Khải huyền muộn – cảm hứng và những dấu hiệu của hình thức nghệ thuật đương đại trong tiểu thuyết


Nguyễn Huy Thiệp

Khải huyền muộn, tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà (Nxb. Hội Nhà văn, H, 2005) là cuốn tiểu thuyết được chờ đợi nhiều sau thành công của tập truyện ngắn Của rơi và tiểu thuyết Cơ hội của Chúa ra đời cách đây đã hơn mười năm. Giống như các tác phẩm trước của Nguyễn Việt Hà, Khải huyền muộn tương đối khó đọc đối với các độc giả thông thường. Trong giới những người cầm bút (những siêu độc giả) có một độ hoang mang nhất định khi cầm tác phẩm này lên tay, quả thật rất khó xác định rằng nó hay dở thế nào, thành công đến đâu. Khác với các nhà văn khác viết tiểu thuyết cùng thế hệ với anh như Bảo Ninh, Trung Trung Đỉnh, Tạ Duy Anh, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Bình Phương, v.v… tôi luôn có cảm giác Nguyễn Việt Hà “cao tay ấn” hơn họ. Ở trong tác phẩm của Nguyễn Việt Hà luôn có ẩn chứa một sự nguy hiểm tinh thần đáng sợ thế nào đó đối với các “đồng nghiệp” của anh, những người đồng chí “cùng lí tưởng nhưng khác hạng”. Sự nguy hiểm ấy chí ít có cả ở hai phương diện: nội dung và hình thức.

Sự nguy hiểm về nội dung đấy là cách kể chuyện “không có truyện”, cách kể chuyện “tầm phào”, lẫn lộn giữa những “nguyên liệu” và tình trạng “not finish”, tức là không biết cách kết thúc “ngon trớn” khi tung ra một “chuyện nhỏ hư cấu” mà tôi tạm gọi đó là “tiểu truyện”. Đấy thực sự là điều rất tối kị ở trong nghệ thuật viết văn “cổ điển”. Trong tiểu thuyết Khải huyền muộn ta sẽ thấy Nguyễn Việt Hà luôn mắc lỗi “không sạch nước cản”, nó hầu như có ở trong tất cả các chương và các “tiểu truyện” mà anh dựng lên có phần cẩu thả. Thí dụ ở đầu chương II, tác giả kể về một buổi tiếp tân ở trong đại sứ quán Pháp (tôi biết rõ buổi tiếp tân này và nếu là tôi, tôi sẽ không bao giờ lại bê nguyên xi khối nguyên liệu đó vào trong trang sách. Vì tôi kĩ tính? Vì tôi “nhà văn” quá? Vì tôi quá nhiều vốn sống bởi lẽ những buổi tiếp tân như vậy tôi dự quá nhiều? Vì Nguyễn Việt Hà thẳng thắn, bộc trực? Tất cả dường như không phải như vậy và tôi sẽ cố gắng giải thích điều này về sau). Khi đang kể chuyện về buổi tiếp tân, tác giả lan man kể sang các kí ức của mình, những chuyện về tổ chức giáo hội Ki-tô và Thanh giáo, tất cả các “tiểu truyện” và các liên tưởng đều không có một kết thúc nào (đã đành rồi), thậm chí chúng còn không có ý nghĩa liên quan gì với nhau nhiều lắm nữa. A.Tsêkhôp, một trong những bậc thầy về nghệ thuật viết văn cổ điển khi nói về nghệ thuật viết văn đã có lần nói rằng: “Mở đầu câu chuyện, nếu tác giả miêu tả một khẩu súng treo ở trên tường thì kết thúc câu chuyện đó, khẩu súng ấy phải bắn”. Lời dạy kinh điển về sự chặt chẽ ở trong cấu trúc hình thức và logic tâm lí của một nhà văn “truyền thống” nếu ta dùng nó làm hệ quy chiếu để soi vào một tiểu thuyết như Khải huyền muộn thì sẽ sai lạc vô cùng. Điều này giống như người ta nói “thúng gạo này nặng 10 mét” vậy.

Sự cố tình vi phạm tôi nghĩ là cố tình vì Nguyễn Việt Hà trước đó đã có kinh nghiệm của hơn mười năm cầm bút, anh là người đọc nhiều, lại là một con mọt sách (đọc báo thậm chí đọc đến cả mục “tin buồn”). Nguyễn Việt Hà là người ý thức được khá rõ về “phúc phận” và tài năng, anh không hề hoang tưởng về “thiên tài” như nhiều “con ngợm văn chương” khác, sự cố tình vi phạm các “nguyên tắc vàng” sau đó trình bày ra một nội dung khác với các nhà văn đương thời là một câu hỏi “chơi thẳng” vào “trái tim” văn học: “Vậy như thế được gọi là văn học à?”. Tinh thần “khủng bố” trắng trợn với các giá trị “cổ điển” ngoài nội dung lại được nhấn thêm bằng một hình thức cấu trúc ngữ pháp và bố cục không cân đối, làm cho độc giả đã khó đọc lại thêm một lần nữa khó đọc nếu không muốn nói là không thể nào đọc được. Trong cấu trúc ngữ  pháp, người ta luôn thấy các tính từ được Nguyễn Việt Hà đặt lên trước danh từ (đôi mắt mênh mông buồn, ánh trăng rờ rỡ sáng, v.v…). Trong bố cục, hầu như mỗi một chương lại một khác (chương I có 4 tiểu đoạn, chương II có 2 tiểu đoạn, mỗi tiểu đoạn thì “nguyên liệu” và các “tiểu truyện” đan xen nhau, đan xen nhau như không hề có liên hệ nào trực tiếp. Còn những suy nghĩ của tác giả (người viết văn) dường như là cảm hứng chủ đạo nhưng cũng lại không hề rõ ràng, v.v…

Khi đọc Khải huyền muộn, hầu như tôi chỉ đọc được vài trang. Tôi cố gắng đọc tiếp, luôn phấp phỏng, hoang mang rằng mình ngu, mình “quê”, mình không hiểu hay thực tế Nguyễn Việt Hà chỉ là một tay bịp bợm? Khi đánh dấu những câu, những nhận xét “văn học” nhất không thể không công nhận Nguyễn Việt Hà thông minh, rõ ràng anh cố gắng diễn đạt một cách cố gắng nhất để truyền những cảm giác (thậm chí có cả những cảm giác trìu mến và cảm động với cuộc sống của chính nhà văn, “người cầm bút nhọc nhằn” hay nói như Trần Đăng Khoa là “gã thợ đấu lực lưỡng”). Ở đây, tôi không thích dùng những danh từ đao to búa lớn như tinh thần hướng về Chân, Thiện, Mỹ hoặc cảm thức tôn giáo, v.v… của tác giả. Nguyễn Việt Hà đơn giản hơn nhiều: anh chỉ xúc động và kể lại, hoàn toàn bất lực vì không thể làm hơn gì được nữa. Là người viết văn, tôi tìm thấy sự cảm thông với tác giả và có lẽ chỉ có sự cảm thông với tác giả thôi là đủ: sống, thật khó sống và viết văn là một việc chẳng dễ dàng gì, nhưng không thể không viết nó ra dù biết rằng văn học vô nghĩa và ẩn tàng rất nhiều may rủi, nhưng không thể không tự mình làm ra nó vì chính ta phải sống, số phận bắt ta cầm bút và viết, và viết… Nếu không thế thì sự tồn tại của ta hỏi sẽ là gì? Làm sao ta sống tiếp được? “Tại mày muốn thế Georges Dondain! Tại mày muốn thế, Georges Dondain!” (Molière). Bi kịch “thiếu thiên nhiên” của Nguyễn Việt Hà là một điểm yếu của các cây bút thành phố. Ở những tay viết “nông dân đặc” như Lê Lựu, sau này là Nguyễn Ngọc Tư ở Nam Bộ, họ thoát hiểm tâm lí giỏi hơn những người chỉ sống và viết ở đô thị. Như để bù đắp lại điều ấy, đám nghệ sĩ viết văn ở thành phố lại có cách “trình bày khó hiểu” và có tài nghệ “xoay trở trong không gian hẹp” nhiều khi rất đỗi tân kì: ở Nguyễn Việt Hà hay trong thơ Dương Tường, Lê Đạt, Hoàng Hưng, tôi cũng bực mình khi phải kể thêm tên của Vi Thuỳ Linh vào đấy (đáng lẽ Vi Thuỳ Linh phải “thiên nhiên” nhiều hơn nữa, phải thật sự đắm chìm ở trong thiên nhiên) đều có chất ấy. Song, vì Nguyễn Việt Hà là người viết văn xuôi, anh đọc nhiều nên các kiến thức sách vở đã giúp anh có được sự tỉnh táo nhất định nên không bị lố và “khó ngửi” như các nhà thơ tỉnh thành “hiện đại” kia. Điều duy nhất khiến Nguyễn Việt Hà trụ lại được ở trên sân chơi văn học chính là ở ý thức nhà văn chân thành và khát vọng thay đổi chính mình, thay đổi văn học trong anh thể hiện ra trên từng trang sách. Khi ra nước ngoài, tôi hay đến xem các bảo tàng nghệ thuật đương đại và tập suy nghĩ. Trong mĩ thuật, khái niệm “đương đại” được người ta nhắc đến nhiều hơn trong văn học. Đứng trước một bức tranh của Helen Frankenthale, của Dorothea Rockburne hay của Jakson Pollock tôi đều thấy nhiều người xem có một biểu hiện hoang mang ngờ vực thế nào đó. Khi hoạ sĩ bày ra tấm toile trắng muốt, đổ ào vào đó một ít phẩm màu với đôi nét vẽ ngoạc nghuệch, rồi gài lên mấy cái bút vẽ, họ gọi đó là tranh, là “nghệ thuật đương đại” thì làm sao người xem lại không hoang mang ngờ vực được? Ở đây – người nghệ sĩ bày ra “nguyên liệu” (bút vẽ và sơn dầu) cố tình cho ta thấy sự băn khoăn của anh ta trong quá trình tập trung tư duy để sáng tạo nên các tác phẩm đã là nghệ thuật. Chính cái “quá trình tiến tới tác phẩm” đó đã được nghệ sĩ gọi là tác phẩm và ý nghĩa “đương đại” sẽ có điều gì na ná như sự dở dang, na ná như sự bất lực hoặc chán chường. Điều này chắc chắn làm cho một người xem bình thường không thể nhận ra được. Người xem ấy buộc phải có một trình độ chuyên môn thế nào đấy mới “đọc” được tác phẩm, anh ta không “thưởng thức ngốn ngấu” tác phẩm đó theo kiểu “cổ điển” mà ở đây – người nghệ sĩ đòi hỏi anh ta có một độ cảm thông, đòi hỏi anh ta có một tâm trạng và cảm giác đồng sáng tạo thế nào đó với họ. Có thể nói, ở trong nghệ thuật đương đại thì người nghệ sĩ làm ra tác phẩm không phải là để dành cho đám đông quần chúng mù loà, hễ có tiền là xuỳ ra mua vé vào xem. Người nghệ sĩ đòi hỏi cao hơn thế nữa, anh ta muốn một đám quần chúng có “dân trí”, có học, thậm chí buộc họ còn phải là nghệ sĩ nữa. Đòi hỏi thái quá ấy của nghệ thuật đương đại rất dễ gây hiểu nhầm, thậm chí làm cho một bộ phận những người xem “chất phác” còn có cảm giác như bị chơi xỏ vậy.

Trở lại tiểu thuyết Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, vốn là một nhà văn (tức là một siêu độc giả, một người đọc có số má hẳn hoi, còn gọi bỗ bã thì có thể gọi là một người cùng “cạ”) – tôi nhận thấy ở đây chứa ẩn những cảm hứng và dấu hiệu của một tiểu thuyết theo dòng nghệ thuật đương đại. Trong “mặt bằng” tiểu thuyết hiện nay, có lẽ hầu hết những người viết văn chúng ta đều mới chỉ viết ở trong sự ảnh hưởng và biên độ của nghệ thuật viết văn cổ điển, chưa ai viết khác đi. Nguyễn Việt Hà đang thí nghiệm một lối viết khác. Tôi không cho Khải huyền muộn là một thí nghiệm thành công nhưng rõ ràng không thể không tôn trọng nó. Cuốn sách không thể đọc được này lại là một cuốn sách đáng phải xem, nhất là với những người đắc ý tự coi mình là “nhà văn” nhất.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 4 – 2006. Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply