interpretive Communities (Cambridge: Ấn quán Đại học Harvard, 1980).

[17] Roger Chartier, “Thế giới như đại diện”, trang 1510.

[18] Một cách tiếp cận như thế cộng hưởng với những nghiên cứu sử gần đây bởi Vincente Rafael và Takashi đã nhấn mạnh những cung cách mà người bản địa đã chiếm hữu những ảnh hưởng bên ngoài qua “sự phiên dịch.” Xin xem Vicente Rafael, Khế ước với chủ nghĩa thực dân: Phiên dịch và cải đạo Kitô ở Xã hội Tagalog dưới sự cai trị của Tây ban nha thời kì đầu/ Contracting Colonialism: Translation and Christian Conversion in Tagalog Society Under Early Spanish Rule (Ithaca: Ấn quán Đại học Cornell, 1988), và Takashi Shiraishi, Một thời đại chuyển động/ An Age in Motion (Ithaca: Ấn quán Đại học Cornell, 1990).

[19] Trên hai thập kỉ trước đây, Hans Robert Jauss đề cấp tới vấn đề về những mong đợi thay đổi về phần độc giả và chúng tác động lên sự tiếp nhận về một văn bản ra sao. Mĩ học về tiếp nhận của Jauss toan tính cung cấp một cơ sở lí thuyết cho những sự hiểu biết lịch sử khác nhau về một tác phẩm được cho, biện luận rằng những tiếp nhận khác bị điều kiện hoá bởi “những chân trời mong đợi” khác về phần độc giả. Xin xem tuyển tập tiểu luận của Hans Robert Jauss, Hướng tới một mĩ học về tiếp nhận.

[20] Con gái Nguyễn Đình Chiểu, goá chồng, đứng ra làm tờ báo đầu tiên của đàn bà lấy tên là Nữ giới chung. Tên thật của bà là Nguyệt Anh, Sương có nghĩa là goá chồng. Ở Sài gòn, ngay tại Quận 1, có con đường mang tên bà suốt từ 1954 tới nay vẫn bị ghi sai là Sương Nguyệt Ánh. (ND)

[21] Sương Nguyệt Anh, “Nghĩa nam-nữ bình quyền là gì?”, Nữ giới chung, số ra ngày 22 tháng 2, 1918, trang 2.

[22] Sương Nguyệt Anh, “Lời tựa đầu”, Nữ giới chung, số ra ngày 1 tháng 2, 1918, trang 2.

[23] Một ví dụ thú vị là Nguyễn Thị Thập, sinh năm 1908, sau này trở thành chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam. Trong những hồi kí của mình bà đã viết rằng khi còn là một đứa trẻ:

Tôi say sưa đọc. Mỗi lúc tôi mang thúng chuối, hay trầu cau, tới chợ bán, tôi không dám ăn quá nhiều bánh: tôi muốn dành tiền mua sách để đọc. Những cuốn sách nhỏ và mỏng, như Võ đông sơ, Bạch thu hà; Vì nước hoa rơi; Giọt máu chung tình; và vân vân. Tôi đọc đi đọc lại chúng–Tôi chẳng bao giờ chán chúng cả.

Nguyễn Thị Thập, Từ đất Tiền giang ( chấp bút: Đoàn Giỏi) (Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1986).

[24] Tuyết Mai, “Bông hoa đầu mùa,” Nam phong 118 (tháng Bảy 1927), trang 526.

[25] Tức Manh Manh nữ sĩ (1914–2005), vào ngày 10/3/1932 khi Phan Khôi đề xướng thơ Mới, Manh Manh ủng hộ, hưởng ứng bằng việc gửi thơ đăng trên tờ Phụ nữ tân văn. Sau đó, nữ sĩ còn đăng đàn diễn thuyết vổ vũ cho phong trào này (khi ấy bà mới 18 tuổi). Trong khi những danh sĩ như Tản Đà cật lực chống đối. (ND)

[26] Nguyễn Thị Kiêm, “Sự học và việc làm của phụ nữ”, Phụ nữ tân văn, số ra ngày 15 tháng Ba, 1934, trang 5.

[27] T.V., “Câu chuyện đọc sách”, Phụ nữ tân văn, số ra ngày 21 tháng Chạp, 1933, trang 5.

[28] Như trên.

[29] Mộng Tuyết, “Bông hoa đua nở”, Nam Phong 146 (tháng Một, 1930), trang 11.

[30] Bài xã thuyết, “Chị em ta đối với báo chí và sách vở”, Phụ nữ tân văn, số ra 22 tháng Sáu, 1933, trang 2. In nghiêng theo nguyên văn.

[31] Thiếu Sơn, “Sự học và đàn bà”, Phụ nữ tân văn, số ra ngày 7 tháng Chín, 1993, trang 8; T.V., “Câu chuyện đọc sách,” Phụ nữ tân văn, số ra ngày 21 tháng Chạp, 1933, trang 6.

Nguồn: Bản dịch giả gửi  Phê bình văn học. Copyright © 2013 – Hồ Liễu &  TẠP CHÍ PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply