Ký hiệu


V.A. Milovidov

Khái niệm cơ bản của kí hiệu học. Trong nghiên cứu văn học, nó là khái niệm nền móng của các công trình nghiên cứu cấu trúc-kí hiệu học (Iu.M. Lotman và Trường phái Tartu-Moskva). Bàn về tính tất yếu của việc nghiên cứu văn học theo nguyên tắc khách quan – khoa học, khác với quan điểm tiếp cận đối tượng theo chủ nghĩa ấn tượng, tâm lí học, văn hóa-lịch sử, chủ nghĩa cấu trúc nhấn mạnh yêu cầu coi trọng bản chất kí hiệu học của nội dung của tác phẩm văn học. Văn bản văn học là một KÍ HIỆU được tổ chức hết sức phức tạp (Iu.M. Lotman). Lại nữa, các cấu trúc ngôn từ tạo thành văn bản được thi pháp học nghiên cứu là cái biểu đạt, còn mô hình thế giới được hiện thực hóa trong tác phẩm là cái được biểu đạt của KÍ HIỆU.

Nghiên cứu văn học đã du nhập khái niệm KÍ HIỆU từ ngôn ngữ học và kí hiệu học. Một trong số các truyền thống diễn giải khái niệm kí hiệu của ngôn ngữ – kí hiệu học được hình thành từ F. de Saussure, người đã nhận ra cấu trúc tâm lí nhị phân liên kết theo kiểu ước định ( tức là theo sự thỏa thuận giữa các thành viên của cộng đồng ngôn ngữ) cái cái sở biểu (cái được biểu đạt) như một khái niệm và cái năng biểu (cái biểu đạt) như một hình ảnh âm thanh. Nghĩa chính là quan hệ giữa cái sở biểu và cái năng biểu được hiểu như một hệ thống dấu hiệu nổi bật dùng để phân biệt KÍ HIỆU. Lí thuyết của Ogden-Richards, nhất là mô hình “tam giác ngữ nghĩa” của Frege đã bổ sung cho nguyên tắc mô tả nhị phân bằng cách chỉ ra mối quan hệ giữa KÍ HIỆU với đối tượng (nghĩa tham chiếu).

Về kí hiệu ngôn ngữ, Louis Trolle Hjelmslev đã đưa thêm vào sơ đồ này các khái niệm thực thể của cái biểu đạt (âm thanh), hình thức của cái biểu đạt (tổ chức của những cái biểu đạt), hình thức của cái được biểu đạt (tổ chức của những cái được biểu đạt) và thực thể của cái được biểu đạt (ý niệm) khiến sơ đồ ấy trở nên phức tạp hơn. Trong ngữ nghĩa học của ngôn ngữ học hiện đại, KÍ HIỆU – một cấu trúc phức tạp, nhiều cấp độ, bao gồm cái biểu thị (“cơ thể” KÍ HIỆU), cái sở biểu (khái niệm, ý niệm), nghĩa đen (cái tham chiếu) – có thể là cái khả thể, cái tiềm tàng, hoặc cái hiện hữu.

Theo quan niệm của chủ nghĩa cấu trúc, KÍ HIỆU là một cấu trúc khách quan, không lệ thuộc vào người diễn giải. Quan niệm về KÍ HIỆU của hậu cấu trúc luận có nguồn cội từ hệ thống quan điểm của Ch. Peirce. Mô tả KÍ HIỆU như là quan hệ giữa Cái Môi Giới (cái biểu thị), Khách Thể (nghĩa đen) và Cơ Sở của Khách thể (cái sở biểu), Ch. Peirce đưa ra khái niệm Người Phiên Dịch “được tạo ra trong óc” của người diễn giải và nó có thể được phát triển lớn hơn (hoặc nhỏ hơn) so với Cái Môi giới. Bởi vậy, về nguyên tắc, KÍ HIỆU bao giờ cũng đa nghĩa, và cái nội dung lệ thuộc vào giả định của những người diễn giải được hậu cấu trúc luận xem là công cụ của văn hóa, công cụ của hoạt động nhận thức đầy năng động mang tính liên chủ thể nhằm trao đổi tư tưởng (ý niệm) bằng KÍ HIỆU.  Ch. Peirce phân biệt Chỉ Hiệu – KÍ HIỆU biểu thị đối tượng, Hình Hiệu – KÍ HIỆU có cấu trúc tương đồng với đối tượng và Biểu Hiệu – KÍ HIỆU mà quan hệ giữa nó và đối tượng được xác lập gián tiếp. Theo Ch. Peirce, ngôn từ và các văn bản được viết bằng ngôn ngữ tự nhiên chính là Biểu Hiệu. trong thực tế, quá trình hoạt động kí hiệu luôn có sự tương tác và sự dịch chuyển qua lại giữa Chỉ hiệu, Hình hiệu và Biểu hiệu trong giới hạn của KÍ HIỆU.

Quá trình kí hiệu học như là hoạt động kí hiệu có ba chiều kích: quan hệ giữa KÍ HIỆU với các đối tượng (ngữ nghĩa), quan hệ giữa chúng với nhau (cú pháp) và quan hệ giữa KÍ HIỆU với người diễn giải (ngữ dụng).

Người dịch: Lã nguyên

Nguồn: Поэтика//Словарь актуальных терминов и понятий.- Изд. Кулагиной, Intrada.- 2008. Cтр. 74 -75

Leave a Reply