Kafka: Lòng nhẫn nại và “sự bất diệt” kinh điển (1/2)


(Trích Điển phạm phương Tây: Tác phẩm và trường phái qua các thời đại)

                                                            Harold Bloom

 

Bài dịch dưới đây là toàn bộ mục 20, thuộc chương III của cuốn Điển phạm phương Tây: Tác phẩm và trường phái qua các thời đại (Western Canon: The Books and School of the Ages) (1994) – một trong những công trình quan trọng của nhà phê bình người Mỹ đương đại nổi tiếng Harold Bloom. Trước nguy cơ những tác phẩm kinh điển cũ đang bị xem xét gạt ra khỏi chương trình khoa học nhân văn ở Hoa Kỳ, cuốn sách của Bloom ra đời như một “khúc bi ca cho điển phạm”, một tiếng nói thẳng thắn nhằm bảo vệ và gìn giữ những chuẩn mực văn chương thẩm mỹ. Trong cuốn sách này, ông đã liệt kê hàng trăm gương mặt thuộc kho tàng điển phạm phương Tây và tập trung khảo sát 26 tác giả mà ông cho là những đại diện tiêu biểu nhất cho các thời đại văn học: Shakespeare, Dante, Chaucer, Cervantes, Montaigne, Molière, Milton, Samuel Johnson và Goethe của thời đại Quý tộc; Wordsworth, Jane Austen, Whitman, Dickinson, Dickens, George Eliot, Tolstoy và Ibsen của thời đại Dân chủ; và Freud, Proust, Joyce, Woolf, Kafka, Borges, Neruda, Pessoa, Beckett của thời đại Hỗn loạn. Chúng tôi xin được giới thiệu phần viết về tác giả Franz Kafka trong công trình này.

*

Kafka: Lòng nhẫn nại và “sự bất diệt” kinh điển

(Trích Điển phạm phương Tây: Tác phẩm và trường phái qua các thời đại)

 

            Nếu muốn tìm một gương mặt tiêu biểu nhất cho văn chương thế kỉ này, có lẽ ta sẽ thấy mình lang thang vô vọng giữa muôn vàn những lựa chọn bị chối bỏ. Không biết chừng sang thế kỉ XXII, người đọc – nếu vẫn tồn tại người đọc theo cách hiểu của chúng ta – sẽ gạn lọc đến cả những Dante và Montaigne của thế kỉ XX (như Kafka và Freud chăng?). Trong cuốn sách này, tôi chọn ra chín tác gia hiện đại: Freud, Proust, Joyce, Kafka, Woolf, Neruda, Beckett, Borges và Pessoa. Tôi không quả quyết rằng họ là những thiên tài bậc nhất; họ có mặt ở đây để đại diện cho tất cả những người, ở một chừng mực nào đó, xứng tầm những nhà văn kinh điển của thời đại.

            Ngoại trừ Neruda và Pessoa, các nhà thơ cùng thời không có mặt ở đây là: Yeats, Rilke, Valery, Trakl, Stevens, Eliot, Montale, Mandelstam, Lorca, Vallejo, Hart Crane cùng nhiều người khác nữa. Bản thân tôi ưa chuộng thơ ca hơn tiểu thuyết và kịch, thế nhưng dễ thấy rằng ngay cả Yeats, Rilke và Stevens cũng không thể sánh bằng Proust, Joyce và Kafka trong việc biểu thị toàn vẹn tinh thần thời đại. W. H. Auden cho rằng Kafka là linh hồn độc đáo của thời đại. Hẳn vậy, cái định ngữ “kiểu Kafka” (Kafkaesque), như ta biết, đã hàm chứa một ý nghĩa lạ thường; dường như nó đã trở thành một thuật ngữ toàn cầu cho cái mà Freud gọi là “cái lạ lùng” (the uncanny) – cái hiện hữu vừa gần gũi, thân thuộc lại đầy cách xa, lạ lẫm. Nhìn từ khía cạnh văn chương đơn thuần, đây là thời đại của Kafka hơn là của Freud. Freud, người kế nhiệm kín đáo của Shakespeare, đã vẽ ra bản đồ tâm lý; còn Kafka lại ngụ ý rằng không thể trông chờ vào đó mà cứu rỗi bản thân, thậm chí là cứu rỗi bản thân khỏi chính mình.

            Để chứng minh vị trí trung tâm của Kafka trong điển phạm thế kỉ, cần khảo sát trên một diện rộng các tác phẩm, bởi không một thể loại riêng biệt nào Kafka từng thử bút có thể thâu tóm tinh hoa văn chương của ông. Kafka là một nhà cách ngôn vĩ đại chứ không phải là một người kể chuyện thuần túy, ngoại trừ trong truyện ngắn (parable). Ở thể loại tự sự dài hơi hơn, các tiểu thuyết Nước Mỹ, Vụ án, thậm chí Lâu đài đều hay hơn với tư cách các phần riêng lẻ hơn là ở dạng những tác phẩm hoàn chỉnh; và ở những truyện vừa như Biến dạng, thì sự khởi đầu cũng thường sâu sắc hơn chiều hướng kết thúc. Bên cạnh cách ngôn và truyện ngắn, trí tưởng tượng của Kafka bộc lộ mạnh mẽ nhất trong những truyện kể rất ngắn hay mảnh truyện (fragment), đặc biệt là những mảnh truyện hoàn chỉnh như Người cưỡi xô, Người thầy thuốc nông thôn, Thợ săn Gracchus Vạn lý trường thành. Nhật kí của Kafka được ưa thích hơn thư từ, kể cả những lá thư gửi Milena Jesenka, bởi trên đời này, hay thậm chí trong cả tiểu thuyết của môn đệ của ông – Philip Roth, cũng thật hiếm tìm được người tình nào lại bi thảm như Kafka. Freud, người từng bị Kafka gạt đi, xem như là “một Rashi[1] của nỗi âu lo Do Thái đương đại”, hẳn sẽ thỏa nguyện nếu có dịp nghiền ngẫm những bức thư tình của Kafka, ở nơi đó, những nỗi âu lo sâu thẳm nhất của chính Kafka lại càng chất chứa. Để khám phá cái bản ngã sâu kín trong những thiên tài văn chương thời đại này, cần phải kiếm tìm ở những nơi mà nhà văn nỗ lực tỏ ra khách quan và trung hòa nhất, và nỗ lực đó, hẳn nhiên, vô hiệu.

            Khám phá bản ngã sâu kín thay vì những khúc mảnh tâm lý manh mún là phương thức phủ nhận rất riêng của Kafka, người đã từng tuyên bố: “Không lặp lại tâm lý học!” và “Tâm lý học là sự thiếu nhẫn nại”. Thiếu nhẫn nại, Kafka quả quyết, là thứ tội lỗi lớn nhất, bao trọn tất cả mọi tội lỗi khác. Ấy vậy mà tôi lại chưa từng đọc Kafka mà không nghĩ về cách ngôn ưa thích của mình về bản chất của sự nóng vội Do Thái: “Ngủ nhanh mà giữ gối”[2]. Đức Chúa Yahweh không phải là một vị chúa nhẫn nại, ít nhất là trong J[3], và có lẽ Kafka, người tự xưng là tín đồ Kabbalah[4] mới, đã đeo đuổi cuộc truy tìm nhiệm mầu bí mật một đề án khiến cho đấng tối cao của người Do Thái nhẫn nại hơn. Gustav Janouch trong Những cuộc đối thoại với Kafka (Conversations with Kafka), một công trình không mấy đáng tin (cho dù có những thuyết phục nhất định trong việc nắm bắt được các biến tố trong văn chương Kafka), đã cố chứng minh cái mà một số người gọi là thuyết ngộ đạo Do Thái của Kafka, điều cũng được tìm thấy ở Gershom Scholem và Walter Benjamin, hai người chịu ảnh hưởng sâu rộng của ông. Thuyết ngộ đạo đó thiếu kiên nhẫn với thời gian, vậy nhưng trong văn chương và trong các cuộc trò chuyện, Kafka lại luôn đề cao lòng nhẫn nại trên tất cả.

            Những nghịch lí là điều mà người đọc Kafka hẳn đã đoán định được từ ông, nhưng cái gọi là thuyết ngộ đạo nhẫn nại thì còn hơn cả một nghịch lí. Lòng ngộ đạo, theo định nghĩa, là một tri thức phi thời gian cả về bản ngã trong bản ngã lẫn đấng thần linh ngoại lai ẩn tàng trong bản ngã sâu kín nhất. Nhẫn nại có thể là con đường thực dụng dẫn tới lòng ngộ đạo, điều này khá rõ ràng ở Kafka, nhưng tuyệt nhiên nó có rất ít liên hệ với cái gọi là sự phủ nhận đột ngột của bất kì thuyết ngộ đạo nào. Bằng chứng cho song đề này là: lòng nhẫn nại, cách hiểu biết của Kafka, không hề dẫn tới sự phủ định mang tính nhị nguyên hay việc đề xuất một thuyết Kabbalah mới. Mặc dù chúng ta có xu hướng kết nối hay liên kết lòng ngộ đạo và thuyết ngộ đạo, Kafka lại phân biệt chúng. Ông gọi lòng ngộ đạo là “sự nhẫn nại”, và thuyết ngộ đạo là “sự phủ nhận”; cái đầu tiên vô cùng chậm rãi, cái sau đó lại nhanh đến kinh ngạc bởi vì nó thừa nhận thuyết nhị nguyên mà Kafka cho rằng tồn tại sâu kín trong tất cả mọi thứ, tất cả mọi người. “Lòng nhẫn nại” của Kafka chứa đựng một điều gì rất khác biệt:

            Bạn không cần phải rời khỏi nhà. Hãy lưu lại bên bàn và lắng nghe. Thậm chí hãy đừng nghe, chỉ cần chờ đợi. Thậm chí đừng đợi, hãy cứ tĩnh lặng và cô đơn. Thế giới sẽ hiện thân ngay trước mắt; không gì khác hơn; trước mắt bạn, nó sẽ quằn quại đớn đau trong ngây ngất vô ngần.

            “Thế giới không thể bị đánh lừa tước mất những chiến thắng của nó”[5], khi mà Kafka không hề tìm kiếm chiến thắng cho riêng mình. Thế nhưng ông chưa từng biết đến thất bại, “bởi vì chưa từng có điều gì xẩy ra”. Nếu bị thuyết phục rằng chưa có điều gì từng xảy ra, bạn không thể thoát xa khỏi truyền thống Do Thái. Ký ức người Do Thái giống như sự kìm nén trong Freud: tất cả mọi thứ đã xảy ra, và không bao giờ có điều gì mới. Bất chấp nỗi sợ hãi bởi chuyện tình gia đình[6] mình, Kafka vẫn kiên quyết viết như thể “chưa có gì từng xẩy ra”. Đối với người Do Thái, biến cố mang tính khởi thủy chính là Giao ước của Abraham, và với Kafka, Abraham lại là một nhân vật không đáng tin. Có lẽ, vai trò anh hùng của Abraham trong Sợ hãi và run rẩy (Fear and Trembling) của Kierkegaard đã khiêu khích Kafka đến những sự phủ định. Chúng hẳn nhiên đều là những phản đề đối với truyền thống Do Thái giáo và Ki-tô giáo:

            Nhưng hãy thử nhìn một Abraham khác. Một người muốn hi sinh tất thảy một cách đúng đắn và có cảm quan đúng đắn trong toàn bộ sự việc, nhưng không chịu tin rằng ông ta là một kẻ có ý nghĩa, chính ông, một ông già xấu xí, và đứa trẻ bẩn thỉu ấy con của ông ta. Lòng trung thành đúng nghĩa không thiếu trong ông, ông có lòng trung thành; nhưng ông chỉ có thể hi sinh một cách đúng đắn khi mà ông hiểu rằng ông là một kẻ có ý nghĩa. Ông ta e sợ rằng sau khi bắt đầu như là Abraham với con trai mình, ông sẽ thay đổi thành như Don Quixote.

                                    (Clement Greenberg dịch)

            Theo một cách đen tối nào đó, Abraham này là tiền thân kiểu Quixote của Kafka. Từ bình diện ảnh hưởng văn chương, Goethe là Abraham mà từ đó Kafka xuất thân; từ bình diện tâm linh, Luật hay đạo Do Thái tích cực được hóa thân trong Abraham. Kafka, từ bỏ Luật vì sự phủ nhận của riêng mình, đã ruồng bỏ cả Abraham, người đã diễn giải nhầm thế giới:

            Abraham đau đớn với ảo ảnh sau: ông ta không thể chịu đựng nổi tính thống nhất của thế giới. Tuy vậy, thế giới giờ đây đa dạng chưa từng thấy, bất cứ lúc nào, chỉ cần nhặt một nhúm nhỏ thế giới lên và ngắm nhìn thật kĩ cũng đủ thấy rõ điều đó. Bởi vậy, lời than phiền về tính thống nhất của thế giới thực ra là lời than phiền về nỗi không thể hòa nhập sâu sắc với tính đa dạng của nó.

