Lê Đình Kỵ (1923 – 2009)


Nhà lý luận, phê bình văn học Lê Đình Kỵ sinh ngày 4/4/1923 tại xã Điện Hồng (nay là xã Điện Quang), huyện Điện Bàn tỉnh QuảngNam.

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, bản tính hiếu học, ông tìm nhiều cách kiếm sống để theo đuổi học tập, có bằng tú tài triết học. Tham gia Cách mạng tháng 8/1945 ở Hội An. Từ 1949 đến 1951 là sĩ quan quân đội. Sau đó làm giáo viên trung học ở Liên khu V rồi tập kết ra Bắc làm giáo viên dạy Văn ở một trường trung học lớn ở Hà Nội. Từ 1958 ông được chuyển sang làm giảng viên dạy lý luận văn học và văn học Việt Nam hiện đại ở bậc đại học ( tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội rồi Đại học khoa học xã hội và nhân văn TP.Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ)… cho đến khi nghỉ hưu (1993). Ông được phong chức danh khoa học Giáo sư Ngữ văn, danh hiệu Nhà giáo nhân dân.

Ông cầm bút bắt đầu từ dịch lý luận văn học. Với vốn tiếng Pháp thành thạo, tích lũy từ nhà trường Pháp – Việt trước đây và sau này khi tập kết ra Bắc bổ sung và hoàn chỉnh tiếng Nga bằng tự học, vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, Lê Đình Kỵ xuất hiện như một dịch giả thành công khi chuyển ngữ các công trình lý luận văn học từ tiếng Nga sang tiếng Việt. Đáng kể nhất là cuốn Nguyên lý lý luận văn học của L. Timofêep (2 tập, xuất bản 1962, chủ biên dịch cùng với các dịch giả khác).

Năm 1962, công trình lý luận đầu tiên đứng tên ông được ra mắt là cuốn Các phương pháp nghệ thuật thuộc tập IV của bộ Giáo trình lý luận văn học theo quan điểm mác xít được giảng dạy ở Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ở đây, ông đã mạnh dạn vượt thoát khỏi cách nghĩ quan phương để lưu ý về mối quan hệ giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo, biểu hiện của tính giai cấp bên cạnh nhân tính của nhân vật văn học. Đương thời sách bị ngộ nhận là đã xa rời quan điểm cơ bản của mỹ học mác xít; mãi 25 năm sau sách được chỉnh lý và tái bản, đã cho thấy tư tưởng học thuật mẫn tiệp của ông khi xuất hiện buổi đầu đã không dễ dàng được chấp nhận ngay.

Tiếp đó, ông còn tham gia biên soạn các giáo trình Lý luận văn học với các đồng nghiệp ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ( bộ Cơ sở lý luận văn học, 1970-1983) trong đó tiếp tục khảo sát các khía cạnh lý luận được bàn thảo về phương pháp sáng tác. Đặc biệt trong Giáo trình năm 1983, lần đầu đưa Đường lối văn nghệ của Đảng vào giảng dạy trong Nhà trường, ông đảm nhiệm phác họa những nét đại cương về lịch sử hình thành, phát triển và những nội dung chủ yếu của đường lối văn nghệ mác xít – leninít ở Việt Nam.

Tròn nửa thế kỷ hoạt động giảng dạy và nghiên cứu văn học cho đến khi mất (2009), Lê Đình Kỵ là tác giả của hàng trăm bài tiểu luận, phê bình đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành xuất bản ở Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh. Ông thể hiện một tư duy lý luận minh triết, cách tiếp cận văn học với những tìm tòi đi sâu khám phá những nét đặc trưng tư tưởng – thẩm mỹ từ tác phẩm và tác giả, trào lưu văn học; tính loại biệt trong các phương thức thể hiện của ngôn từ nghệ thuật cùng các yếu tố thuộc phương diện hình thức nghệ thuật nơi văn bản tác phẩm, qua đó khẳng định bút pháp, giọng điệu và phong cách riêng của mỗi tác giả. Ông có những khám phá sâu sắc, mới mẻ về giá trị của thơ ca cổ điển và hiện đại, tài năng sáng tạo và cách tân của các tác giả thơ lớn: Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên…

Do có căn bản lý luận vững vàng và năng động tìm tòi cách tiếp cận tác phẩm kết hợp giữa xã hội học văn học mác – xít với thi pháp học lịch sử so sánh, ông đã cho ra mắt các chuyên luận được dư luận chú ý: Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực (1970), Thơ Tố Hữu (1979), Thơ Mới – những bước thăng trầm (1989).

Các công trình này kết tinh sự chín mùi của tư duy học thuật và bút lực Lê Đình Kỵ. Ông chú trọng nghiên cứu tác giả, tác phẩm đặt vào trường thẩm mỹ văn hóa – lịch sử mà trong đó chúng sinh thành và phát triển, xem tác phẩm như một chỉnh thể, các mặt tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật xuyên thấm vào nhau, không thể xem nhẹ hạ thấp một yếu tố nào. Với Lê Đình Kỵ, ông không dừng lại xem văn học đơn thuần chỉ là một công cụ của hoạt động tư tưởng – giáo dục, một cách phô diễn tình cảm tự nhiên nhi nhiên của con người, là bức tranh phản ánh đời sống xã hội hiện thực, mà rộng hơn, văn học trước hết tồn tại và phát triển với tư cách là hoạt động thẩm mỹ đặc thù, đáp ứng nhu cầu và khát vọng tinh thần của con người về Chân Thiện Mỹ. Biết làm chủ và sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật điêu luyện, dụng công trong bút pháp, nhà văn thực tài và tâm huyết với lý tưởng cao đẹp, sẽ có thể sáng tạo nên những tác phẩm để đời bằng sức mạnh của hư cấu nghệ thuật, giúp cho “con người như được giải thoát mọi ràng buộc và tự do tái tạo đời sống theo lý tưởng của mình… đánh thức người nghệ sĩ tiềm tàng trong mỗi con người”.

Lê Đình Kỵ đã được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2001)./.

Nguồn: Nguyễn Ngọc Thiện, Lý luận phê bình và đời sống văn chương. Nxb. Hội Nhà văn,2010. Bản vi  tínhCopyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply