Kafka: Lòng nhẫn nại và “sự bất diệt” kinh điển (2/2)


(Trích Điển phạm phương Tây: Tác phẩm và trường phái qua các thời đại)

            Harold Bloom

      Đọc phần 1:

          Tôi đồng tình với Robertson về quan điểm: những văn bản cốt yếu của Kafka là những cách ngôn được sáng tác vào khoảng 1917-1918, giờ đây phần lớn được dịch sang tiếng Anh trong Sổ tay khổ tám màu xanh (The Blue Octavo Notebooks) (Ernst Kaiser và Eithne Wilkins dịch, 1991). Nietzsche, một nhà cách ngôn có tầm ảnh hưởng lớn như Emerson, Kierkegaard, và Kafka, đã tuyên bố bãi bỏ lòng tin kiên định vào lối viết cách ngôn như một loại văn chương suy đồi. Ở tác phẩm có lẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của Nietzsche – Về phả hệ học của luân lí (On the Genealogy of Morals), tuy gồm ba bài luận tranh biện chặt chẽ, nhưng sức mạnh của chúng cũng chủ yếu nhờ vào những cách ngôn, trong khi lối văn tiểu thuyết khoa trương như trong Zarathustra đã nói như thế (Thus Spake Zarathustra) thì bây giờ thật chẳng đọc nổi. Di sản của Nietzsche chính là cách ngôn, và đó là phần tuyệt hơn cả. Ở Kafka có sự giao thoa giữa một nhà cách ngôn và một người kể chuyện, vừa gần gũi với Wittgenstein vừa gần gũi một cách kì lạ với Schopenhauer và Nietzsche. Đằng sau tất cả họ là một Goethe với vai trò một nhà văn thông thái, nhà phê bình Aristophanic Heine bổ sung thêm ở Kafka một thứ chủ nghĩa hoài nghi Do Thái. Nhưng không thể gọi Kafka là người Do Thái, kẻ hoài nghi, ngộ đạo hay dị giáo. Kafka là, như chính ông nói, là sự kết thúc hoặc sự khởi nguồn của người Do Thái, hoặc có lẽ là cả hai.

            Bất chấp tất cả những chối từ và những lẩn tránh đẹp đẽ đó, ông đơn giản là văn chương Do Thái, thậm chí Do Thái hơn cả Freud. Tôi từng nghĩ rằng điều này xảy đến do sức mạnh của sự soán ngôi: Kafka và Freud, bằng sức mạnh đối thủ, đã định nghĩa lại lối viết Do Thái, bởi khi ngoái nhìn lại, đối với chúng ta, họ đã trở thành văn chương Do Thái. Nhưng quan điểm đó, mặc dù là ví dụ cho thấy đặc tính hay thay đổi thất thường của điển phạm, lại tỏ ra đã đánh giá thấp mối liên hệ Do Thái ở Freud và Kafka – những người đã trở thành Rashi của nỗi âu lo Do Thái đương đại. Sự phủ định của Freud và Kafka, như đã nói ở trên, khác biệt sâu sắc so với sự phủ định của Hegel ở chỗ nó chấp nhận tính ưu việt của thực tế. Triết học duy tâm, cho dù là biện chứng, vẫn không thể hòa hợp với sự tôn trọng của người Do Thái với văn chương. Bất kể giàu sức mạnh tưởng tượng, Kafka vẫn là một người theo lối kinh nghiệm như Freud hay Beckett. Thân phận Do Thái khiến cho hầu như trong thế giới của Kafka, sự tiếp xúc với cái ngoại biên trở nên thật gần gụi; ví dụ như trong Vạn lý trường thành – tác phẩm có thể được gọi tên là Tháp Babel, ví dụ như ngay cả ở nơi mà ta ít nghĩ tới nhất – truyện ngụ ngôn về loài vật.

            Liệu có điều gì căn cốt Do Thái trong cái quyền năng tinh thần mạnh mẽ ở Kafka? Tôi đồng tình với Ritchie Robertson rằng, cốt lõi tinh thần ở Kafka là ý niệm của ông về “sự bất diệt” (indestructibility), mặc dù khác với Robertson, tôi cho rằng điều đó là phong cách riêng của nhà văn hơn là tinh thần thời đại. Sau đây là phần góp nhặt những cách ngôn quan trọng xoay quanh “cái bất diệt” (the indestructible):

            Tin tưởng đồng nghĩa với việc giải phóng cái nhân tố bất diệt trong mình, hay chính xác hơn, là tồn tại bất diệt, hay chính xác hơn nữa, là tồn tại.

            Con người không thể sống mà không có niềm tin vĩnh cửu vào một điều gì bất diệt trong chính mình, mặc dù cả nhân tố bất diệt và niềm tin ấy vẫn còn vĩnh viễn ẩn tàng trong anh ta. Một trong những cách để làm hiển lộ những ẩn giấu đó chính là thông qua đức tin vào một vị Chúa của riêng mình.

            Sự bất diệt là duy nhất: nó vừa là sự tồn tại cá nhân, vừa là chung cho tất cả, vì thế, nó là thống nhất vô hình độc đáo giữa người với người.

            Nếu những gì được cho là đã bị phá hủy trên thiên đường là có thể bị hủy diệt, thì điều đó cũng chưa hẳn dứt khoát đúng; nhưng nếu chúng là bất khả hủy diệt, thì chúng ta đang sống trong một niềm tin giả mạo.

            Tin tưởng là tồn tại, bởi một điều gì đó thẳm sâu trong tồn tại không thể bị hủy diệt. Nhưng niềm tin lại là một sự dư thừa, bởi một vị chúa của riêng mình chỉ là phép ẩn dụ cho ý thức của một người về sự bất diệt, cái ý thức hòa hợp mọi bản ngã. Chúng ta không gục ngã, cũng không mất đi sự bất tử, bởi vì từ trong căn cốt tồn tại, chúng ta bất diệt. Liệu rằng đây chỉ là một sự tô đậm thêm quan niệm của Schopenhauer về ý chí như là vật tự thân, giống với Eros của Freud, hay là Kafka đang đạt tới một điều gì tinh vi, khó nắm bắt hơn? Robertson, lần theo mối liên hệ vốn dĩ không dễ nắm bắt giữa Kafka với Kabbalah, đã tìm thấy trong cách ngôn sau đây của Kafka một phiên bản cho khái niệm tikkun của Issac Luria[1] – việc phục hồi những mảnh vỡ trong con người:

            Chẳng có điều gì ngoài một thế giới tâm linh; cái mà chúng ta gọi là thế giới của các giác quan chính là quỷ dữ trong thế giới tâm linh, và cái mà ta gọi là quỷ dữ cũng chỉ là sự cần thiết của một khoảnh khắc trong quá trình tiến hóa vĩnh cửu của chúng ta.

            Quan điểm này nằm lưng chừng giữa thuyết Kabbalah của Luria và thuyết sức sống thần bí của triết gia người Đức vĩ đại, Meister Eckhart[2]. Khi đọc và cảm những cách ngôn vĩ đại hơn nữa trong cuốn Sổ tay khổ tám màu xanh (The Blue Octavo Notebooks), tôi đã bàng hoàng: làm sao mà Kafka, trong số tất cả những kẻ trầm tư mặc tưởng tâm linh, lại có thể đầy hi vọng đến thế? Minh chứng thì cho thấy rõ ràng là ông không phải vậy; bởi như có lần ông đã nói với Max Brod rằng, hi vọng dành cho Chúa, chứ không phải cho chúng ta. Hi vọng thuộc về ý thức, cái có thể bị hủy diệt, chứ không thuộc về cái tồn tại bất diệt. Bạn không thể kể những câu chuyện, dẫu ngắn gọn, về tồn tại, thậm chí ngay cả khi bạn là Count Leo Tolstoy[3], người đã tiệm cận với điều đó trong tác phẩm Hadji Murad[4], nơi nhân vật anh hùng đã nung trộn tồn tại và ý thức của anh ta làm một. Ta xem Kafka như một nhà văn kinh điển bậc nhất của thế kỉ bởi tất cả chúng ta chính là hình ảnh thu nhỏ của sự phân cách giữa tồn tại và ý thức – đây chính là chủ thể đích thực, cái chủ thể mà Kafka đã định nghĩa bằng chính con người Do Thái, hay ít nhất và cụ thể hơn, bằng con người Do Thái lưu vong trong ông.

            Trong Beckett, sự phân cách đó lại dường như có cội rễ sâu xa từ Descartes hơn là từ Freud như ở Kafka. Nếu hiểu “Jewish” là Do Thái giáo hoặc một truyền thống chính thống mà nó biểu thị thì thuyết nhị nguyên Do Thái là một kiểu của phép nghịch hợp, nó dao động chập chờn trong Freud và Kafka. Freud, dĩ nhiên, không biết đến “cái bất diệt”; ý chí sống cuối cùng cũng nguội tàn đi trong ông. Thế nhưng, giống như Nietzsche và Kafka, Freud tin rằng một bản ngã sâu kín có thể được củng cố thêm sức mạnh, rằng Eros có thể trở nên mạnh mẽ hơn để chống lại bản năng chết. Ý thức, đối với Freud cũng giống như Nietzsche và Kafka, là sai lầm và ảo tưởng. Mặc dù từ chối khái niệm thần bí về tồn tại (và bác bỏ nó bằng khái niệm “cảm giác đại dương”[5]), Freud đã hào hiệp và quyết liệt thay thế nó bằng uy quyền ôn hậu của mình và đề xướng phép chữa trị cho ý thức sai lạc. Kafka chối từ mọi quyền năng (bao gồm cả quyền năng của Freud) và không đưa ra một liệu pháp chữa trị nào. Nhưng ông đã nói cho tồn tại, cho cái bất diệt, theo một cách có lẽ là thuần túy Do Thái, một sự phủ định Do Thái:

            Tôi thấy mình chẳng mang theo điều gì mà cuộc đời đòi hỏi ngoài sự yếu ớt phổ quát của loài người. Với sự yếu ớt đó (ở khía cạnh nói tới ở đây lại chứng tỏ một sức mạnh phi thường), tôi hấp thụ mãnh liệt những nhân tố tiêu cực của thời đại, một thời đại mà, dĩ nhiên, rất gần gũi với tôi, thời đại tôi chưa từng có quyền chống lại mà chỉ có quyền đại diện. Một số lượng rất nhỏ cái tích cực, và cái tiêu cực cực đoan đảo ngược thành cái tích cực, là điều mà tôi chẳng được thừa kế. Tôi không như Kierkergaard – được dẫn vào đời bằng bàn tay Ki-tô giáo – mà phải thừa nhận là giờ đã uể oải và yếu ớt, và cũng không như những người theo chủ nghĩa Zion[6]  – bắt kịp đường viền của chiếc khăn choàng cầu nguyện Do Thái giờ đây đang bay xa khỏi chúng ta. Tôi là một sự kết thúc hoặc một sự khởi đầu.

            “Cái tiêu cực cực đoan đảo ngược thành cái tích cực” hẳn phải là một thứ thần học phủ định đang phát triển mạnh, theo tinh thần của những người theo thuyết ngộ đạo, Ki-tô giáo hoặc thuyết Kabbalah dị thường (như Nathan of Gaza[7], người tiên tri về đấng Cứu thế giả mạo, Sabbatei Zevi). Sự phủ định của Kafka tế nhị và nhẹ hơn về sắc độ, vì thế mà phù hợp với tinh thần thời đại. Để hình dung cả đường nét và hương vị của điều gây chấn động này, ta có thể truy tìm ở một trong những kiệt tác của Kafka – truyện ngắn Một người thầy thuốc nông thôn (A Country Doctor) (1917, bản dịch của J. A. Underwood). Thật lạ lùng cái cách kể chuyện từ ngôi thứ nhất; phần lớn câu chuyện được kể bằng thì hiện tại, mặc dù mở đầu tác phẩm dường như gợi về một câu chuyện xưa cũ. Nhận một cuộc gọi khẩn từ một bệnh nhân đang nguy kịch từ cách xa mười dặm, trong thời tiết mùa đông khắc nghiệt, người thầy thuốc nông thôn không có ngựa, hoặc giả ông nghĩ vậy. Lạ lùng thay, từ cái chuồng lợn bỏ hoang trong ngôi nhà thầy thuốc bỗng bật tung, lộ ra một gã chăn ngựa cục súc, thú tính và hai con ngựa cường tráng tuyệt vời. Tên chăn ngựa, ngay trước khi thắng ngựa vào xe, đã bắt đầu tấn công cô hầu gái Rosy, tàn bạo cắn lên má cô. Khi người thầy thuốc bị cuốn vù đi gần như không kiểm soát nổi bởi những con ngựa khổng lồ, tên chăn ngựa cạy tung cánh cửa tiếp tục hãm hiếp cô hầu gái Rosy đang kinh hãi, người mà cái tên sẽ còn trở đi trở lại như sự miêu tả vết thương mà người thầy thuốc sẽ phải đương đầu mà không mong gì chữa nổi. Bệnh nhân, một anh nông dân, cũng chẳng kém phần lạ lùng và khó chịu hơn vết thương của mình. Tính chất huyễn hoặc tồn tại khắp nơi; những người nông dân lột trần người thầy thuốc, hát những lời đe dọa, rồi đặt ông trần truồng trên giường chàng trai. Bị bỏ lại với bệnh nhân của mình, người thầy thuốc, sau khi bị anh ta đe dọa, đã tẩu thoát trên lưng ngựa với chiếc xe, với mớ quần áo mắc lòng thòng sau xe, nhưng lần này là với sự từ từ khủng khiếp khi so sánh với tốc độ siêu phàm của cuộc hành trình:

            Cứ thế này thì chẳng bao giờ tôi về được đến nhà; cơ đồ hưng thịnh của tôi đã mất; tay kế nhiệm đang ăn cướp của tôi, nhưng vô ích thôi bởi lẽ hắn không thể thế chỗ tôi; ngay trong nhà tôi, gã chăn ngựa súc sinh kia đang hoành hành; Rosy là nạn nhân của gã; thôi tôi không mường tượng thêm nữa. Trần trụi, phô tấm thân trong băng giá vào thời khắc khổn khổ nhất này, trên cỗ xe trần thế và lũ ngựa siêu phàm, một lão già, chính là tôi, lang thang. Chiếc áo khoác lông đang treo ở sau xe nhưng tôi không thể nào với tới, và không ai trong đám bệnh nhân tráo trở thèm nhúc nhích lấy một ngón tay. Bị lừa! Bị gạt! Một khi đã đáp lại tiếng chuông dối trá ban đêm, thì chẳng đời nào còn cứu vãn nổi.

            Người thầy thuốc nông thôn, cũng như những nhân vật chính khác của Kafka – người cưỡi xô, thợ săn Gracchus, nhân viên đạc điền K., cuối cùng không sống không chết, không chuyển động có ý hướng cũng không đứng yên. Những dự đoán của họ và của chúng ta bị ngăn trở bởi nghĩa đen, bởi địa hạt của sự thật. Chúng ta không biết liệu rằng Kafka có ám chỉ thân phận Do Thái trong thời đại và không gian ông sống hay chính địa vị nhà văn của ông trong đó hay không. Theo một cách nào đó, chúng ta có thể hiểu Kafka tự có cách thức phủ định của riêng mình: về mặt nhận thức, có một sự giải thoát khỏi mọi trạng thái kìm nén, và định mệnh của người thầy thuốc nông thôn kia là một thí dụ theo một cách rất Do Thái, hoặc định mệnh đó gợi nghĩ về cái giá mà Kafka phải trả cho thử nghiệm khẳng định với tư cách nhà văn của mình.

            Về mặt lí trí thì những giải thích trên là khả dĩ, thậm chí có tính gợi mở, nhưng về mặt tình cảm thì chúng không hề thuyết phục. Có một sự thiếu hụt cảm xúc đến mức kì quặc ở người thầy thuốc nông thôn, thực ra là trong toàn bộ câu chuyện của y. Một khi người đọc vẫn còn bận tâm tới câu chuyện thì trạng thái ức chế vẫn cứ dai dẳng trong họ; không nhân vật nào của Kafka lại dễ mến hay dễ cảm thông, hoặc ít nhất không nhân vật nào dễ cảm hơn nhân vật nào. Có thể nhận thức rằng tình thế nan giải của người thầy thuốc nông thôn biết đâu cũng chính là tình thế của chúng ta, nhưng để đồng điệu với cảm xúc với y thì quả thật là khó. Những gì xảy ra với y vừa kì ảo vừa tất yếu. Nó có khả năng và đôi khi có thể trở thành của chính chúng ta, nhưng không ai sẽ chia sẻ với ta niềm xúc cảm bi ai, cũng chính như chúng ta không thể sẻ chia với người thầy thuốc. Một sự khởi đầu tùy tiện – đáp lại tiếng chuông giả dối trong đêm – mang đến những hậu quả tất yếu ở thì hiện tại vĩnh hằng, và thế là không đời nào còn cứu vãn nổi. Phạm trù “tính chất Kafka” tạo thành một hình thức mới của cái từng được gọi là “cái nghịch dị” và nó thâm nhập vào cuộc sống đời thường cũng mạnh mẽ như trong văn chương. Một người thầy thuốc nông thôn có điều gì đó gần như một câu chuyện có sức mạnh ma quái, nó nhắc nhở chúng ta rằng cái ma quái hay lạ lùng đích thực luôn có thể đạt đến được trạng thái kinh điển. Nietzsche đã khăng khăng rằng chỉ có nỗi đau mới có thể mang đến sự tưởng nhớ. Từ khía cạnh văn chương, điều này có thể giải thích hiệu ứng gây chấn động kéo dài của Một người thầy thuốc nông thôn, nơi mà nỗi đau dồn xoáy vào chính sự thiếu vắng cảm xúc. Đó là món quà độc đáo và kì lạ bậc nhất mà Kafka lấy lại từ sự quên lãng của người đọc, nó để lại trong lòng người đọc cảm giác mình sẽ vẫn cứ quên đi cảm giác của chính mình khi trải nghiệm những điều lạ lùng này.

            Gần bảy mươi năm sau khi mất, Kafka dường như vẫn hơn bao giờ hết, là tác gia trung tâm của Thời đại Hỗn loạn, dẫu rằng, khi dòng thời gian cuốn đi một nghìn năm nữa, có thể có một Thời đại Thần quyền mới sẽ nhấn chìm chúng ta. Vụ ánLâu đài dĩ nhiên không sánh được với ngôi vị thẩm mỹ của Đi tìm thời gian đã mất hay UlyssesFinnegans thức giấc. Nhưng những tác phẩm ngắn gọn tuyệt tác nhất của Kafka – truyện ngắn, truyện rất ngắn, cách ngôn – lại vượt xa Proust và Joyce trong việc đem tới cho chúng ta một sức mạnh tinh thần không hề phụ thuộc vào tín ngưỡng hay ý thức hệ. Không tồn tại cái gọi là cái bất diệt trong Proust và Joyce, trong Flaubert hay Henry James, tất cả họ đều trở thành những thầy tu cho bản thân tiểu thuyết và họ cũng chỉ là những thầy tu của nhận thức và hiểu biết như Walter Pater[8]. Nếu có một điều gì bí ẩn ở Kafka, đó là vì sao ông và những trang viết của ông giờ đây lại có một thẩm quyền tâm linh đối với nhiều người trong chúng ta đến vậy, điều mà Wordsworth và Tolstoy từng có một thời. Có lẽ một ngày, cái hương vị tôn giáo lạ kì ở Kafka sẽ phai nhạt đi, nhưng nó sẽ không biến mất. Chưa từng có một vị thần hiển linh nào trong Kafka; bản giao ước duy nhất mà ông tin cậy chính là bản giao ước với chính trang viết của mình.

            Tôi từng nghĩ rằng vị trí tâm linh của Kafka chủ yếu xuất phát từ tính chất hồi cố của phê bình, nó na ná như cái cách người ta xem Dante như một nhà văn Công giáo bất kể lòng mộ đạo ông dành riêng cho Beatrice[9], và xem Milton như một nhà thơ Tin lành bất kể niềm tin của ông vào Thuyết sự chết (Mortalism) và khát vọng duy nhất của ông được trở thành một phần của dị giáo đó. Tương tự như vậy, Kafka, với tất cả những ray rứt Do Thái giáo, dường như là nhà văn Do Thái, Do Thái hơn bất cứ ai kể từ sau Kinh Thánh Do Thái. Nhưng mô tả như vậy đã đánh giá thấp tính chất toàn cầu của Kafka trong thế kỉ này. Ông là biểu tượng cho thiên hướng truy tìm tinh thần của nhà văn, những cách ngôn của ông còn đọng lại trong ta với những vang vọng của uy quyền. Lời bình luận trên, bởi vậy, có vẻ giống như dành cho ai khác hơn là dành cho Kafka?

            Vậy cần nói tới ẩn dụ của Kafka về “cái bất diệt”. Thuyết sức sống của riêng Tolstoy đã dấy lên một nguồn cảm hứng tráng lệ về sự sống, làm tiêu tan những gì xưa cũ. Ở Kafka có một dòng sức mạnh dai dẳng mà lặng lẽ, nhưng cũng như người thợ săn Gracchus, ông không hề chống lại cái chết. Bất kể “cái bất diệt” là gì đi nữa, thì cũng không cần thiết tìm kiếm hình ảnh nào của sự bất tử. Liệu có điều gì mang tính chất Thánh Kinh ở việc ông chẳng mấy quan tâm đến thế giới bên kia, cũng ít ưu tư tới Yahwist[10] hay các đấng tiên tri. Nếu Kafka có một ý niệm gì về phúc lành, như một món quà giấu kín, thì ông cũng không cho phép ta biết nó là gì. Dĩ nhiên Vụ ánLâu đài không thể ban phúc lành, thậm chí cả khi giả sử chúng có muốn vậy. Không có việc ban phước lành trong Kafka. Một kiếp sống ở thế giới bên kia, trong một thời gian không biên giới, không hề tồn tại trong vũ trụ của Kafka.

            Vậy sự bất diệt là gì nếu không phải là sự bất tử lẫn phúc lành? Đó không phải là quyền năng tinh thần trong ý chí sống của Schopenhauer, trong địa hạt bản năng của Freud, cũng không hẳn bắt rễ từ thuyết Kabbalah của Luria. Với sự phủ định của mình, Kafka có những mối ưu tư nhất định với những đức tin tôn giáo. Ông không chấp nhận sự quy giản của Freud rằng những thôi thúc tôn giáo đơn thuần là niềm khao khát, hoài vọng người cha. Nhưng những cách ngôn của ông không bao giờ để hiển lộ khái niệm “cái bất diệt”, việc cắt nghĩa nó là một thách thức với cả những đầu óc phê bình tinh bén nhất. Trong một bức thư gửi Milena, Kafka bày tỏ cách hiểu của ông về sự bất diệt như là “chốn neo đậu trên mảnh đất trần gian”[11] và sự bất diệt là điều gì đó ngoài những ám ảnh riêng tư. Đối với ông, nó là sự kết nối thực sự giữa người và người, là biểu hiện bản thể bí ẩn sâu thẳm nhất trong họ. Tôi đành gọi khái niệm này là lòng ngộ đạo, nhưng dĩ nhiên nó không phải là chủ nghĩa ngộ đạo, bởi nó khước từ mọi ý niệm về một Đấng sáng thế, cho dù Đấng sáng thế đó xa xôi hay ẩn giấu trong vực sâu nguyên thủy. Cái mà Kafka khẳng định, sự bất diệt, nằm ở ngay chính thuộc tính nguyên thủy của con người, giống thánh thần nhưng đầy thế tục.

            Thế nhưng Kafka không phải là một vị thánh hay một nhà thần bí; ông chẳng được xếp vào hợp tuyển Triết lý vĩnh cửu (The Perennial Phylosophy) – một cuốn sách đẹp đẽ nhưng quá lý tưởng của Aldous Huxley. Cũng giống như Freud, Kafka là kẻ cầm bút của thuyết Phủ định, nhưng phương thức phủ định của ông biện chứng hơn Freud. Uy quyền của sự thực vốn bị Hegel bác bỏ đã được hai tác gia Do Thái tôn trọng sâu sắc, có điều so với Freud, ở Kafka phạm vi nhận thức sự thực rộng hơn. Đối với Kafka, nhận thức về cốt lõi của sự bất diệt chính là sự thực, giống như thiên chức nhà văn của ông. Có lẽ đó chính là bằng chứng cho vị trí điển phạm tinh thần của Kafka: ông không phải là một nhà văn tôn giáo, nhưng ông đã biến văn chương thành tôn giáo.

            Trong sự biến chuyển đó, không cần phải có một nhân tố Lãng mạn hay Hiện đại khác thường nào, như khi tôi đã nói trong phần bàn luận về Dante. Nếu như Pascal[12] từng đặt cược với đức tin thì những nhà văn nuôi tham vọng trở thành nhà văn kinh điển cũng thường đặt cược vào trang viết của mình. Liệu trong trường hợp này, Shakespeare, một lần nữa, có phải là một ngoại lệ xuất chúng không? Tôi thì không cho là vậy: Shakespeare đã dọn đường cho Milton và Goethe, cho Ibsen và Joyce, bằng cách ngầm đặt toàn bộ đức tin vào chính nghệ thuật của riêng mình. Sẽ là một thử nghiệm táo bạo và hão huyền nếu muốn biến nhà soạn kịch Shakespeare trở thành một tín đồ Ki-tô giáo. Bất kể Shakespeare tin tưởng hay nghi hoặc kiểu người gì, thì Hamlet của ông vẫn không thể là một người anh hùng Ki-tô giáo, và toàn thế giới của Othello, Lear và Macbeth đều gần với Saman giáo[13] hơn là Ki-tô giáo. Iago, Edmund và Macbeth đem lại một ấn tượng kì quặc nhưng đầy thuyết phục rằng mỗi một kẻ trong họ là hiện thân hoàn hảo của những điều cực kì đen tối ẩn tàng trong thế giới. Phía tăm tối trong bản chất Hamlet đã tạo nên một mẫu hình bi kịch Shakespeare. Thế giới bị rời vỡ, và kẻ thiết lập công lý của nó, Hamlet, cũng vậy.

            Kafka, có lẽ dưới ảnh hưởng của Goethe, thừa hưởng cách cảm nhận của người Đức về nhân vật Hamlet như một người anh hùng quá phức tạp và nhạy cảm để có thể chiến thắng trong cái thế giới rối ren vá víu này. Sự khác biệt của Kafka đối với Hamlet của Goethe là ông đã biến sự yếu đuối đó trong Hamlet thành sự táo bạo đến khó cảm trong cái tư thế dấn tới tòa án và lâu đài của Joseph K. và anh nhân viên đạc điền K. Sự biến chuyển đó sẽ tiếp tục được đẩy lên nữa trong vở Tàn cuộc (Endgame), nơi mà Samuel Beckett làm sống lại một Hamlet theo phương thức của Kafka. Ham[14] của Beckett gần gũi với Joseph K. hơn là anh chàng Hamlet hiền lành của Goethe, một kẻ không tội lỗi, một kẻ khác với Hamlet của Shakespeare, không có năng lực tự cảm thấy tội lỗi vì những tội ác có thật của mình: ngộ sát tên tọc mạch Polonius, tráo mật lệnh kết liễu Rosencrantz và Guildenstern khốn khổ, và tồi tệ hơn cả, là dồn đẩy Ophelia nghiệt ngã tới mức nàng phát điên và tự vẫn.

            Hamlet chịu đựng cảm giác tội lỗi vì hành động giết người anh ta chưa kịp thực hiện. Về vấn đề này, Kafka tỏ ra sắc sảo hơn Goethe, ông dường như hiểu cảm giác tội lỗi đó trong Shakespeare là điều không cần phải nghi vấn và là tiền thân cho mọi tội ác thực sự. Không phải tội tổ tông trong Ki-tô giáo mà chính cảm giác vô thức về tội lỗi kiểu Shakespeare và Freud mới là quy luật trong thế giới Kafka. Tội lỗi chiếm một quyền ưu tiên trong Kafka bởi nó là cái giá ta phải đánh đổi cho “sự bất diệt”; thực sự, đối với Kafka, chúng ta mang tội bởi bản ngã sâu kín nhất của chúng ta là cái bất diệt. Tôi ngờ rằng tính chất khó nắm bắt cũng như tính chất tượng trưng ở văn Kafka chính là sự phòng vệ của ông cho ý thức của mình về cái bất diệt, một ý thức mà sau này được truyền lại tốt nhất ở Beckett trong những tác phẩm như Tàn cuộc (Endgame), Cuốn băng cuối cùng của Krapp (Krapp’s Last Tape), Malone chết (Malone Dies), Như điều đó (How it is).

            Cái bất diệt không phải luôn chiếm phần thắng, nhưng như Beckett nói, nó là sự dấn tới ngay khi bạn không thể tiếp tục bước đi. Trong Kafka, sự dấn tới hầu như luôn được diễn tả dưới hình thức phúng dụ: cuộc dấn thân không ngơi nghỉ của K. vào lâu đài, chuyến hành trình bất tận của Gracchus trên con thuyền chết, chuyến bay của người cưỡi xô vào dãy núi băng, chuyến xe của người thầy thuốc nông thôn về nơi vô định. “Cái bất diệt” trú ngụ trong ta như một niềm hi vọng hay một cuộc truy tìm, nhưng bởi những nghịch lý vốn luôn ác nghiệt ở Kafka, sự hiện hình của nỗ lực đó lại tất yếu trở thành sự hủy diệt, cụ thể là sự tự hủy diệt. Lòng nhẫn nại không hẳn chỉ là bản tính, phẩm hạnh của Kafka mà hơn thế, nó trở thành nguồn sống duy nhất, tựa như lòng nhẫn nại kinh điển của người Do Thái.

                                                                                                Hồ Vân Anh dịch

Nguồn: Harold Bloom, Western Canon: The Books and School of the Ages, New York: Harcourt Brace, 1994, trang 447 – 462.

[1] Isaac (ben Solomon) Luria Ashkenazi (1534-1572): một giáo sĩ người Do Thái, được xem là một trong những nhà huyền bí học Do Thái (Kabbalist) thời hiện đại vĩ đại nhất.

[2] Meister Johannes Eckhart (1260-1327 (?)): nhà triết học thần bí Đức

[3] Count Lev Nikolayevich Tolstoy (Leo Tolstoy) (1828-1910): nhà văn vĩ đại người Nga thế kỉ XIX

[4] Hadji Murad: tên một cuốn tiểu thuyết của Leo Tolstoy

[5] Tạm dịch từ “oceanic sense”: khái niệm S. Freud sử dụng trong các công trình Tương lai của một ảo tưởng (The Future of an Illusion, 1927) và Văn minh và những bất mãn từ nó (Civilization and Its Discontents, 1930).

[6] Zionism: chủ nghĩa phục quốc Do Thái

[7] Nathan of Gaza (1643-1680): một nhà thần bí học, nhà tiên tri thế kỉ XVII

[8] Walter Pater (1839-1894): nhà văn, nhà phê bình văn chương, nghệ thuật người Anh

[9] Beatrice Portinari (tên thật là Bice di Folco Portinari, 1266 – 1290): một phụ nữ người Ý, là người tình đơn phương và là Nàng Thơ của nhà thơ vĩ đại Dante Alighieri trong hai kiệt tác Cuộc đời mới và Thần khúc.

[10] Yahwist hay Jahwist, thường được viết tắt là J: (cùng với Deuteronomist, ElohistPriestly) là một trong những nguồn tài liệu của kinh Cựu Ước. Tên gọi của nó xuất phát từ việc sách này dùng từ Yahweh để gọi Đức Chúa. (Xem chú thích 3).

[11] Nguyên văn: “a hold in real ground”

Trong thư gửi Milena, Kafka viết: “Such anchorages which have a hold in real ground are not the individual possession of a human being, but are pre-formed in his essential being and subsequently re-form his being (including his body) even further in this direction.” (Dẫn theo Neil Heins, Portia Williams Weiskel (2005), Franz Kafka, Chelsea House Publishers, Philadelphia, pp.134)

[12] Blaise Pascal (1623-1662): nhà toán học, nhà văn, triết gia Cơ Đốc người Pháp. Ông đã đưa ra triết lý đặt cược (the Wager) trong tôn giáo. Ông lập luận rằng sự thờ ơ của người theo chủ nghĩa hoài nghi sẽ được khắc phục bằng “sự đặt cược”: nếu Thượng Đế không hiện hữu, kẻ hoài nghi không mất gì cả vì tin vào ngài; nhưng nếu ngài hiện hữu, kẻ hoài nghi đạt được cuộc sống vĩnh cửu nhờ tin vào ngài. Bởi vậy đừng ngại ngần mà hãy đặt cược vào sự hiện hữu của Chúa.

[13] Saman giáo là loại tôn giáo có nhiều yếu tố giống ma thuật. Nhưng saman khác ma thuật ở chỗ, nếu ma thuật quan niệm tự bản thân ngưởi làm ma thuật có một sức mạnh siêu linh thì saman cho mình là người môi giới, là hình bóng của siêu linh. Saman giáo là một hình thức tôn giáo dùng phù phép, ảo thuật dưa con người vào trạng thái hôn mê để giao tiếp với thần linh, qua đó nhờ thần linh giúp đỡ những điều mình mong muốn.

[14] Tên của nhân vật chính trong vở kịch Tàn cuộc (Endgame) của Beckett là Hamm. Về nguồn gốc, ý nghĩa của tên gọi này, có các ý kiến khác nhau, cho rằng Hamm xuất phát từ: Ham (con trai Noah trong Kinh Thánh), hammer (chiếc búa), ham actor (diễn viên nghiệp dư nói những điều cường điệu) hay Hamlet (nhân vật chính trong vở kịch cùng tên của Shakespeare).  Trong bài viết này, Harold Bloom viết tên nhân vật là “Ham” (chứ không phải Hamm) có thể với ý gợi mối liên hệ chung giữa Hamm của Beckett và Hamlet của Shakespeare.

Nguồn: Bản đăng trên Phê bình văn học do dịch giả gửi.

Leave a Reply