Lời tuyên bố về “Vấn đề phê bình văn nghệ”, Sài Gòn, ngày 15-1-1967


(PBVH): Một sự kiện phê bình văn học quan trọng giai đoạn sau 1963 mà lâu nay ít được nhắc đến là Hội thảo về “Vấn đề phê bình văn nghệ” do Hội Bạn trẻ em Việt Nam, Hiệp hội Văn học nghệ thuật, Hội đồng Bảo vệ tinh thần Thanh thiếu nhi, tạp chí Bách khoa, tạp chí Tin văn tổ chức ngày 15/1/1967 (Hồng Bàng, Chợ Lớn), thu hút hơn 250 nhân sĩ, kí giả, văn nghệ sĩ, trí thức, sinh viên học sinh sinh và những người quan tâm đến văn học nghệ thuật.

Mục đich cuộc Hội thảo này, ngay lời mở đầu, đã được luật sư Bùi Chánh Thời tuyên bố là “đi tìm một nguyên tắc để làm căn bản cho sinh hoạt phê bình. Đó là phương thức xây dựng văn học và nghệ thuật cụ thể, hợp lý trong giai đoạn hiện tại, đồng thời đó là sự bảo đảm dân chủ trong sinh hoạt văn nghệ” và với phương châm “không đả động đến đời tư hay chỉ trích cá nhân”, “chỉ chấp nhận những ý kiến về văn học nghệ thuật, tuyệt đối không đề cập đến các vấn đề thuộc sinh hoạt chính trị” (Bùi Chánh Thời).

Nhưng thực ra nội dung bàn luận trong Hội thảo chỉ tập trung vào một hiện tượng sáng tác và phê bình nổi bật bấy giờ…. Hội thảo này khép lại bằng Lời tuyên bố của trên 250 người được xác định là “quan tâm đến tiền đồ văn nghệ nước nhà”. Dưới đây, Phê bình văn học xin giới thiệu nội dung Lời tuyên bố đó

*

LỜI TUYÊN BỐ

TRONG CUỘC HỘI THẢO VỀ VẤN ĐỀ PHÊ BÌNH VĂN NGHỆ

TỔ CHỨC TẠI SỐ 65, ĐƯỜNG HỒNG BÀNG CHOLON, NGÀY 15-1-1967

Trên 250 nhân sĩ, trí thức, ký giả, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh và những người quan tâm đến tiền đồ nền văn học nghệ thuật nước nhà đáp lời mời tham dự cuộc hội thảo về “Vấn đề phê bình văn nghệ” do Hội Bạn trẻ em Việt Nam, Hiệp Hội Văn học nghệ thuật, Hội đồng Bảo vệ tinh thần Thanh thiếu nhi, tạp chí Bách khoa, tạp chí Tin văn tổ chức tại trụ sở Hội Kỹ sư và Kỹ thuật Gia Việt Nam số 65, đại lộ Hồng Bàng, đồng ý với nhau rằng: một trong những nguyên nhân làm cho nền văn nghệ miền Nam càng ngày càng trở nên nghèo nàn; hiện tượng dâm ô đồi trụy ngày cảng trầm trọng là do thiếu một phong trào phê bình sáng tác và biểu diễn một cách đứng đắn. Đồng ý với nhau rằng có phê bình, văn nghệ mới phát triển, có tranh luận văn học, chân lý mới sáng tỏ, tự do dân chủ trong sinh hoạt văn nghệ mới đảm bảo.

Do đó:

1)    Chúng tôi xác nhận sự cần thiết của một phong trào phê bình văn nghệ, trong đó mọi sự trao đổi ý kiến được tự do thực hiện với thái độ khách quan, theo tinh thần tôn trọng nhân cách và phát huy chân lý.

2)    Chúng tôi hoan nghênh và hậu thuẫn trong mọi hoàn cảnh cho tất cả tác giả các bài phê bình đã qua, hiện nay và sắp tới, không phân biệt quan điểm và trường phái nghệ thuật, nhằm phát huy nền văn học hùng mạnh và tiến bộ, chống đối mọi biểu hiện dâm ô và đồi trụy, trong ý hướng bảo tồn và phát triển dân tộc.

3)    Chúng tôi yêu cầu chính quyền nhận lấy trách nhiệm về nạn chụp mũ, vu cáo, bôi nhọ hiện đã manh nha và đang phát triển trong văn nghệ giới”

Làm tại Sài gòn ngày 15 tháng 1 năm 1967

Đồng ký

Thư ký đoàn: Hoàng Lan, Thái Bạch, Thanh Việt Thanh

Chủ tọa đoàn: Bùi Hữu Sủng, Hiếu Chân, Đặng Văn Nhâm, Bùi Chánh Thời, Thế Nguyên” 

NguồnTin văn  số 15 từ 30-1 đến 15-3-1967. Bản vi tính do http://phebinhvanhoc.com.vn thực hiện.Copyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

1 phản hồi

  1. Nguyen Vy Khanh nói:

    Vấn-đề phê-bình văn-nghệ năm 1967

    Lời tuyên bố về “Vấn đề phê bình văn nghệ”, Sài Gòn, ngày 15-1-1967 vừa đăng lại trên trang mạng phebinhvanhoc.com.vn như tôi được biết là cao điểm của những chiến dịch đấu tranh văn-hóa, chính-trị thời bấy giờ. Cũng trong Tin văn số 15 đó có bài viết “Bảo vệ phê-bình và sinh hoạt dân-chủ trong văn-nghệ …” của Nguyễn Ngọc Lương mà kết luận chỉ nêu lên những nguyên tắc bình thường của phê-bình văn-học. Thật vậy, các Hội Bạn trẻ em Việt Nam (Thiên Giang, sau thành Hội đồng Bảo vệ tinh thần Thanh thiếu nhi),Hiệp hội văn-học nghệ-thuật (6-8-1966, Á Nam Trần Tuấn Khải), cũng như Lực Lượng Bảo Vệ Văn-Hóa Dân-Tộc (thành lập 7-6-1966, Lê Văn Giáp) và tạp-chí Tin Văn đều nằm trong một quĩ đạo thân Cộng nhận chỉ đạo trực tiếp của đảng ủy văn-hóa mà mục đích là đấu tranh chống ‘Mỹ ngụy’, chống chủ nghĩa ‘thực dân mới’ , chống văn-hóa `nhập cảng đồi trụy`. Cuộc đấu tranh này là 1 mặt của cuộc chiến toàn diện và nhắm đấu tranh văn-hóa có tổ chức và có lãnh đạo: tạp-chí Tin Văn chỉ là 1 chi bộ.
    Tin Văn ngay số ra mắt (6-6-1966) đã đăng “ Bản tuyên ngôn của văn-nghệ sĩ về tự do sáng-tác, tự do biểu diễn, tự do xuất-bản”, bài luận “hiện-tượng dâm ô đồi trụy trong văn-hóa hiện nay” (TV 9) và những bài điểm sách phê-phán nặng nề những tác-phẩm không nằm trong chiều hướng có chỉ đạo đó (phê-bình tiểu-thuyết của Lê Xuyên như Chú Tư Cầu, và mũi dùi nhắm liên tục các tiểu-thuyết Yêu, Tiền, Sống, Loạn của Chu Tử và kết thúc với vụ ám sát hụt ngày 16-4-1966)… Trên Tin Văn số 4 nhóm đòi hỏi dân chủ (!) trong sáng-tác và cho biết sự“ thể hiện những khía cạnh đồi trụy chỉ có thể chấp nhận qua một thái độ phê phán có ý hướng nâng cao xã-hội của tác-giả”.
    Nghĩ đến những nghiên cứu thuộc thế hệ hôm nay, chúng tôi chỉ nói đến 2 vấn-đề liên quan đến một biến cố đã hơn 45 năm:
    1- Lời tuyên bố cho rằng miền Nam lúc đó không có phê-bình văn-nghệ đúng đắn, thật ra phe nhóm đó (đúng vậy, Buổi hội thảo chỉ là của 1 nhóm nhà giáo và văn-nghệ sĩ vốn ‘yêu nước, yêu dân-tộc’ từ thời kháng chiến chống Pháp!) muốn cổ võ đấu tranh chính-trị ‘ chống Mỹ, ngụy’ và (bây giờ ai cũng biết) thống nhất Nam-Bắc dưới một sự lãnh đạo. Do đó, phe nhóm này đã liên tục chống đối những trào lưu tư tưởng mới, khác như hiện sinh, dân-chủ tự do, duy linh nhân vị, siêu thực, v.v. Về sinh hoạt phê-bình, miền Nam lúc đó, đã khá đa dạng (gần đây nhiều biên-khảo về các lý thuyết phê-bình của miền Nam đã xuất hiện dồi dào trên các tạp-chí và luận án đại học ở Việt-Nam), đa dạng trong phê-bình, trong văn-học và các bộ môn nghệ-thuật khác như hội họa, kịch nói, v.v.

    2-Các sinh hoạt văn-nghệ ở miền Nam lúc bấy giờ đã khá dân-chủ, tự do và khai phóng, mọi khuynh hướng đều được tương đối chấp nhận – kiểm duyệt của Nhà nước chỉ nhắm vào những quá đà và thiên lệch chính-trị không phải của miền Nam (thân Cộng, Mác-xít) – nhưng vẫn để học đường và giới nghiên cứu tự do điều nghiên, học hỏi về Mác-xít, và những ‘đao to búa lớn’ văn-hóa chạm người và nỗ lực chiến-tranh tự vệ – nhưng vẫn để cho văn-nghệ sĩ tự do phản kháng, phản chiến là những phong trào chỉ có ở miền Nam. Văn nghệ sĩ miền Nam còn trình bày cho mọi người thấy, biết những vết thương của chiến-tranh, khác với mảng văn-học miền Bắc trước 1975. Xã-hội chiến-tranh dĩ nhiên đưa đến những hoàn cảnh bi đát về kinh tế và phong hóa. Các nhà văn Võ Hồng, Nhật Tiến, Duyên Anh, … đã đưa những hiện thực xã-hội vào tác-phẩm của họ. Còn cái bị gọi là ‘dâm ô, đồi trụy’ thì đã là hiện thực chiến-tranh, xã-hội cho nên Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Thế Uyên, Chu Tử … không thể viết như Tự Lực văn đoàn thời tiền chiến. Nhân vật của Chu Tử, Nguyễn Thị Hoàng, … sống hiện sinh thời thượng (thời nào mà không có người theo thời thượng!). Nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Minh Đức Hoài Trinh,… sống thật về dục tính vì họ là con người; vả lại đấu tranh nữ quyền muốn động não thì phải dùng thứ văn chương động xác. Nhân vật lính hoặc sinh viên của Thế Uyên không xả stress trong những làng chơi thì tâm lý sao có thể … quân bằng? Còn tiểu-thuyết của Lê Xuyên nhắm độc giả bình dân cho nên hiện thực tính dục phải xảy ra nơi trên mương, dưới ruộng, … thôi – mà ở miền Nam con người sống và não trạng thoải mái từ trước nay, thời 1912 đã có Lê Hoằng Mưu ghi lại trong Hà Hương Phong Nguyệt đăng trên Nông Cổ Mín Đàm!
    Trước thời điểm 1966-1967 này, trên mặt trận văn-hóa đã có những cây viết và tác-phẩm đáng kể, nhưng rồi yếu đi vì không có tiếp nối, do đó phong trào phải đẩy mạnh tranh luận lý thuyết và chính-trị. Mặt trận văn hóa -chính-trị này nổi lên không gây ảnh hưởng nhiều, nên sau đó càng “ âm thầm hơn”, vì chiến-tranh lên cao độ và con người phải quay cuồng theo cuộc sống mới! Hội thảo và Tuyên bố kiểu này thật sự không hiệu quả vì trong số những người tổ chức và ký tên không có sự tham gia đông đảo của những cây bút tên tuổi, cũng như không có cả Trung tâm Văn Bút là một tổ chức có tính quốc tế và chính thức của giới cầm bút. Trong khi đó LS Bùi Chánh Thời và các nhà văn Thái Bạch viết cho Tin Văn và các cơ quan ngôn luận phụ thuộc khác. Thế Nguyên, Thanh Việt Thanh đã là người của tổ chức. Bùi Hửu Sủng là giáo sư, còn hai nhà báo Hiếu Chân, Đặng Văn Nhâm thì vô thưởng vô phạt! LS Bùi Chánh Thời sau 1975 vẫn giữ chủ trương dân-chủ tự do cho văn-nghệ !

    Nguyễn Vy Khanh

Leave a Reply