Lai ghép – một khái niệm văn hóa hậu hiện đại


Nói tới lai văn hóa (métissage culturel) liệu có một ý nghĩa nào không? Mặc dầu chính ông coi một số trường hợp người Phi là lai, nhưng nhà nhân học Jean Loup Amselle lại nói về những bất tiện của việc dùng khái niệm này một cách phổ quát. Sau đây là cuộc trao đổi của tạp chí Sciences Humaines với Jean Loup Amselle về vấn đề này.

Có thể đem lại cho khái niệm lai văn hóa định nghĩa?

Lai là một ý tưởng của TK XIX. Đó là sự pha trộn máu, theo quan điểm chủng tộc. Vào thời đó, trong các nhà nhân học và triết học, ý kiến rất rành rọt: một số tán thành, một số khác thì chống lại quyết liệt, như nhà lý thuyết về chủ nghĩa chủng tộc Gobineau, cuối TK XIX. Nhưng ngày nay, đối với sinh học và di truyền học, khái niệm này không còn có ý nghĩa nữa vì người ta biết rằng tính di truyền không phải là sự pha trộn mà là sự liền kề nhau của những tính cách. Do đó, lai là một ý tưởng cũ, gắn liền với thuyết đa di truyền (polygénisme), nghĩa là lý thuyết cho rằng ngay từ đầu, có thể có nhiều gốc người đưa tới những chủng tộc khác nhau.

Ngày nay, khái niệm này ít được dùng trong thế giới thời trang, văn chương, âm nhạc, mỹ thuật, trình diễn và văn hóa nói chung. Nó chỉ một cái gì như sự pha trộn tự do về các thể loại, trên bối cảnh pha trộn các màu da. Người ta chỉ thấy nó ở các nhà sử học như Serge Gruzinski (1), và dưới những từ ngữ khác. Tuy nhiên, ngày nay, lai lại có ý nghĩa rất quan trọng ở các nhà tư tưởng về tính hậu hiện đại văn hóa như Homi Bhabha (2).

Cách nhìn thế giới này gắn liền với cách nhìn toàn cầu hóa của lai ghép. Chính các nhà lý thuyết đề xướng thế giới văn hóa hóa cũng là những người quan tâm tới khái niệm lai. Đó là trường hợp của Ulf Hannerz, một nhà tư tưởng về tính phức hợp văn hóa, hay của nhà nhân học James Clifford trong cuốn sách mới đây của ông (3). Họ bảo vệ ý tưởng của Henri Bergson và Karl Popper, theo đó các xã hội xưa kia khép kín đang phải mở ra: ngày xưa, các xã hội phát triển không có sự tiếp xúc với nhau, còn hiện nay, tất cả đều giao lưu với nhau.

Đứng trước quá trình ấy, các thái độ thật khác nhau. Hiếm có người nào không lo ngại về mối đe dọa đồng nhất hóa văn hóa và sự mất đi những văn hóa đích thực. Mối lo này cũng tồn tại cho đến cuối TK XIX, nhưng là về các chủng tộc: người ta loan báo sự biến mất của người Australie, người da đỏ châu Mỹ latinh, thậm chí cả những chủng tộc khác nữa, trong một kiểu lai phổ biến. Chẳng bao lâu nữa, người ta nói, sẽ không còn những chủng tộc thuần khiết. Ngày nay, người ta cũng đang loan báo một điều gần giống thế, nhưng là về các văn hóa.

Một quan niệm như vậy có thể đưa tới chỗ phủ định mọi giá trị của những gì không thuần khiết. Các nhà nhân học rất thường khó chấp nhận một người lai Maori đòi cho mình văn hóa Maori. Cũng vậy, họ rất khó có thể nghĩ rằng người Tasman hay những thổ dân ở Đất Lửa lại có thể biến mất vì có những người lai. Theo tôi, cái bẫy đầu tiên của khái niệm này là nó bắt buộc chúng ta phải nghĩ rằng trước kia đã tồn tại những chủng tộc thuần khiết. Mọi sự lai đều bắt nguồn từ ý tưởng có trước cho rằng loài người được cấu thành từ những dòng tách biệt mà, cuối cùng, sẽ đi tới thống nhất lại với nhau. Đằng sau lý thuyết về lai, có lý thuyết về sự thuần khiết của các văn hóa.

Thế nhưng, người ta lại muốn đối lập hai khái niệm ấy, như những cái mâu thuẫn?

Lai và căn tính văn hóa không mâu thuẫn nhau. Có một ví dụ kỳ lạ về người Herrero ở Namibie. Ở TK XIX, không có người Herrero, mà là một quần thể những nhóm tương đối độc lập. Vào cuối thế kỷ đó, các đội quân thực dân đã tàn sát họ gần hết. Những người còn sống thì pha trộn với những tên thực dân Đức, và chỉ có ở những con cháu họ ít hay nhiều với người Đức người ta mới bắt đầu nghe nói tới tộc người Herrero. Các cư dân và các văn hóa không bao giờ mất đi hoàn toàn: chúng pha trộn và biến đổi, đến mức người ta không thể xác định trong lịch sử một thời điểm nào chúng có thể tồn tại đích thực hơn. Người ta còn có thể dẫn ra trường hợp người Garifuna ở Belize, những người nói tiếng da đỏ châu Mỹ nhưng lại tự coi là bản địa. Trong một bối cảnh như vậy, thật khó định nghĩa sự đồng nhất hóa thế giới là gì, vì những căn tính khác nhau có thể được đòi hỏi, nếu không phải là được tạo ra lại vào bất cứ lúc nào trong lịch sử. Chẳng hạn, vào thời đại hiện nay, người ta không thể nói rằng những yêu sách văn hóa và tộc người khó lòng được chấp thuận bởi các cấp có uy quyền trên thế giới: các nhà nước tự do và các tổ chức quốc tế (LHQ, EU) có xu hướng khuyến khích loại yêu sách tập thể này và chăm chú lắng nghe họ. Vậy thì, tại sao lại tiên đoán sự đồng nhất hóa? Cái người ta gọi là những yêu sách về căn tính hiện đang là một khu vực rất tích cực của chính trị thế giới, và trào lưu tư tưởng này đang duy trì những liên hệ với khái niệm lai.

Có một khía cạnh thứ hai của khái niệm lai mà ông phê phán: đó là cứ để người ta tưởng rằng thời đại chúng ta là đặc biệt vì nó sẽ đoạn tuyệt với sự cô lập trong đó các văn hóa trước kia đã sống. Ông muốn ám chỉ cái gì vậy?

Cái người ta gọi là thế giới hóa không phải là một hiện tượng mới. Đối với phần lớn người, các xã hội trên toàn thế giới đã sống trong những thế giới rộng lớn hơn cái vòng tròn nội tại duy nhất của họ. Các xã hội đó bao giờ cũng nhờ vào những cái biểu đạt phổ quát để biểu hiện tính riêng biệt của họ. Đó không phải là điều gì mới mẻ. Trước khi có toàn cầu hóa hiện nay, đã có những toàn cầu hóa khác: sự truyền bá của Kitô giáo ở châu Âu, của Hồi giáo ở châu Phi, cả phương Tây ở Tân Thế giới đã đưa các xã hội địa phương tới sự tự xác định đối với một thế giới đã vượt qua.

Tuy ở một quy mô nhỏ hơn, đó cũng là những xã hội có vẻ được rào kín hơn. Khi Bronislaw Malinowski nghiên cứu người Mélanésie, ông lấy làm ngạc nhiên khi thấy họ có những đường vòng thương mại rất có tổ chức, rộng tới hàng trăm km2. Tóm lại, khái niệm văn hóa cô lập, độc lập là một ảo tưởng gắn liền với những phương pháp quan sát của các nhà tộc người học, những người này có xu hướng tập trung vào một làng, một hòn đảo, một tộc người để thiết lập ra một kiểu khép kín. Làm như vậy, họ củng cố ý tưởng cho rằng các văn hóa ấy dính chặt vào quá khứ, họ phủ nhận mọi tính chất đương đại của những đối tượng này. Ngược lại, thời đại hiện nay được mô tả như thời đại nổ tung của tất cả những chướng ngại, như thể một cái gì chưa từng có trong lịch sử. Đó cũng lại là một ảo tưởng khác.

Thế nhưng, mỗi xã hội có những tiêu chuẩn thuần khiết, và tạo ra một ý niệm về tính riêng biệt của nó. Tại sao lại không cho nó cái quyền suy nghĩ về sự lai?

Tất nhiên, mỗi xã hội có một lối xác định, đặc biệt được dùng để nhìn nhận những xã hội láng giềng của nó. Người Malinke ở Tây Phi được người Minanka gọi lànhững người ăn lạc, và đổi lại, người Minanka là những người ăn chó. Đó là những khuôn mẫu, và chính là qua các phạm trù này mà sự lai được tưởng tượng hoặc tốt hoặc xấu. Nói đơn giản, đó là lối nói của những tác nhân về xã hội của mình: một lối nói mà các nhà tộc người học có xu hướng hiểu theo nghĩa đen từng chữ và phục hồi lại như đó là một sự kiện khách quan.

Chẳng hạn, tôi đã nghiên cứu những ý tưởng của một đạo sĩ Hồi giáo châu Phi, người lập ra đạo tiên tri nói không về sự lai. Ông tố cáo mọi từ bỏ văn hóa malinke để theo văn hóa châu Âu và phàn nàn về những hôn nhân hỗn hợp: đối với ông, sự lai hiện ra như một chất men thoái hóa văn hóa. Theo ông, có một sự hài hòa giữa văn hóa, lối sống, ngôn ngữ, hoạt động: đó là một quan niệm mang tính tộc người rất rõ về tính thuần khiết, đối lập với sự lai. Nhưng ngay cả khi các học thuyết tích cực về sự lai không có những hậu quả giống nhau thì chúng cũng xuất phát từ những tiền đề giống nhau: tức là có những phong tục, những tín ngưỡng, những cách làm của nhóm người này hay nhóm người khác và tạo thành văn hóa. Chẳng hạn, hãy lấy ví dụ nhà văn Edouard Glisant. Luận điểm của ông là có hai loại văn hóa: văn hóa créole (lai da trắng và da đen), văn hóa của Antilles không có những tổ tiên biết rõ và văn hóa Atavie như văn hóa Pháp, có một ngôi đền thờ tổ tiên, một nguồn gốc tập thể, Glissant ca ngợi các văn hóa créole mà theo ông, chúng mang theo tương lai. Tóm lại, rốt cuộc ông cũng muốn nói lên một điều: đừng làm cho mình thoái hóa đi, đừng trở thành văn hóa Atavie, hay làm người créole hay trở thành như thế. Và nhất là, điều này cũng gây khó chịu đấy, phải nghĩ rằng những sự phân biệt ấy có thể có một ý nghĩa khách quan: không có sự khác biệt căn bản nào giữa các xã hội có cùng tổ tiên và những xã hội không có tổ tiên. Cả hai là những hình ảnh được dựng lên.

Tất cả các yếu tố văn hóa không được bố trí theo cùng một cách, mà tùy từng xã hội. Ở châu Phi tiền thuộc địa, chẳng hạn, đã có một thứ chủ nghĩa thực dụng tôn giáo, đến mức mà nếu một vật cúng, một bái vật nào không đem lại kết quả tốt, thì người ta liền đi tìm một vật khác, cách đó tới hàng trăm km, vì người ta nghe nói vật đó có kết quả tốt. Vì thế, nói tới tôn giáo dogon, bambara, malinke hay những dân đó đều là vô nghĩa trong những điều kiện ấy. Khi các tôn giáo được các giáo sĩ đến truyền giáo, chúng cũng được chấp nhận theo lối đó.

Kiểu thực hành này, do đó, không bị coi như một sự pha trộn, mà như một chiến lược tôn giáo bình thường. Ngay cả khi người ta muốn coi là như thế, thì việc mô tả điều đó như một sự lai cũng không thích đáng. Về phần tôi, tôi thích mô tả những cách thức đó như những sự mắc nối (branchemént) hơn: khi cần có một sự quy chiếu bên ngoài, người ta nối nó lên trên. Đó là một cách thức bình thường và thông thường của việc xây dựng các văn hóa, và điều đó không được coi như trải qua một sự lai. Lai bao giờ cũng dựa vào một ý tưởng cho rằng ở đâu đó, sự thuần khiết văn hóa đã đạt được.

Nicola Journet ghi lại

Thụy Khuê dịch

Nguồn Sciences Humaines, No 110, 11-2000)

_______________

1. Tư duy lai, Fayard, 1999.

2. The Location of Culture, Routledge, 1994.

3. Routes: travels and translation in the late 20th century, Harvarrd University Press, 1997.

Nguồn: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 327, tháng 9-2011

Leave a Reply