Kính màu hay kính trắng?


Tam Ích

Tôi không hiểu khi loài người hiện ra trên trái đất để sống với nhau họ mang theo trong cơ thể và trong tâm hồn những thực thể gì.

Nhưng trước kia, hiện giờ, sau này, con người, sống giữa lịch sử và giữa nhân sinh, mang theo với nó nhiều thành tố lắm: nào huyết thống của ông bà cha mẹ truyền bao nhiêu lớp bọc bao nhiều lần… nào nền giáo dục dạy trong sách… nào hoàn cảnh sống của gia đình… nào văn hóa xã hội – kể cả khung cảnh thiên nhiên – thấm vào những tế bào vi ti li ti thoát ra ngoài nhận thức cụ thể của tất các quan năng hợp lý, siêu lý và phi lý của cá nhân.

Bấy nhiêu “chất”, nguyên chất và biến chất trong phòng thí nghiệm cơ thể và tâm hồn con người cộng với tiềm thức vô thức, v.v. và một số thức thứ sáu và thức thứ bảy… tiềm tàng trong con người – mà chính nhà Phật cũng có tiếng để gọi. Riêng về những thực thể trừu tượng, Freud là tổ tiên của phân tâm học cũng đã phân loại và khai sinh đặt cho một số tên. Và hình như cái quá trình sinh sinh hóa hóa của mọi thực thể trừu tượng ấy tạo ra cảm tình của con người, nhà Phật cũng đã hệ thống hóa nó trong thuyết thập nhị nhân duyên của con người. Rốt cuộc là con người tù hãm trong cái cá tính ấy và xử thế với mình và với người theo những “sắc lệnh” của cá tính mình.

Nhà văn Võ Đình Cường có một tiếng tôi dùng để gọi kết quả cái quá trình ấy của con người: những cặp kính màu. Những cặp kính màu là tên cuốn tiểu thuyết mà anh viết ra: viết xong từ năm 1947, ra đời vào năm 1965 này, do Nhà xuất bản Minh Đức ấn hành, tranh của Duy Thanh, trình bày của Lữ Hồ.

Những cặp kính màu là những cặp kính mỗi người đeo một đôi, ai có màu nấy. Từ thuở khai thiên lập địa, có bao nhiêu con người lớn bé, màu da khác nhau, thông minh cùng khôn dại khác nhau – trên phương diện không gian: có bao nhiêu con người già trẻ cao thấp, mới sinh và sắp chết, kể cả những người sắp nằm trong áo quan – trên phương diện thời gian – là có bấy nhiêu cặp kính màu.

Màu sắc nhiều quá: đến nỗi thị giác không phân biệt được nữa – chỉ có thông minh và sự tinh vi của thông minh mới có thể thâu vào ống kính “caméra” của cá nhân được.

Tất cả những bi kịch nhân sinh, tất cả những vũng máu và những vũng nước mắt của con người nhiều như bốn đại dương phát sinh từ đấy – từ những màu kính – do những màu kính.

Họ Võ thâu hẹp bức tranh lại và dựng bối cảnh ở Huế và Hà Nội vào năm 1946 và những năm mà hoặc xã hội Việt Nam đầy ắp những chuyện vui buồn: vui vì lòng người say sưa tìm giải phóng, và buồn cái buồn của tất cả mọi cuộc chiến tranh gây khóc than trong lòng người – những năm tổng khởi nghĩa, những năm các chánh đảng cách mạng chân chính ra đời, những năm giết người để dành tự do sau một trăm năm làm nô lệ, và giết mình: chính mình giết mình để dành quyền trị quốc bình thiên hạ. Ai cũng muốn có cái quyền ấy để thực hiện một tế thế an bang, dựng hai mươi lăm triệu những sung sướng ở cái tổ quốc Việt Nam này… buổi chiều lên hóng gió ở nền Vũ Vu, tắm mát rồi hát mà về – một khung cảnh nhân sinh mà ngày xưa một thầy Tăng Điểm… nào đó hình dung ra trước thị giác phu tử Khổng Khâu nằm chiêm bao một đời sống Nghiêu Thuấn ai cũng thương ai, mọi người thương mọi người.

Đã có những vũng máu và những vũng nước mắt – bắt cóc, tra tấn, thủ tiêu – thì phải có nạn nhân. Nạn nhân trực tiếp là những người trong cuộc; nạn nhân gián tiếp là những cha mẹ vợ con anh em những người đã “rầu rầu ngọn cỏ…” rồi. Nhiều khi người ngoài cuộc còn khóc than nhiều hơn người trong cuộc: kẻ chết đi có lẽ xong đi một kiếp trong cõi tối, nhưng mà người còn lại mang đau thương gần ba vạn sáu ngàn ngày.

Ở giữa và trong guồng máy, con người thoát ra không được: con người phải giống thiên hạ. Ai cũng phải oán ghét theo, ai cũng phải hờn giận theo: ai không oán hờn sẽ bị gạt ra ngoài nhân sinh, và mình không khổ, kẻ khác đương khổ cũng lôi kéo cho mình khổ. Nói tóm lại: ai cũng khóc than, không ai thoát. Dù họ có thoát ra được thì một cái gì đó hay một cái nào đó rất dài kích thước cũng đã tan vỡ trong lòng mình, ngoài lòng mình, trong đời mình…

Một trong những nạn nhân là một thanh niên trí thức: Lạc. Chàng chỉ là chính mình nhưng thiên hạ lại đeo mỗi người một cặp kính màu để nhìn chàng thành ra chàng trở nên ai ấy, chớ chẳng phải là chính mình! Một cặp trong những cặp kính màu nhìn chàng cho chàng là Việt quốc: kết quả là chàng mất một người yêu lẫn một người em giữa lúc tình thương em và tình thương yêu đã lần lần mờ biên giới… Một cặp khác nữa trong những cặp kính màu nhìn chàng với màu khác và ngờ chàng là Việt minh: kết quả là chàng tan vỡ một mối tình xinh như mơ – có lẽ vì đẹp quá nên vỡ.

Nhưng vỡ hay không vỡ một mối tình đối với chàng không phải là vấn đề: chuyện tình chỉ là một cái cớ cho chàng để nói về sự tan vỡ của một ngàn lẻ một cái đẹp khác của chàng – của mỗi cá nhân – cũng như của mọi người.

Ấy là chưa nói rằng nếu chàng đi vào một chút nữa thì bao nhiêu màu kính sẽ dồn vào chàng – tính mạng chàng sẽ treo như sợi chỉ mỏng. May thay! Trong những cuộc đụng chạm ghê gớm của những người dành quyền yêu nước (!) giữa cuộc tranh chấp của đảng phái, chàng làm người yêu nướctheo một tác phong sống và tưởng tượng riêng của mình: yêu nước mà không giết người yêu nước khác… Ra khỏi được những nơi đầy máu và nước mắt, chàng đã bị thương nặng trong phần hồn.

Và từ đây, chàng giác ra rằng chỉ có một lối thoát cho sự đau thương: là con đường dẫn đến bến tuệ. Chàng không nói trắng ra như thế, nhưng ý ấy vọng lên từ chốn trừu tượng của tâm tư nhân vật chính là Lạc – như tôi đã nói. Vì nếu nói trắng ra thì truyện đã không phải là một cuốn truyện nữa, mà là một mớ truyền đơn hay là một bài kinh, một bài kệ… mất rồi.

Lạc là ai: lờ mờ thấp thoáng là tác giả. Những cặp mắt kính màu là anh, là tôi, là các anh, là chúng tôi, là những người ấy cùng những kẻ kia, là một số người đông lắm… là tất cả những ai có lý tưởng – tiếng Pháp gọi người như thế là idéaliste – nuôi những giấc mộng đẹp cho tất cả chúng sinh trong đó có chính mình, nhưng lại sợ máu và nước mắt chan hòa, chỉ muốn ai cũng có hạnh phúc nhưng không muốn có oán hờn… Nhưng hỡi ôi và thương thay, sự thực bao giờ cũng chua chát: kẻ có lý tưởng, hễ vào “chiến trường”, khi ra khỏi, ít nhiều đều bỏ xác lại…! Hoặc bỏ xác lại, hoặc bỏ lại một phần của chính mình – mà lại là phần lớn nhất…!

Chính người viết bài này – Tam Ích – cũng đã hơn một lần làm nạn nhân của “màu sắc” của những cặp kính màu. Xin kể lại một mẩu tài liệu sống vắn tắt – chuyện cũng đã biến vào lịch sử, xa rồi… Cuối năm 1950, một trong những năm Nam Bộ kháng chiến xa xưa rất “phong phú”, tôi bị bắt giam tại nhà tù “Catinat” – một nơi mà nghe đến tên là thiên hạ nghĩ tới nhà tù Côn Lôn, nghĩ tới Dachau hay Buchenwald của Đức quốc xã… – bị giam xà lim mười chín ngày và bị tra tấn ba lần, chết lên chết xuống, khi ra mang bệnh suốt mười năm không thuốc gì chữa được, kể cả á phiện. Nhưng may thay, sau bao năm bệnh hoạn, bây giờ đã khỏi, còn mấy bạn khác thì ngày ấy bị tra tấn, ra khỏi tù, đau vài tháng, chết trong cô đơn… Xin nói tiếp: tôi bị giam tại nhà tù “Catinat” gần sáu tháng – thay vì 48 giờ theo lẽ pháp lý – rồi bị đưa đi quản thúc hai mươi ba tháng. Trong khi bị giam tại “Catinat”, tôi bị thẩm vấn bốn lần. Người thẩm vấn là ông cò Garnier, một người Pháp. Ông ta dở tập hồ sơ của tôi – bốn chục trang đánh máy – hỏi tôi một vạn chuyện, rồi bảo thêm tôi vừa là đệ nhị vừa là đệ tam lại vừa là đệ tứ quốc tế… và đồng thời gán cho tôi một số tĩnh từ có quan hệ tới Nam Bộ kháng chiến thời ấy. Ông ta là người Pháp nên nói tiếng Pháp với tôi là người biết tiếng Pháp, không cần thông ngôn. Trước sau, tôi chỉ trả lời một câu làm ông ta phì cười vì tính chất hài hước của vấn đề và vì chính ông cũng đương nhìn tôi qua nhiều cặp kính màu: “Monsieur le Commissaire, comment voulez-vous que je sois à la fois socialiste et trotkyste ou stalinien même tuer l’autre. Ou bien je n’ai pas d’idéal précis, alors proposez-mi de travailler contre les intérêts de mes compatriotes et je m’y prendrai admirablement; ou bien, je suis innocent, alora libérez, moi et merci mille fois. (Tôi có ý nói rằng xã hội và đệ tứ…, họ muốn “nuốt sống” nhau – tôi làm gì thì làm một thôi chứ!).

Lại cũng xin nói thêm rằng, đầu năm 1950 ấy, trước đó nửa năm, tôi từ Sài Gòn lên Khu Tám chơi do Trung tướng Nguyễn Bình làm Tổng tư lệnh Nam Bộ kháng chiến thời ấy mời, cùng với mấy nhân sĩ. Nếu không có Nguyễn Bình che chở, có lẽ đã vì những cặp kính màu mà tôi đã ưu tư lớn – sau tôi mới biết!

Ấy là chưa nói rằng cho đến bây giờ – và đầu năm 1965 trở đi – tôi, chính tôi, cũng vẫn bị những cặp kính màu soi vào đời sống cá nhân. Liệng kính đi, họ lại đeo lên. Mỗi lần liệng, mỗi lần đeo…

Thì ra một phần lớn những chuyện tang thương của anh, của tôi, của nó, của họ, của hàng xóm láng giềng… chung quy cũng chỉ vì chuyện những cặp kính màu…

Thực ra, chúng tôi cũng như Lạc, vai chính trong câu chuyện, cũng như tác giả những cặp kính màu – nếu có thể nói thế – cũng như trăm nghìn Lạc mọi chốn đây chốn kia, lúc nào chúng tôi cũng chỉ là chính mình: yêu dân tộc và yêu nước, ghét bất công… và trên phương diện trí thức thì ham học, nơi nào có trí thức thì tới để tìm hiểu… kể cả Jean Paul Satre, kể cả gốc bồ đề đáng kính… Vậy thôi: kích thước thẩm quyền ngắn đâu có cho phép làm:lớn hơn sức cá nhân!

Trong bài Xuất xứ, một lời tựa của tác giả Võ Đình Cường, có câu này: “Nhưng nếu có những sự trùng hợp ngẫu nhiên với giai đoạn hiện tại thì tác giả cũng không biết làm sao được!” Sách viết từ 1947: buồn quá, ngày nay, nghĩa tượng trưng vẫn còn đấy, rất còn: chúng ta hãy nhìn xem… Mà giá trị tinh thần cuốn sách cũng là ở đấy nữa. Có lẽ vì vậy mà sách viết đã lâu, ngày nay tác giả mới cho ra đời chăng?

Vậy người viết bài này xin có một số cảm tưởng sau khi đọc sách. Và để dứt, xin nói một sự băn khoăn: nếu có Thượng Đế, thì Thượng Đế đeo kính gì, màu gì… Muốn xóa bao nhiêu màu, chỉ có một đường: đường lên cõi tuệ: ở đó, có lẽ kính gì cũng trắng như pha lê – và ở đó, tất cả chúng sinh lên được tới đó, đều đeo một thứ kính trắng như tuyết, trong suốt. Phải vậy chăng, tác giả Những cặp kính màu?

Còn hai mối tình trong truyện? Thực ra chuyện tình nghĩa chỉ là một cái cớ – như tôi đã nói – cho nhà văn vẽ một bức tranh và đề nghị nói một nẻo một hướng cho tâm hồn – đồng thời trên những tấm gương mình ngắm mình, tự hỏi mình về kiếp nhân sinh, tìm một câu trả lời cho mình và chongười.

Ra một bài toán đại số có phương trình là việc của người làm văn nghệ – người viết tiểu thuyết hay người viết kịch – còn tìm câu trả lời có lẽ là việc của mỗi cá nhân. Họ Võ là người đưa một phương trình có ẩn số: mỗi người trong chúng ta tìm đáp số trong thời gian và không gian. Tôi đồng ý với Sartre ở cái ý: con người giải quyết lấy những vấn đề của chính mình. Nhà Phật cũng nói rằng, nếu tìm được đường lên bến giác thì ai nấy lên đường: mau hay chậm, sớm hay chiều, là tùy tốc lực và hành trang của mỗi cá nhân. Và trong khi tự giác, giác tha.

Đầu đường xa xăm tăm tắp kia có một thứ kính không có màu – kể cả là không có màu trắng vì màu trắng cũng là một trong những màu kia mà! Có lẽ nói như vậy mới đúng với yếu lý của nhà Phật vậy!

1963

Nguồn: Lá Bối xuất bản lần thứ nhất, in tại nhà in Đăng Quang, 734a Phan Thanh Giản – Sài Gòn. Giấy phép số 481 TBTTCH/BC3/XB Sài Gòn ngày 22 tháng 2 năm 1967, ngoài những bản thường in thêm 100 bản đẹp dành riêng cho tác giả, nhà xuất bản và thân hữu. Thư từ, liên lạc về Nxb xin gửi cho Từ Mẫn, bưu điện xin đề tên cô Cao Ngọc Thanh. Giá 120 đồng. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Leave a Reply