Lịch sử trong mắt ai


(Đọc Cánh chim kiêu hãnh, tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy, Nxb Quân đội nhân dân, 2013)

                                                                                               Bùi Việt Thắng

Vốn sống của nhà tiểu thuyết:  Nhà văn Thuận vừa cho ra mắt tiểu thuyết Thang máy sài Gòn (Nxb Hội Nhà văn, 2013). Trả lời phỏng vấn báo Thể thao & Văn hóa ( 17-10-2013), chị chia sẻ “ Khi bắt tay vào viết Thang máy Sài Gòn, tôi có ý định viết một cuốn tiểu thuyết chiến tranh, nhưng càng viết càng thấy chiến tranh quá mơ hồ, hầu như tôi chẳng có một kỉ niệm nào về thời chiến. Thế là tôi quyết định viết về hậu chiến”. Một so sánh bất chợt như thế để thấy nhà văn Đỗ Bích Thúy đã dũng cảm đến mức nào khi trở lại với đề tài lịch sử – cách mạng Việt Nam trước năm 1945 (với khoảng cách 30 năm khi nhà văn sinh ra, năm 1974). Một lần trò chuyện với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, ông có nói một ý, tuy không mới, nhưng sâu sắc với người cầm bút sáng tác văn chương: đó là cái vốn văn hóa sống – văn hóa đọc – văn hóa viết. Chúng ta hẳn còn nhớ tiểu thuyết Sống mà nhớ lấy của nhà văn Nga V. Raxputin (sinh năm 1937), công bố năm 1977 (Giải thưởng Quốc gia Liên- xô). Với nhà văn này, nếu nói theo cách của Thuận, thì quá khứ cũng trở nên “mơ hồ” và “chẳng có một kỉ niệm nào” đối với một chú bé mới lên 4 tuổi khi chiến tranh ái quốc (1941-1945) của nhân dân Liên – xô chống phát xít Đức nổ ra. Vậy là nhà văn, trong trường hợp viết như Đỗ Bích Thúy, lại phải huy động vốn sống gián tiếp (qua tài liệu lịch sử, qua các kênh thông tin khác nhau để có thể hình dung về quá khứ). Một lần trò chuyện với nhà văn Di Li, chị có nhấn mạnh một ý, phẩm tính quan trọng của một nhà văn là trí tưởng tượng (cuộc trò chuyện nghề nghiệp này được in vào chuyên mục Quán văn, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số cuối tháng 4 năm 2013). Chúng tôi nghĩ, ở đây điều quan trọng là thái độ ứng xử với lịch sử, với quá khứ dân tộc, với những hi sinh vô bờ bến của các bậc tiền bối. Có lẽ xuất phát từ một ứng xử tích cực với lịch sử nên nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã thành công với những tiểu thuyết như Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa. Viết về lịch sử – cách mạng, như cách nhà văn Đỗ Bích Thúy đã thể hiện trong tiểu thuyết Cánh chim kiêu hãnh, theo chúng tôi, cũng là một kinh nghiệm nghệ thuật cho các tác giả thuộc thế hệ “không biết gì” về quá khứ do sinh sau đẻ muộn.

Canh chim kieu hanh va nha van Do Bich Thuy

Hình thức tiểu thuyết ngắn: Cánh chim kiêu hãnh, xét về hình thức thể loại, là một tiểu thuyết ngắn (độ dài 185 trang), trong 25 chương gọn ghẽ. Như đã viết ở tiểu luận Chặng đường dài của tiểu thuyết ngắn (in trên Văn nghệ quân đội, số 782, tháng 10 – 2013), chúng tôi tạm đưa ra 3 tiêu chí để xác nhận một tiểu thuyết ngắn: độ dài dưới 200 trang, được giản lược về nhân vật và cốt truyện, vận dụng tối đa phép tỉnh lược trong tổ chức kết cấu tác phẩm. Cốt truyện của Cánh chim kiêu hãnh được tổ chức theo mô hình tuyến tính, nhân vật chính chỉ có Chúng (chồng Mai) – Mai – Sinh (đồng chí của Chúng, thầm yêu Mai). Ngoài ra có thể kể thêm 2 nhân vật “gần chính” (không thể là phụ) là mẹ đẻ Chúng và Dí (con trai của Chúng – Mai, sau khi cả hai bố mẹ hi sinh, tất nhiên Sinh sẽ nuôi Dí!?). Từ chương 5 Chúng “lên rừng”, đến chương 7 thì hi sinh. Có thể nói, theo chúng tôi, sự hấp dẫn của tiểu thuyết Cánh chim kiêu hãnh dồn tụ, độc sáng ở 8 chương đầu. Trong kĩ thuật viết tiểu thuyết, đoạn mở đầu rất quan trọng (khác với viết truyện ngắn, tác giả thường tập trung bút lực để đi nhanh tới đoạn kết thúc, luôn được ví như một cú đấm “nôc – ao” trên vũ đài). “Cú ngã” của Mai ngay trang đầu tiểu thuyết, theo chúng tôi, như một “định mệnh”, vì nhờ đó cô gặp Chúng (về sau là chồng). Tốc độ kể chuyện rất nhanh: Đầu chương 1 nhờ cú ngã mà Mai gặp Chúng, cuối chương 1 đã thấy “Chúng dắt theo một đàn dê béo đến trước cổng nhà lí trưởng”. Chắc là có ý gì đó nung nấu nên dõng dạc nói “Đổi cho tôi một đứa con gái”. Đến chương 7 thì Chúng hi sinh. Chuyển tới chương 8, Sinh (đồng chí của Chúng) xuất hiện ở nhà mẹ Chúng, gặp Mai. Một lần nữa như là định mệnh, khi Sinh tự giới thiệu “Trước cháu chăn ngựa trong nhà lý trưởng”, thì “Sinh chưa kịp nói hết câu, nghe đến đấy Mai đã giật mình làm rơi ấm nước đánh xoảng một cái, nước bắn tung tóe”. Một cú ngã ở đầu chương 1, một cái giật mình ở cuối chương 8, đó là những biến cố trọng đại trong đường đời, số phận của Mai. Đến cuối chương 8, như đã phân tích, mạch truyện vẫn gấp gáp, sự hấp dẫn vẫn cứ gia tăng theo mỗi bước chân Mai (trước là với Chúng, nay là với Sinh). Những sự thay đổi của đời Mai là gắn với hai người đàn ông này. Cuối chương 8, Sinh đã hỏi “Mai à, có muốn thay đổi cuộc sống này không?”. Từ chương 9 đến chương 25, cuộc đời Mai ở một chặng đường khác – dấn thân vào hoạt động cách mạng. “Cú ngã” cuối cùng của Mai (chương 25) gói lại câu chuyện “Sinh hét lên. Nhưng tiếng hét tắt ngang cổ vì cái bóng mảnh dẻ của Mai đã đổ vật xuống ngay trước mắt anh”. Thế là “ Mai đi theo Chúng, đi theo mẹ chồng. Mai đã hóa thành một con đại bàng, với sải cánh dài, liệng trên bầu trời cao. Vì thế, nếu cho Mai sống lại những ngày qua thì Mai vẫn sống như vậy, như một con đại bàng kiêu hãnh và không hề sợ hãi”. Một cuộc đời trong nhiều cuộc đời đã hiển hiện trên những trang văn một cuốn tiểu thuyết ngắn, ngắn nhưng sức chứa không hề nhỏ. Đó là nỗ lực của nhà văn Đỗ Bích Thúy khi viết theo phương châm “lấy ít địch nhiều”.

Do Bich Thuy

Nhà văn Đỗ Bích Thúy

Văn tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy: Đọc văn Đỗ Bích Thúy, riêng chúng tôi, rất chú ý đến một đặc điểm “mùi chữ”. Một liên hệ tạt ngang rất thú vị: Ngày 12-10 – 2013, nhà xuất bản Phụ nữ tổ chức giới thiệu 2 cuốn sách phê bình văn chương của Nguyễn Hoài Nam – Mùi chữ và của Đoàn Ánh Dương – Không gian văn học đương đại. Nguyễn Hoài Nam có chia sẻ với độc giả về cách đặt tên sách của mình (đại ý “mùi chữ” là “vị văn” của mỗi nhà văn). Gần đây nhà văn Nguyễn Hiệp có ra mắt cuốn tiểu thuyết nhan đề Mùi chồng (chúng tôi có đọc trích trên mạng), lại thấy dường như văn của mỗi nhà văn có “mùi chữ” không ai giống ai. Trong truyện ngắn Đàn bà đẹp (trong tập truyện cùng tên của Đỗ Bích Thúy, 2013), chúng tôi chú ý một chi tiết “Nàng dừng xe trước cổng nhà thờ để anh ta xuống. Tạm biệt! Anh ta nói. Tạm biệt! Nàng nói. Chỉ có thế. Đúng vậy, chỉ có thế. Rất hoàn hảo, nếu như không kể đến một tiếng ợ rất nhỏ, nhưng nàng vẫn nghe thấy, phát ra từ cổ họng anh ta”. “Tiếng ợ” ấy hẳn bốc mùi rất khó chịu, không riêng gì đối với Nàng, người đàn bà đẹp và kiêu sa, mà cả với độc giả văn minh ngày nay. Văn Đỗ Bích Thúy trong Cánh chim kiêu hãnh rất đượm mùi miền núi. Nói thế có quá? Trước hết là mùi người. Chúng tôi thấy không quá, khi đọc “Chúng nó còn bảo, chỉ cần đi ngang qua, ngửi thấy mùi chị Mai cũng đủ rồi” (lời cô gái Kim Hồng, tr.129), “Sương sẽ lùa đi cái mùi đàn bà vừa túa ra đêm qua” (tr.141), “Mai nhất quyết luồn tay xuống gối, lấy lên cái áo của chồng, và ngay lập tức úp nó vào mặt (…). Mai còn ngửi thấy cả mùi tóc khét cháy và những sợi tóc cứng như dây bòng bong thì đang quấn giữa các ngón tay cô” (tr. 140-141), bọn hầu gái trong nhà lý trưởng thì “Thơm thơm mùi mỡ, gây gây mùi thuốc phiện” (tr.151). Trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy cũng rất nhiều mùi rượu, tất nhiên, vì đây là chuyện về cuộc sống của những dân tộc người vùng cao. Chúng ta chẳng đã từng thấy cô Mị của nhà văn Tô Hoài uống rượu ừng ực đó sao. Chúng tôi có cảm giác mùi rượu tràn trề và thơm lừng trong Cánh chim không mỏi: là vì Mai sau khi từ biệt mẹ chồng và con trai thì mở quán rượu để có điều kiện hoạt động, những người tích cực tham gia đoàn thể cũng uống rượu ăn thề. Chúng tôi cứ nghĩ, một “mùi chữ” (“vị văn”) như thế cớ gì lại không hấp dẫn độc giả. Tại sao không?

Nguồn:Copyright © 2012-2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

1 phản hồi

  1. Khánh Huyền nói:

    Bùi Việt Thắng sinh năm 1951 tại Hà Tĩnh.

    Các công trình khoa học đã công bố

    Sách, giáo trình:
    1. Bình luận truyện ngắn (Phê bình và Tiểu luận). NXB Văn học, Hà Nội, 1999.
    2. Văn học Việt Nam 1945 – 1975 (viết chung). Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1990.
    3. Thạch Lam – Văn chương và cái đẹp (viết chung). NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 1995.
    4. Nguyễn Minh Châu (Kỷ yếu hội nghị – viết chung). Hội Văn học nghệ thuật Nghệ An xuất bản, 1995.
    5. 50 năm văn học Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám (viết chung). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996.
    6. Văn học 1975 – 1985 – Tác phẩm và dư luận (viết chung). NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 1997.
    7. Các nhà văn được giải thưởng Hồ Chí Minh (viết chung). NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 1997.
    8. Lý luận và phê bình văn học miền Trung thế kỷ XX (viết chung). NXB Đà Nẵng, 2001.
    9. Tiếp cận đương đại văn hoá Mỹ (viết chung). NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2001.
    10. Truyện ngắn – Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại (chuyên luận). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000.
    11. Bàn về tiểu thuyết (biên soạn). NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2000.
    12. Văn học Việt Nam 1945 – 1954 (văn tuyển). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.
    13. Quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam 1900 – 1945 (viết chung). NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2000.
    14. Truyện ngắn hiện thực 1930 – 1945 (biên soạn). NXB Văn học, H, 2003.
    15. Văn học Việt Nam thế kỷ XX (viết chung). NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004.
    16. Anh Đức – Về tác gia và tác phẩm (biên soạn). NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005.
    17. Tiểu thuyết đương đại (Phê bình – Tiểu luận). NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005.

Leave a Reply