            Kafka là một nhà châm biếm quá ư khôn ngoan để tin rằng nghệ thuật hay cuộc đời của mình có thể hòa trộn sâu sắc với tính đa dạng của thế giới. Sự châm biếm nổi loạn của ông chống lại Abraham là sự chống đối lại bản ngã và cả những cuộc trốn chạy của nó, bao gồm sự chạy trốn khỏi Do Thái giáo và truyền thống văn chương chính thống của ngôn ngữ Đức từ Goethe. Kafka gọi sự trốn chạy này là “lòng nhẫn nại”, một phép tu từ hay ẩn dụ cho việc thực hành nghệ thuật của một nhà văn. Thứ nghệ thuật đó, hơn tất cả công việc của bất kì nhà văn nào có cùng năng lực, tồn tại trong một sức căng biện chứng với khả năng phê bình. Joyce lại ở đối cực khác: ông nghênh đón và nhiệt tình hướng dẫn mọi sự diễn giải. Beckett – người đủ liều lĩnh và tài năng để kết hợp cả Joyce, Proust và Kafka, trong thái độ với phê bình, lại tỏ ra giống với Kafka hơn là Joyce và Proust; nhưng thực tế Kafka lại ít để lại ảnh hưởng đối với tác giả Murphy, MolloyWatt hơn là Joyce và Proust.

            Giới phê bình đành phải chịu thua Kafka mỗi khi rơi vào cái bẫy mà tác giả luôn giăng sẵn chờ mọi nỗ lực diễn giải cắm đầu vào, cái bẫy của riêng Kafka chối bỏ mọi diễn giải. Dưới hình thức phúng dụ của riêng mình, mỗi một hình ảnh mà ông bày ra trước chúng ta đều vừa là vừa không phải là cái mà ta tưởng như đang nhìn thấy. Vì thế trong truyện Những cuộc điều tra của một con chó (Investigations of a Dog), kịch tính lạ thường xảy ra khi chú chó săn tuyệt đẹp hiển lộ trước kẻ dẫn chuyện – một con chó tội nghiệp đang đầm mình trên nền sân trong vũng máu và một đống nôn mửa, thì chúng ta không thể nào diễn giải một điều dẫu đơn giản rằng con chó săn kia là ai, hay nó tượng trưng cho điều gì. Ít nhất một nhà phê bình xuất sắc nào đó về Kafka đã từng bạo gan cho rằng con chó săn mồi đẹp đẽ đó chính là Thượng đế, nhưng cũng như tất thảy những phê bình diễn giải các hình ảnh thần thánh trong thế giới Kafka, trường hợp này rốt cuộc cũng là nạn nhân của sự châm biếm của tác giả mà thôi. Sẽ là an toàn khi cứ để những hình ảnh đại diện được yên, chứ các thánh thần trong truyện ngắn và tiểu thuyết Kafka không chuyển tải một gợi ý gì. Có nhiều quỷ sứ giả trang thành thiên sứ và thánh thần, và có cả những loài vật thần bí (và những hình hài giống vật), nhưng Thượng đế thì luôn ở một nơi nào khác, một nơi xa xôi dưới vực thẳm, hoặc là đang say ngủ, hoặc có lẽ đã chết. Kafka, một thiên tài độc đáo, là một tác gia lãng mạn chứ không đời nào là một nhà văn tôn giáo. Ông thậm chí còn không phải là một kẻ ngộ đạo Do thái giáo hay tín đồ Kabbalah như trong trí tưởng tượng của Scholem và Benjamin, bởi vì ông không nuôi hi vọng, dẫu là vì bản thân ông hay vì chúng ta.

            Tất cả những gì dường như là siêu nghiệm trong tác phẩm Kafka, thật kì lạ, lại đều là sự giễu nhại đích thực; đó là lời giễu nhại khởi phát từ vị ngọt tuyệt vời của tinh thần. Mặc dù tôn thờ Flaubert nhưng Kafka sở hữu một cách cảm nhẹ nhàng hơn tác giả Bà Bovary (Madame Bovary). Tuy vậy, những truyện kể của ông, dù ngắn hay dài, gần như luôn luôn gay gắt trong những sự kiện, sắc điệu và những lời tiên đoán. Điều khủng khiếp sắp xảy đến. Tinh thần cốt lõi của văn Kafka có thể được chuyển tải qua nhiều trích đoạn, và một trong chúng là bức thư nổi tiếng ông gửi cho nàng Milena. Cũng đầy đớn đau như thư Kafka nói chung, chúng thực là những tuyệt tác của thế kỉ:

            Đã lâu rồi kể từ lần cuối tôi viết thư cho em, Frau Milena ạ; và mặc dù thế, hôm nay tôi viết cho em cũng chỉ như kết quả của một sự ngẫu nhiên. Thực sự là tôi không cần phải xin thứ lỗi vì đã không viết thư, em biết tôi ghét thư từ đến thế nào rồi đấy. Tất cả nỗi bất hạnh của đời tôi – tôi không có ý phàn nàn, chẳng qua chỉ đưa ra một bình luận chung chung – nếu có thể nói, đều phát xuất từ những lá thư hoặc từ việc có thể viết thư. Con người khó có thể làm tôi thất vọng, thế mà những lá thư – và sự thật là không chỉ những lá thư của người khác, mà cả của chính tôi – thì luôn luôn làm được điều đó. Với tôi, đây là nỗi bất hạnh riêng tư mà tôi sẽ không nói thêm về nó nữa, thế nhưng nó đồng thời lại cũng là nỗi đau chung. Cái khả năng dễ dãi của việc viết thư – nhìn một cách đơn thuần lí thuyết – đã làm thối rữa kiệt cùng những linh hồn thế gian. Điều này, thật sự là một sự giao tiếp[7] với những hồn ma, và không chỉ với những hồn ma của người nhận mà ngay cả hồn ma của chính mình, bóng ma này hình thành giữa những dòng thư ngay khi người ta đang viết và trở nên lớn hơn trong một chuỗi những lá thư, nơi mà mỗi lá thư lại chứng thực cho một lá thư khác và đến lượt lá thư khác lại là nhân chứng. Làm sao trên đời này lại có kẻ mang một ý tưởng rằng con người có thể giao tiếp với nhau bằng thư! Mỗi người có thể nghĩ về một người ở xa, và có thể nắm tay người ở gần – còn thì tất thảy mọi điều khác đều vượt quá sức mạnh của con người. Hành động viết thư đồng nghĩa với việc lột trần con người ra trước loài ma quỷ, điều mà lũ chúng hau háu chờ chực. Những nụ hôn trên trang giấy không thể nào tới được nơi chúng cần tới, trái lại chúng bị quỷ dữ uống cạn trên đường đi. Nhờ vào nguồn dinh dưỡng dư dật này, lũ chúng sinh sôi theo cấp số nhân một cách nhanh chóng đến kinh hoàng. Loài người cảm nhận được điều này và đấu tranh chống lại nó và để tiêu diệt đến tối đa những yếu tố ma quái tồn tại giữa người với người, để tạo ra sự giao tiếp tự nhiên, để mang lại sự bình yên cho các linh hồn, loài người đã phát minh ra tàu hỏa, xe hơi, máy bay. Nhưng cũng chẳng ích gì, rõ rành rành có những phát minh ngay lập tức nát vụn ngay trong khoảnh khắc thành hình. Kẻ thù thì bình tĩnh và mạnh mẽ hơn nhiều; sau dịch vụ thư tín chúng đã phát minh ra điện báo, điện thoại, vô tuyến. Quỷ dữ sẽ không chết đói, mà chính chúng ta sẽ bị diệt vong.”

                                                                        (Bản dịch tiếng Anh của Philip Boehm)

            Thật khó để hình dung được một điều gì ám ảnh hơn những câu văn: “Những nụ hôn trên trang giấy không thể nào tới được nơi chúng cần tới, trái lại chúng bị quỷ dữ uống cạn trên đường đi” hay “Quỷ dữ sẽ không chết đói, mà chính chúng ta sẽ bị diệt vong.”

            Thái độ của Kafka với cội nguồn Do Thái của mình có lẽ là nghịch lí lớn nhất của ông. Có những dấu vết khốn khổ của sự tự căm ghét cội nguồn Do Thái trong những bức thư viết cho Milena, nhưng chúng dường như vẫn có thể lí giải được, và tệ nhất, chúng mới chỉ là mặt ngoài của sự ray rứt. Trong những phức cảm bất tận, gần như mọi thứ Kafka viết đều gợi lên mối liên quan giữa ông với người Do Thái và những truyền thống Do Thái. Chúng ta nên bắt đầu thức nhận rõ ràng về điều này, ít nhất là vì chúng thường không được ghi lại. Kafka, với sự nhạy cảm tôn giáo của một thiên tài hiếm có, không hề tin vào Thượng đế, thậm chí không tin vào Đấng Thượng đế xa vời của phái ngộ đạo. Ông chia sẻ sự hoài nghi này với Freud, Woolf, Joyce, Beckett, Proust, Borges, Pessoa và Neruda – những nhân vật kinh điển tôi đã chọn lọc từ thời đại chúng ta, nhưng không ai có thể tìm thấy trong bộ tám nói trên, ngay cả ở Beckett – người chịu ảnh hưởng của Kafka, một điều gì tương tự như những mối ưu tư về tôn giáo như ở Kafka. Trong Chiến dịch Shylock (Operation Shylock), Philip Roth có một khám phá bước ngoặt đáng ngưỡng mộ rằng Hein, một tác giả Do Thái tiêu biểu trước Kafka, cho rằng tên Chúa là Aristophanes. Heine là một tín đồ đầy dằn vặt; Kafka, một kẻ vô thần, không đặt tên cho Chúa, nhưng nếu những kẻ trong Cung điện Lâu đài của Kafka có một vị Chúa, thì đó hẳn là Aristophanes.

            Kafka nói giúp và nói với một số lượng độc giả, bất kể là người Do Thái hay không, những người không như Freud xem tôn giáo như một ảo tưởng, nhưng lại đồng ý với Kafka rằng họ đã sinh ra quá muộn để biết chắc rằng mình thuộc về những truyền thống Kitô giáo và Do Thái giáo. Kafka không biết liệu ông là sự kết thúc hay sự khởi đầu, chúng ta cũng vậy. Ritchie Robertson, một trong những học giả nghiên cứu về Kafka nổi tiếng nhất, đã tinh ý chỉ ra rằng đối với tác giả Lâu đài thì “hình tượng tôn giáo chỉ có giá trị khi được xem là sự biểu hiện của sự thôi thúc tôn giáo, và sẽ trở nên sai lạc khi bị xem là sự diễn giải những thôi thúc đó”. Bởi vì Kafka tránh xa việc diễn giải sự thôi thúc tôn giáo và sẽ không thừa nhận bất kì sự diễn giải nào, thành ra độc giả bị bỏ rơi trong hàng loạt những lối tượng trưng kiểu Kafka đối với sự thôi thúc nói trên, những lối tượng trưng đôi khi tuân theo những hình tượng quen thuộc và đôi khi lại xa rời chúng. Điều này khiến cho việc nghiên cứu một cách chính xác, trong mức Kafka cho phép, rằng điều gì là quan điểm của Kafka, trở nên rất đỗi quan trọng.

Hồ Vân Anh dịch

 

Nguồn: Harold Bloom, Western Canon: The Books and School of the Ages, New York: Harcourt Brace, 1994, trang 447 – 462.

(Còn nữa)

[1] Rashi: Tên viết tắt của Rabbi Sholomo Itzhaki  (1040-1105), một giáo sĩ người Pháp,  nổi tiếng vì những bài giảng của mình về các sách thánh của Do Thái giáo.

[2] Nguyên văn: “Sleep faster! We need the pillows.”

[3] J là tên mà các học giả gán cho nhà văn vô danh mà họ tin rằng là tác giả của văn bản được xem là một trong những nguồn tài liệu của kinh Cựu Ước.

[4] Kabbalah: thuật huyền bí của đạo Do Thái cổ

[5] Nguyên văn: “The world must not be cheated of its victory”

Tác giả lấy ý từ câu châm ngôn của Kafka trong “Aphorisms” (1918): “One must not cheat anyone, not even the world of its victory”.

[6] Family romance: Thuật ngữ S. Freud dùng trong bài viết cùng tên, tạm dịch là “chuyện tình gia đình”

[7] Intercourse: ở đây chúng tôi tạm dịch là “giao tiếp”, từ này còn có nghĩa là “giao cấu”.

Nguồn: Bản đăng trên Phê bình văn học do dịch giả gửi.

Leave a Reply