Lời đầu sách


Chu Văn Sơn

Sinh thời, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính chả mặn mà lắm về con đường nghệ thuật của nhau. Phát biểu về nhau, đây đó, cũng có những lời cơm chưa thật lành canh chưa thật ngọt. Âu đó cũng là sự thường. Xác tín nghệ thuật vốn là những chuyện hoàn toàn chủ quan, mà những cá tính lớn lại vẫn thường cực đoan. Có thế thì họ mới đủ kiên định dấn thân “tới bến” trên những nẻo đi riêng.

Dầu sao, sự ấy chỉ còn là câu chuyện của thế kỉ trước.

Giờ đây, ở thế giới bên kia, hẳn các vị đã rộng rãi vô tư với nhau hơn.

Còn ở thế giới bên này, tôi xin được mời họ ngồi chung một chiếu. Trong các nhà Thơ Mới, Xuân Diệu thì “mới nhất”, còn Nguyễn Bính “quen nhất”, trong khi Hàn Mặc Tử lại “lạ nhất”. Về sắc điệu trữ tình, một người là “thi sĩ của tình yêu”, một người là “thi sĩ của thương yêu”, còn người kia là “thi sĩ của đau thương”. Người này cầm cờ nhóm “Xuân Huy”, người kia lĩnh xướng “dòng thơ quê”, người còn lại cai trị “trường thơ loạn”. Tôi không định ép họ vào bộ “tam đa bất đắc dĩ” của Thơ Mới. Nhưng tôi nghĩ, sau bao thăng trầm như thế, ba vị vẫn nắm giữ ba kỉ lục lớn ấy, giờ ngồi chung một cỗ hẳn sẽ vui lắm! Họ sẽ quí nhau và thương nhau hơn!

Thực mà nói, khi chọn những gương mặt tiêu biểu nhất của Thơ Mới, người ta đã đưa ra những danh sách khác nhau. Người này chọn top 9, người kia chọn top 7, lại có người chọn top 5, rồi top 4… Dù 4 hay 5, 7 hay 9, có thể sót người này, có thể thiếu người kia, nhưng ở đâu tôi cũng thấy danh sách không thể vắng mặt Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử. Nếu vắng họ, Thơ Mới sẽ ra sao nhỉ? Thật không thể hình dung nổi. Có thể gọi đó là ba cái chân kiềng của Thơ Mới. Nhưng, tôi thích hình dung họ là đỉnh “Tam đảo”, “Ba vì” của Thơ Mới hơn.

Tôi chọn top 3 này là bởi thế.

*

Tuy được viết có phần phóng túng theo lối tiểu luận pha chân dung, và phần viết về từng vị mang những tiêu đề không giống nhau, nét đậm nét nhạt ở mỗi người cũng không phải nhất nhất như nhau, nhưng về thực chất, đều là sự tiếp cận Thế giới nghệ thuật của mỗi thi sĩ.

Nghĩ cũng vui, ở thời thị trường này, mỗi mốt mới loang đi thật siêu tốc. Dạo một loáng đường có thể gặp nhan nhản Thế giới giày, Thế giới kính, Thế giới mũ, Thế giới thời trang, Thế giới vi tính… Vào một sạp sách cũng Thế giới âm nhạc, Thế giới phụ nữ, Thế giới Đẹp… Một lĩnh vực hẹp như nghiên cứu phê bình văn chương cũng khá tràn lan: Thế giới nghệ thuật thơ, Thế giới nghệ thuật nhà văn, Thế giới nghệ thuật Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Tố Hữu

“Thế giới nghệ thuật” phải chăng là một cái mốt thời thượng?

Không hẳn.

Từ lâu nó đã được sử dụng trong tiếp nhận nghệ thuật. Nó được dùng khi con người có nhu cầu diễn đạt ý niệm về cái chỉnh thể bên trong của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, toàn bộ sáng tác của một tác giả, một vệt thể loại đi xuyên sự nghiệp một tác giả, một trào lưu…). Có nhiều cách quan niệm về Thế giới nghệ thuật của người nghệ sĩ. Thi pháp học xem đó là một thế giới được tạo ra trong nghệ thuật. Nó hoàn toàn khác thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người dù nó phản ánh thế giới ấy. Cụ thể, mỗi thế giới nghệ thuật như một mô hình nghệ thuật về thế giới, ứng với một cách quan niệm, một cách cắt nghĩa về thế giới. Thế giới nghệ thuật như thế bao gồm một quan niệm nghệ thuật về con người, một không gian nghệ thuật riêng, một thời gian nghệ thuật riêng, và một hình thức ngôn ngữ tương ứng. Có người quan niệm thế giới nghệ thuật là chỉnh thể bao gồm một quan niệm thẩm mĩ, một hệ thống đề tài được tiếp cận và xử lí theo những khuynh hướng nghệ thuật nào đó. Lại có người cho rằng thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể bao gồm hai hệ thống hình tượng chính: hình tượng cái tôi và hình tượng thế giới được biểu hiện trong một hình thức ngôn từ nhất định. Mỗi quan niệm đó đều dựa trên những lí lẽ riêng, chúng khắc phục và làm giàu lẫn nhau.

Thế giới nghệ thuật được nói đến ở cuốn sách này chính là thế giới nghệ thuật của một nhà văn. Nó bao giờ cũng là một chỉnh thể, có cấu trúc nội tại, được kiến tạo theo một nguyên tắc thống nhất, theo những qui luật riêng. Tìm hiểu một nhà văn không thể không tiếp cận thế giới nghệ thuật của anh ta trên tính thống nhất toàn vẹn đó. Mà, xét đến cùng, thế giới nghệ thuật của nhà văn chính là một thế giới hình tượng sống động (với tất cả tính phong phú đa dạng và tính hệ thống tinh vi của nó), chứa đựng một quan niệm nhân sinh và thẩm mĩ nào đó, được xây cất bằng vật liệu ngôn từ. Như vậy, thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ vừa là hiện thân của tư tưởng và thi pháp nhà văn. Thế giới ấy tất cũng vận động, biến chuyển theo sự vận động biến chuyển của tư tưởng nghệ sĩ. Bởi thế, nó dứt khoát là một kiến trúc vừa tĩnh vừa động. Diện mạo của thế giới nghệ thuật chính là bức chân dung tinh thần của người nghệ sĩ.

Tiếp cận thế giới nghệ thuật của ba đỉnh cao này, tôi đã chọn điểm xuất phát là quan niệm ấy.

*

Thế giới nghệ thuật của một thi sĩ Lãng mạn [1] có thể qui về ba hệ thống hình tượng chính là: Tôi – Người Tình – Thế giới. Đối với các nam thi sĩ, bộ ba đó thường là: Tôi – Em – Thế giới. Trong đó, hình tượng cái tôi là hạt nhân, là mấu chốt. Vì tiếng nói lãng mạn, trước hết, là tiếng nói của cái tôi. Khát vọng tinh thần quan trọng vào bậc nhất của một cái tôi Lãng mạn còn có thể là gì khác hơn tình yêu. Nên người tình là một đối ảnh của cái tôi ấy, cả hai gắn với nhau như hình với bóng. Và, tất nhiên, như ở bất cứ phạm trù văn học nào, hai con người kia bao giờ cũng tồn tại trong một thế giới nhất định.Thế giới ấy gồm cả thiên nhiên và cuộc đời. Cái tôi Lãng mạn có lẽ đã đồng hoá thế giới theo lối chủ quan nhất. Nó thành thế giới của cái tôi, thế giới trong cái tôi. Diện mạo của hình tượng thế giới, do vậy, là sự phóng chiếu theo những kiểu nào đó của cái tôi kia. Có thể sự đậm nhạt của mỗi hình tượng đó ở từng thi sĩ không như nhau, nhưng bộ ba ấy khó mà thiếu được nhau. Cho nên Tôi – Người Tình – Thế giới đối với một thi sĩ nói chung, thi sĩ Lãng mạn nói riêng bao giờ cũng là tam diện nhất thể.

Nhìn kĩ vào từng cá thể của bộ ba hình tượng kia, đều có thể thấy mỗi một hình tượng bao giờ cũng là một chỉnh thể tạo bởi sự thống nhất của các đối cực, bao gồm cả tương tranh và chuyển hoá lẫn nhau. Mỗi hình tượng là một nhất thể trên cơ sở đa nguyên. Các đối cực như thế là nền tảng cho tính thống nhất trong một chỉnh thể nghệ thuật.

Tôi đã cố gắng đi vào vương quốc của từng vị theo cái mô hình nôm na ấy về thế giới hình tượng của họ.

*

Tác giả lớn được tạo bởi những tác phẩm lớn. Nói ở một chiều khác, những phẩm chất nghệ thuật lớn phải kết tinh vào những tác phẩm lớn. Mỗi một đỉnh cao được đề cập ở đây sẽ được soi rọi kĩ hơn vào những tác phẩm thực sự là đỉnh cao của họ. Đây cũng là dịp chúng ta hình dung tầm vóc vĩ mô của mỗi vị qua thế giới vi mô. Sau phần viết về mỗi thi sĩ đều có phần viết về những thi phẩm xuất sắc nhất của họ. Tất nhiên, danh sách những tác phẩm như thế ở đây vẫn có thể nối dài thêm.

*

Cuốn sách hoàn thành cũng nhờ được sự cổ vũ nhiệt tình và góp ý kiến quí báu của nhiều người. Nhân đây, người viết xin bày tỏ lời cám ơn đối với những bậc thầy, thân nhân, bạn hữu và nhà xuất bản đã tạo nhiều điều kiện cho cuốn sách được ra đời.

Với khả năng còn hạn chế, chắc chắn cuốn sách còn có sai sót, người viết mong được người đọc gần xa chỉ giáo thêm, nhờ đó, hi vọng lần in sau sách sẽ được hoàn thiện hơn.

Văn chỉ, đầu hạ Quí mùi 2003
Tác giả

Nguồn: Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003. Bản đăng trên Phê bình văn học được sự đồng ý của tác giả.

Leave a Reply