Khi nhà văn đứng trên bục giảng


Hiền Nguyễn

Lâu nay việc các văn nghệ sĩ làm “người thầy” của sinh viên được xem là chuyện không có gì lạ. Nhưng mới đây Bộ Giáo dục và Đào tạo thẳng tay yêu cầu một số ngành nghề nghệ thuật dừng tuyển sinh vì chưa đủ số lượng các giảng viên đạt trình độ Tiến sĩ, thạc sĩ. Vậy sắp tới, các nhà văn nhà thơ muốn giảng dậy sinh viên có phải “cấp tốc đi học”?

Văn chương nể nhau vì bằng cấp hay tác phẩm?

Trước mùa tuyển sinh năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thông báo dừng tuyển sinh đối với 207 ngành hệ đại học của 71 cơ sở đào tạo do không đáp ứng các điều kiện quy định, đó là thiếu giáo viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ.

Có nhiều phản ứng xung quanh thông báo này. Đáng chú ý là trường hợp của trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội với đặc thù nghệ thuật dẫn đầu danh sách ngành học bị dừng tuyển sinh năm nay.

Trước nay, ngành Viết văn, có tiền thân là trường Viết văn Nguyễn Du cũng luôn được các nhà văn, nhà thơ xem là một trường hợp đào tạo nghệ thuật có tính đặc thù. Nếu trọng tâm của ngành Viết văn là dành cho đối tượng sáng tác thì xem ra các nhà văn, nhà thơ giảng dạy là trọng tâm. Trước thông tin này, nhiều người suy luận, liệu đến một ngày nào đó, các nhà văn, nhà thơ có nhất thiết phải có trình độ tiến sĩ hay thạc sĩ mới được “làm thầy” của sinh viên đại học không? Bởi xưa nay đòi hỏi các nhà văn nhà thơ là thạc sĩ, tiến sĩ thì thật khó và ít ai nghĩ đến.

Thực tế cho thấy, trong đội ngũ nhà văn nói chung thì các nhà lý luận phê bình có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ theo đúng chuyên ngành nhiều hơn cả. Còn với các nhà văn, nhà thơ được mời tham gia giảng dạy thì rất muôn hình muôn vẻ. Không thiếu người có học hàm học vị từ PGS.TS, tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân nhưng lại thuộc lĩnh vực khác, chẳng liên quan đến sáng tác văn chương. Bởi vì họ học một đằng và rẽ sang ngang với văn chương và thành danh ở văn chương. Còn có người chỉ học hết phổ thông, đi lính… nhưng tác phẩm thì lại quá nổi tiếng trong lòng bạn đọc.

Có một quan niệm bất thành văn tồn tại trong giới văn chương (và có thể trong giới nghệ thuật nói chung) là chỉ nể nhau, phục nhau ở tác phẩm chứ không phải vì bằng cấp. Với sinh viên viết văn cũng vậy, họ “đo” trình độ thầy cô giáo là những nhà văn, nhà thơ qua sức nặng của tác phẩm, giải thưởng văn chương, sự nổi tiếng… được xem là tiên quyết. Còn bằng cấp, học hàm học vị là thứ… xếp sau. Thế nên mới có chuyện vui rằng, có thầy được giới thiệu tên qua tác phẩm, còn ai không, hoặc chưa có tác phẩm đáng kể thì được giới thiệu qua học hàm học vị.

Thầy là thế, còn trò cũng không ngoại lệ. Ở các khoá Viết văn không hiếm sinh viên lớn tuổi, từng học ở trường đại học khác với hai ba tấm bằng nhưng khi ngồi cùng lớp Viết văn thì các giá trị này gần như bị san bằng. Chỉ ai từng xuất hiện nhiều qua báo chí, giải thưởng, ra sách… thì mới được “điểm mặt”.

Như vậy, học hàm học vị được xem là thứ kê khai lý lịch của người cầm bút, là danh từ mang nhiều ý nghĩa về mặt hành chính. Còn chất lượng tác phẩm mới thước đo tài năng. Tài năng tỉ lệ thuận với độ “nể” trong văn giới.

 Khi nhà văn đứng trên bục giảng

Quay trở lại vấn đề, nhà văn, nhà thơ khi đứng trên bục giảng có nhất thiết phải là thạc sĩ, tiến sĩ không khi mà tài năng được đánh giá thông qua tác phẩm? Và cái gọi là “giáo viên hữu cơ” có phải là thủ tục hành chính, hay là cơ hội cho người làm nghiên cứu, lý luận phê bình?

Nhà văn là người “trực tiếp” làm nghề, thực hành nghề… sau một hành trình dài, có vấp ngã, thất bại, thành công mới nhìn lại, đúc kết cái nghề của mình và truyền lại. Truyền lại cho thế hệ sau chính là sự truyền lại kinh nghiệm, nhiệt huyết mà người cầm bút phải chắt chiu bao nhiêu năm mới có được… Đây là một bài học vô cùng quý giá, không phải một học sinh phổ thông nào học xong, học bốn năm đại học rồi hai năm nữa lên thạc sĩ cũng có được.

Có những buổi học mà nhà văn lên lớp chẳng thấy giáo án, chẳng dùng đến phấn bảng nhưng từ đầu đến cuối sinh viên lại nghe không sót câu nào, hoặc sôi nổi tranh luận mà giờ học đã hết vẫn chưa ngã ngũ.

Nhưng, nhà văn là người nghĩ giỏi và viết giỏi chứ chưa hẳn đã là người truyền đạt giỏi. Sự truyền đạt qua ngôn ngữ, qua kỹ năng nói không phải nhà văn, nhà thơ nào cũng nhuần nhuyễn. Một vài sinh viên từng thành thật chia sẻ, có những nhà văn, nhà thơ mới đầu nghe tên đã thích mê, thậm chí từng là thần tượng thời học sinh. Tên tuổi của họ mới chỉ nghe tên, đọc tên qua sách giáo khoa, hay nhìn thấy trên ti vi, nghe thấy trên đài phát thanh, báo chí… Giờ đây không những được nhìn tận mắt, lại còn là thầy của mình thì còn niềm tự hào nào sánh bằng. Khi thầy giáo – kiêm nhà văn xuất hiện cảm tưởng họ chẳng khác các vị thánh là bao. Mắt nhìn, tai nghe như nuốt từng lời, dõi theo từng cử chỉ. Thế nhưng, chỉ qua buổi đầu đã không ít sinh viên “vỡ mộng” vì nhà văn nói không thực sự hấp dẫn. Có người giọng đều đều từ đầu đến cuối, không nhấn nhá điểm quan trọng, cũng không biết ở dưới sinh viên tiếp thu đến đâu. Có người tiếp cận chủ đề học không gần gũi. Lại có người dùng câu từ rất trừu tượng… Với những nhà văn như thế này, thì sinh viên đúc kết, tốt nhất là hãy đọc họ.

Nhà văn, nhà thơ khi đứng trên bục giảng, nếu có bằng nọ bằng kia, thậm chí khác ngành nghề văn chương vẫn cần thiết, vì sự hỗ trợ liên ngành. Nhưng thiết nghĩ không quan trọng bằng việc họ cần có phương pháp truyền đạt như một thứ nghiệp vụ sư phạm. Tất nhiên, vẫn có, và có nhiều nhà văn nói chuyện rất hấp dẫn, rất hay. Tuy nhiên, sự hấp dẫn nhiều khi bị cảm xúc chi phối, thiên về chủ quan mà học viên vẫn cần đến sự bài bản đầu – cuối của một tiết học.

Nhớ lại những năm tháng còn là sinh viên Viết văn, có những tiết học mà sinh viên quên mất việc học kiến thức cơ bản của phần lý thuyết mà quay ra đọc thơ rồi bình tán, kiểu như “thơ hay mọi lời bình đều… thừa” hoặc “thơ hay không cần nói thêm gì”… khiến cả lớp cười nghiêng ngả hoặc thấy thú vị vì những phản ứng của người hoạt ngôn. Tiết học như thế có thể làm sinh viên không căng thẳng đầu óc, dễ chịu, thích thú, thậm chí nhớ dai. Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại, nhiều khi sự ngẫu hứng đi quá giới hạn. Hoặc khi nào muốn tìm lại những kiến thức đã học thì không được ghi chép cẩn thận. Có một nghịch lý là, sinh viên Viết văn nhiều khi tự tin và cho rằng sáng tác mới là chính, là điểm mạnh và không coi trọng lý thuyết. Và dường như sinh viên văn các trường đại học khác thì không mạnh sáng tác bằng nhưng lý thuyết họ nắm chắc hơn. Chỉ đến lúc theo đuổi văn chương mới hiểu ra lý thuyết quan trọng tới mức nào.

Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo trước thềm thi cử đã thông báo dừng tuyển sinh hơn hai trăm ngành có thể xem là một hồi còi cảnh báo và cần thiết. Tất nhiên, Bộ cũng cần xem xét để có những quy định “mềm” hơn, phù hợp với môi trường nghệ thuật trong nước. Một số trường bị dừng tuyển sinh với số lượng lớn có thể gây hoang mang, thậm chí “sốc” cho phụ huynh học sinh và giáo viên. Nhưng xin hãy bình tĩnh và đặt câu hỏi ngược lại, cũng là ngành có đặc thù nghệ thuật nhưng tại sao một số trường khác như Đại học Văn hoá, Đại học Mỹ thuật, Văn hoá Nghệ thuật Quân đội… không bị Bộ cho dừng tuyển sinh? Tại sao không nhìn vào đội ngũ giảng dạy là các văn nghệ sĩ, cần phải điều tiết phù hợp giữa lý thuyết bài bản và sự truyền đạt kinh nghiệm, nhiệt huyết với nghề, rồi còn thực tế chất lượng sinh viên hiện nay, đầu ra của sinh viên tốt nghiệp?

Nguồn: http://vanhocquenha.vn

Leave a Reply