Khuynh hướng duy ngữ trong văn học hiện nay


Trịnh Bá Đĩnh

Trong đời sống văn học hiện nay có một xu hướng khá nổi bật, có thể gọi là xu hướng duy ngôn ngữ, tức là đặc biệt đề cao ngôn ngữ. Có thể thấy điều đó ở nhiều khu vực: trong thơ, trong tiểu thuyết, trong lí luận phê bình. Ở đây tôi xin chỉ ra một vài trong số các biểu hiện ấy và sẽ nêu lên quan điểm của mình. Trong lĩnh vực thơ ca, nó biểu hiện rõ nhất qua sự tái xuất của những nhà cách tân thơ như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng… Thơ của họ ngày càng có thêm nhiều người quan tâm, nhất là các đồng nghiệp trẻ, trong số đó có những người đánh giá rất cao.

Như ta biết, thơ của họ là loại thơ trọng “chữ”, duy chữ (tên một tập thơ của Lê Đạt là Bóng chữ), có người gọi nó là thơ ngôn ngữ. Nền tảng của thi phẩm theo quan điểm của các nhà thơ này là các yếu tố thuộc ngôn ngữ như âm, vần nhịp, các biện pháp tu từ…chứ không phải cảm xúc, nội dung tư tưởng hay bức tranh đời sông như quan niệm truyền thống đối với thơ ca. Ngôn ngữ không phải là phương tiiện để biểu hiện một cái gì đó bên ngoài nó, một nội dung tư tưởng nào đó, bản thân nó là một giá trị, ngôn ngữ thơ là sụ thể hiện chính giá trị này. Các bài thơ thuộc loại này của họ là vô nghĩa theo quan điểm thông thường. Sự hấp dẫn của một bài thơ không phải là bởi nội dung sâu sắc, cảm xúc nồng nhiệt , “nội dung phù hợp với hình thức”, mà là ma lực của chữ, tài năng thơ là tài dụng chữ, “chữ bầu lên nhà thơ” (Lê Đạt). Các nhà thơ hay nói đến “con chữ”, “con OEE” (một biến âm), biến tấu chữ, phối âm, lặp âm ( Em ơi! Ai xui nhà ươm CHÍN mái/ Tơ ngâm CHÍN vại/ Dâu xanh CHÍN bãi/ Tằm ngã CHÍN nong/ Ai xui cửa CHÍN chấn song/ Đường về phố em đèn lên CHÍN ngả/ Thư đi ngỡ ngàng CHÍN ngõ/Vườn hoa CHÍN cửa/ đợi chờ CHÍN đêm- đó là một đoạn thơ thuộc loại “có nghĩa” nhất của Trần Dần). Đây không phải là hiện tượng chưa hề có trong văn hóa truyền thống. Các bài đồng dao, kinh cầu nguyện, các công án thiền, những lời mù mờ rắc rối của các thầyphù thủy, là các hiện tượng văn hóa tương tự. Người nghe không nên gắng tìm nghĩa ở đấy mà hãy cứ để cho lời nói cuốn đi. Cũng không nên coi những bài thơ này là trò chơi ngôn ngữ thuần túy. Có lẽ loại thơ này cũng có phần tương tự như hiện tượng vẫn được gọi là thuận nghịch độc (câu thơ, bài thơ vừa có thể đọc xuôi/ đọc ngược) rất phổ biến trong văn hóa trung đại, trong nhiều trường hợp đó không phải là trò chơi chữ nghĩa mà có chức năng tôn giáo, ma thuật. Chúng nhằm tác động đến vùng tâm linh con người, chứ không phải đến vùng ý thức. Chính nhà kí hiệu học Nga Iu. Lotman đã chỉ rõ điều này. Nhiều người tỏ ra rất ngần ngại khi được hỏi quan điểm về thơ ngôn ngữ của Lê Đạt, Trần Dần, họ rõ ràng là không thích, không chịu nổi, ngoài những điều khác có lẽ vẫn bị ám ảnh về một cái gì đó có tính ‘ma thuật’, thực ra nhiều khi đó chỉ là những thử nghiện ngôn ngữ thông thường. Đấy là trong thơ! Trong văn xuôi cũng có một cái gì đấy tương tự, dù mức độ còn dè dặt. Biểu hiện của nó là ở loại tự sự về lối viết mà các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương xuất hiện gần đây là khá tiêu biểu. Loại tiểu thuyết này hầu như là phi truyền thống, ít nhất là trong văn học Việt Nam, rất khó đọc đối với các độc giả hiện nay. Truyện truyền thống luôn là sự kể lại một câu chuyện nào đó mà nhà văn nghĩ, nhìn thấy, gặp phải,nói chung là một câu chuyện ngoài đời. Dù có là chuyện hoàn toàn hư cấu thì nhà văn cũng giả định là như vậy, tạo một xác tín cho độc giả như vậy. Loại truyện mới này hầu như là nhằm nói về bản thân “lối viết”, “sự viết”. Nhà lí luận Hoàng Ngọc Hiến, dẫn lại ý kiến của một nhà phê bình Nga, phân biệt loại truyện kể nội dung và loại truyện viết nội dung trong một chừng mực nào đó có thể áp dụng để phân biệt trong trường hợp này. Với loại tiểu thuyếtửtước hết chú ý đến sự trình bày lối viết như vậy thì một loạt vấn đề lí luận quen thuộc sẽ không còn được đặt ra. Chẳng hạn như các vấn đề phản ánh hiện thực, chủ nghĩa nhân đạo, sự tu dưỡng, thâm nhập thực tế của nhà văn…Ở đây sẽ không còn “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, sẽ chỉ còn vẻ đẹp cuả những cấu trúc. Các kiểu cấu trúc tiểu thuyết mới cũng sẽ xuất hiện đa dạng hơn, thậm chí hầu như là không thấy giới hạn. Và sáng tạo nên cấu trúc mới hầu như thành mục đích cao nhất của nhà văn. Có thể dự đoán rằng phổ biến sẽ là các kiểu kiến trúc ghép mảng, văn bản tiểu thuyết như là sự lồng ghép các văn bản thứ cấp (cấp độ thứ hai), các văn bản trong văn bản, chúng có thể đổi chỗ cho nhau. Cốt truyện sẽ không còn quan trọng nữa, nhân vật sẽ tan rã, một sự thống nhất phong cách sẽ không còn, các loại văn phong triết học, sử học, hành chính… đủ màu sắc sẽ sống chung trong một tác phẩm. Tất cả sẽ tạo nên một khối ru bích văn bản. Nói theo cách của khoa học hàn lâm thì văn bản không kể về kẻ khác, mà kể về chính nó.

Nếu như loại thơ ngôn ngữ, như đã nói ở trên có những hiện tượng tương tự từng gặp trong văn hóa truyền thống, thì loại truyện này hầu như là sự phản kháng lại truyền thống tự sự hàng ngàn năm nên thật vô cùng khó để được độc giả đông đảo tiếp nhận, thừa nhận. Đơn giản là họ không thấy hứng thú gì với loại truyện không có chuyện ấy. Đó là chưa kể đến việc thế giới giờ đây tràn ngập các loại tự sự bình dân: phim truyền hình, video, các loại quảng cáo, giải trí khác trong đó luôn có một câu chuyện “gần gũi mà cảm động”. Cũng không nên coi loại truyện này là một trò chơi cấu trúc. Trong sự tìm kiếm và thử nghiệm ở đây có một hàm ý nghiêm túc rằng bản thân các cấu trúc, lối viết sẽ nói nên cảm nhận về thế giới của nhà văn, điều này cũng tương tự trong hội họa hiện đại.

Vậy trong lí luận phê bình văn học thì sao? Ở đây, xu hướng duy ngôn ngữ còn biểu hiện tập trung hơn nhất là thời gian gần đây đã du nhập vào ta một loạt trường phái học thuật có nguồn gốc từ phương Tây: Chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa cấu trúc, kí hiệu học, hiện tượng luận, tự sự học, nói chung là các loại phê bình văn học có cơ sở lí luận là triết học ngôn ngữ và phương pháp luận là phương pháp của ngôn ngữ học. Ngay từ thập kỉ 80 của thế kỉ trước, phê bình ngữ học đã xuất hiện ở nước ta, đã có một số thành tựu, giờ đây nó hầu như đang chiếm ưu thế, nhất là trong khu vực phê bình học viện (còn gọi là nghiên cứu văn học). Rất nhiều luận văn, luận án cao hoc, tiến sĩ ở ta đang đi theo hướng này. Phê bình ngữ học coi văn học là một dạng ngôn ngữ đặc biệt có chức năng và cách tổ chức đặc biệt. Nhà ngôn ngữ học và thi học Mĩ học Nga R.Jakobson đã trình bày rõ quan điểm này trong công trình Thi học và ngữ học, qua cái sơ đồ về hành động giao tiếp nổi tiếng mà các nhà chuyên môn đều biết rõ. Chính phê bình ngữ học của ta chịu ảnh hưởng nhiều các tư tưởng của R.Jakobson, trước hết là những nhà ngôn ngữ có tham gia hoạt động văn học như Phan Ngọc, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Phan Cảnh. Nổi bật nhất trong số các thành tựu thuộc xu hướng phê bình này là các công trình Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Truyện Kiều của Phan Ngọc và các bài viết sau này của Đỗ Đức Hiểu về Hồ Xuân Hương, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Minh Châu. Cuốn Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh cho đến nay vẫn là công trình diễn giải lí thuyết về ngôn ngữ thơ một cách thuyết phục nhất, dù nó có một nhược điểm là các dẫn chứng thơ trong đó không phải lúc nào cũng là những câu, bài thơ hay của nền thơ ca Việt Nam. Nguyễn Phan Cảnh từng tu nghiệp nghiên cứu ngôn ngữ nhiều năm ở Praha, quê hương của ngôn ngữ học cấu trúc, nơi có nhóm của R.Jakbson. Trình tự lập luận của ông như sau: thơ là một ngôn ngữ – nghiên cứu thơ là nghiên cứu hình thức tổ chức một văn bản thơ từ thấp lên cao : câu thơ, khổ thơ, bài thơ. Vì thơ cũng là một dạng ngôn ngữ nên việc phân tích thơ phải căn cứ vào hai thao tác cơ bản trong hoạt động ngôn ngữ : lựa chọn và phối hợp. Sự lựa chọn rồi phối hợp các yếu tố tương đồng trên một trục tuyến tính làm nên văn bản thơ ( “Thơ là sự chiếu các yếu tố tương đương lên trục ngữ đoạn” – R.Jakobson), còn sự kết nối các yếu tố khác biệt làm nên một văn bản và xuôi. Các phân tích của Nguyễn Phan Cảnh về các chuỗi ngôn ngữ không phân lập, vần, nhịp, các kiểu song hành trong thơ Việt Nam khá thú vị và mới mẻ. Cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc là công trình độc đáo thực hành phân tích tác phẩm văn học, đối tượng là Truyện Kiều áng thơ hay nhất của thơ ca Việt Nam. Ở đây, Phan Ngọc nghiên cứu ngôn ngữ Truyện Kiều, câu thơ, ngữ pháp Truyện Kiều và phương pháp tự sự của Nguyễn Du. Để thấy được phương pháp tự sự riêng biệt của Nguyễn Du, Phan Ngọc cũng phân lập các yếu tố tương đồng và khác biệt và cách thức phối hợp của chúng. Cách tự sự của Nguyễn Du, theo ông, là “đối lập một hành động với những hành động khác cùng loại để gây nên những quan hệ, những tương phản, bắt ngừơi khác rút ra kết luận”. Chẳng hạn bốn lần Kiều đánh đàn, bốn lần Kiều gặp Kim Trọng của Kiều, đó là các yếu tố tương đồng “các sự kiện như nhau được đặt vào các hoàn cảnh khác nhau”. Quan hệ giữa những thành phần tương đồng này đưa lại những những thông báo mới “trĩu nặng suy tư về cuộc đời” mà trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân không hề có, thâm chí ông còn cho rằng lối tự sự ấy là chưa hề có trong văn học thế giới (?). Các nghiên cứu của Phan Ngọc dù sử dụng phương pháp ngôn ngữ song không dừng ở đó mà đi đến những nhận xét về đặc thù văn hóa và tư tưởng, nên có sức nặng khác hẳn loại phê bình ngữ học thông thường. Phê bình ngữ học từ cuối thập niên 90 trở lại đây phát triển mạnh, các tác giả đáng chú ý có thể kể như Đỗ Đức Hiểu, Đặng Anh Đào, Đào Duy Hiệp. Các hội thảo về tự sự học cũng theo hướng này. Thú vị nhất là những bài viết của Đỗ Đức Hiểu về văn học Việt Nam. Chẳng hạn ông phân tích việc sử dụng dày đặc các thanh trắc làm nên đặc thù cho “các bài thơ hang động” (“hang Cắc cớ”) của Hồ Xuân Hương. Đỗ Đức Hiểu nhìn tác phẩm như một khối tổng hòa của các yếu tố hình thức tạo nghĩa : âm thanh, màu sắc, hình dáng câu thơ, nhịp thơ, ngữ pháp tu từ. Cái khối tổng hòa hình thức ấy tác động đến độc giả một cách khác nhau tùy theo “cơ địa” tinh thần của từng người. Tác phẩm như vậy sẽ là đa nghĩa. Đối với Đỗ Đức Hiểu hiện thực của tác phẩm là “hiện thực ngôn ngữ”. Hiện thực ở Số đỏ của Vũ Trọng Phụng đó không phẩi là bức tranh xã hội hay những cái lố bịch thời đại nhà văn sống mà là tiếng cười, “những lớp sóng ngôn từ” của tiếng cười, cười nhạo cái xã hội nửa thực dân, cười nhạo cái lố bịch. “Hiện thực của Số đỏ là một hiện thực vật thể, hiện thực ngôn ngữ học”, Đỗ Đức Hiểu kết luận như vậy.

Duy ngôn ngữ là một hiện tượng nổi bật trong văn học thế kỉ 20, có thấy qua nhiều phong trào văn học, nhất là ở khu vực lí luận phê bình. Cơ sở của nó là triết học ngôn ngữ, mà Heidegger là đại diện lớn nhất, và sự bùng nổ của các thành tựu ngôn ngữ học trong thế kỉ vừa qua.

Triết học ngôn ngữ coi ngôn ngữ là cái phổ quát nhât, là ngôi nhà của tồn tại. Hình dung như ngôi nhà còn chưa đầy đủ mà phải nói là ngôn ngữ ở trong chúng ta đồng thời chúng ta ở trong ngôn ngữ. Vào những năm 70 ở Pháp khuynh hướng duy ngữ bắt đầu phát triển mạnh, người ta thường xuyên nói tới “chủ nghĩa đế quốc ngôn ngữ học” nhất là ở các nhà văn học tập trung quanh tạp chí Tel Quel. Phương pháp ngôn ngữ học được xem như phép biện chứng của Hegel, tức như là công cụ chủ chốt để nhận thức thế giới. Cuối thế kỉ xu hướng này dần lắng xuống. Điều ấy tôi nghĩ là hợp lí. Dù cho ở ta, thời gian qua văn học đã gây được sự chú ý cho những vấn đề riêng của mình, sự độc lập của mình. Đó đúng là những điều rất quan trọng. Song tôi nghĩ văn học là một hiện tượng rất phức tạp, một hiện tượng mang tính tổng hợp văn hóa rất cao, một bộ phận không thể tách rời khỏi văn hóa thời đại. Làm nên nó không chỉ có những thành phần của riêng nó như cách tự sự, cách cấu tạo, mà còn có những thành phần khác của văn hóa như tâm lý thời đại, hệ tư tuởng, các nghệ thuật khác. Mà mỗi thời đại lại không tách rời khỏi toàn bộ truyền thống văn hóa qúa khứ (trong mỗi thành tố nhỏ nhất của văn học cần nghe được tiếng vọng nhiều thế kỉ đã qua) và cả những mơ ước, dự phóng về tương lai.

Văn học phải là sự tổng hợp của mĩ học của lời nói và mĩ học của cái được nói tới. Không phải ngẫu nhiên mà văn học ngay từ khởi thủy cho đến ngày nay vẫn kiên nhẫn kể về tình dục và quyền lực, về cái thiện, cái ác đích thực và giả trang.. Điều ấy có nghĩa là văn học của chúng ta vẫn rất cần phải tiếp tục kể về “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, về tình yêu, số phận con người./.

Hà Nội cuối tháng Giêng Tân Sửu

Leave a Reply