Lý giải về sự khó đọc của tiểu thuyết hiện nay


Phùng Gia Thế

Từ sau đổi mới, độc giả tiểu thuyết Việt Nam thường xuyên được cung cấp những “món ăn” lạ. Chúng đã thực sự “ngon” hay “bổ” chưa chúng tôi không bàn ở đây. Song có một thực tế là, gần đây, tiểu thuyết ở ta dường như mất đi tính phổ thông trong thưởng thức, tiếp nhận, bởi chúng rất… khó đọc. Ai cũng biết, tiểu thuyết chạy theo số đông công chúng nhiều khi có hại. Song, nếu để mất đi sự quan tâm lớn của công chúng đối với nó thì cũng không phải là một điều hay (đặc biệt là trong thời đại mà các phương tiện nghe nhìn giải trí đang chiếm ưu thế rất lớn như hiện nay).

Vấn đề này có lẽ phải được giải thích từ nhiều phía: những chuyển động của văn hoá thời đại; sự vận động trong tư duy nghệ thuật của nhà văn; những biến đổi của thị hiếu thẩm mĩ, cách đọc, mô hình đọc của công chúng;… Và, tất cả các nguyên nhân này cơ bản đều dồn tụ vào một tiêu điểm: mô hình cấu trúc văn bản tiểu thuyết đương đại, chính xác hơn, là những biến động trong mô hình của nó như một đặc điểm khách quan của nghệ thuật trong quan hệ và tác động tới công chúng. Xin lưu ý thêm, nhận xét này không thể đúng với mọi tiểu thuyết ở ta hôm nay (và cũng không phải là xu hướng chỉ xuất hiện ở thời đại này). Tôi chỉ muốn nói tới một số trong đó: làn sóng các tác phẩm cách tân từ sau 1986 đã và đang được các nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm, tranh luận. Chẳng hạn như Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái, Những đứa trẻ chết già, Thoạt kì thuỷ, Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Ngồi của Nguyễn Bình Phương, Người sông Mê của Châu Diên, Dòng sông Mía của Đào Thắng, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Phố Tầu, Paris 11 tháng 8, T. mất tích của Thuận,…

Tại sao tiểu thuyết lại khó đọc?

Nhìn từ đặc điểm cấu trúc văn bản, có thể thấy mấy nguyên nhân chính sau đây.

Thứ nhất, tiểu thuyết ở ta gần đây có xu hướng mờ nhạt về tính “chuyện”, cốt truyện. Đặc điểm này có phần hơi ngược với truyền thống thích nghe “chuyện”, “hóng chuyện”, đọc “chuyện” của một số đông công chúng. Trong thưởng thức nghệ thuật nói chung, người ta thường thích các tác phẩm có cốt truyện, tô đậm được chiều hướng đường đời của nhân vật và hoàn cảnh sống của nó, thậm chí cốt truyện càng đậm đặc, giật gân hay li kì thì càng hấp dẫn! Tóm lại, dù tiểu thuyết có nhiều tầng ý nghĩa đến đâu thì điều trước tiên người ta cần khi đọc, đó là: nó phải có “chuyện”. Thực tế cho thấy, ở ta, những tác phẩm mờ nhạt về cốt truyện thường không thu hút được nhiều độc giả. Điều này, với bên ngoài hẳn cũng không mới lạ gì. ở phương Tây, tiểu thuyết đã đi được một chặng đường rất dài với những cách tân táo bạo, vừa đáp ứng nhu cầu của thời đại mới, vừa là sự “gây hấn”, “gây sự” với lịch sử. Không khó khăn để nhận ra người ta phải đọc văn bản của Hugo, Balzac,… khác với Camus, Kafka rồi càng khác xa hơn với Robbe – Grillet, Sarraute, Butor,… như thế nào. Tiểu thuyết ở ta gần đây còn có xu hướng “phân rã” cốt truyện. Những câu chuyện lớn, những sự việc lớn được thay bằng những câu chuyện nhỏ kiểu “mảnh vỡ”, nhấn sâu vào cảm giác hiện sinh, khai thác tô đậm chiều sâu vô thức, những vùng mờ trong thế giới tâm linh con người. Trên thực tế thì những câu chuyện của đám đông thường thu hút được độc giả nhiều hơn là các “mẩu chuyện vụn” của cá nhân, đặc biệt là khi các “mẩu chuyện vụn” đó chưa đủ sức gợi ra những suy tư về câu chuyện tâm thức thời đại, về cái mà con người thời đại thực sự quan tâm.

Thứ hai, sự mờ nhạt và phân rã cốt truyện thế tất dẫn tới một hệ quả: sự đứt gẫy, quanh co phức tạp trong cấu trúc tiểu thuyết. Tính lôgíc nhân quả của sự kiện, mô hình chỉnh thể truyền thống của cốt truyện (mở đầu, thắt nút, cao trào, đỉnh điểm, mở nút) thường xuyên bị phá vỡ. Cái được viết trở nên khó nắm bắt. Rồi lối kết cấu đa tầng, đa tuyến, song hành, xoắn vặn, sắp đặt, lắp ghép, đoản mạch,… gây không ít “khó khăn” đối với số đông công chúng. Nhiều bạn đọc tỏ ra “phát cáu” vì không biết đâu là chuyện chính, đâu là chuyện phụ. Nhiều khi đọc xong một tác phẩm người ta chả biết nhà văn đang kể, viết gì!

Thứ ba là sự tô đậm tính chất “trò chơi” của tiểu thuyết. Thông thường thì, để chơi được một trò gì, người ta phải hiểu luật, hay phải ít nhiều biết được luật chơi của nó. Trong khi trên thực tế thì mấy ai được đào tạo để trở thành người đọc chuyên nghiệp! Đọc tiểu thuyết bây giờ, nhiều khi như chơi cờ mà người chơi bị “bắt phải chơi” (bởi anh ta chả hiểu luật lệ gì cả): chơi ngôn từ, chơi kết cấu, chơi nhân vật, chơi lịch sử,… Thành thử, nhiều lúc người đọc cứ ngẩn ngơ, rối trí trước những sắp đặt, dán ghép, nhảy cóc, dòng ý thức, xen cài lồng ghép, vật hoá, số hoá, nhiều kết thúc; rồi sự can thiệp “thô bạo” không che đậy của nhà văn vào tác phẩm, sự phá vỡ các mạch truyền thống từ lối đặt tên nhân vật, lề lối kết cấu, dị biệt hoá điểm nhìn; rồi lối baroc, rubích, kính vạn hoa;… Độc giả truyền thống ở ta lại thường quan tâm nhiều hơn tới cái được kể chứ không phải cách kể. Do thế, những cách tân hình thức tiểu thuyết gây ra cho họ không ít “ngáng trở” trong tiếp nhận. Thậm chí, đối với một số nhà phê bình (loại người đọc chuyên nghiệp), nhà văn cách tân đôi khi cũng bị hiểu nhầm.

Thứ tư, ngôn ngữ tiểu thuyết có xu hướng làm nhoà ranh giới giữa tính tinh tuyển và tính thông tục. Tiểu thuyết hôm nay, bên những thanh âm trong trẻo còn có cả những “tạp âm”. ở một số tác giả, những từ thông tục, từ tục (mà nhân vật dùng) có xu hướng tăng lên và ngày càng công nhiên. Tuy nhiên, không phải bao giờ sự khai thác bình đẳng chất liệu ngôn từ trên cùng một mặt sân giá trị cũng được độc giả hiểu và chấp nhận. Người ta có thể nói tục nhiều lần, liên tục, mọi nơi nhưng lại không thể chấp nhận một nhân vật trong văn chương văng tục! Người ta vẫn cần ở ngôn từ nghệ thuật cái gì vượt thoát, cách điệu, khác với ngôn ngữ đời thường. Nói theo Aristote thì đó là sự “bắt chước” đời sống nhưng phải là “bắt chước” có “sửa đổi” để cho “cao hơn” đời sống. Rồi lối viết phóng túng của nhà văn với những câu văn không chấm phẩy, phá cách, rồi bao sự vênh lệch, trật khớp trong đối thoại, cả những ý nghĩ miên man, chắp nối vụn vặt, nhảy cóc của nhân vật cũng dễ khiến bạn đọc “ngơ ngẩn” chả hiểu gì hoặc mệt mỏi vì chưa hiểu nhà văn muốn nói gì qua cái mê lộ ngôn từ này.

Thứ năm, những biến hình so với truyền thống của hình tượng nhân vật như: phi trung tâm, vênh lệch giữa vai tính cách và vai hình tượng, không có nhân vật lí tưởng, phi tính cách, nhân vật có khi chỉ như một cái bóng dập dền khiến nhiều bạn đọc thấy “khó chịu”, không biết tin vào đâu. Rồi nữa, đó là bao kiểu nhân vật dị biệt, kì ảo, điên loạn với những biến tướng đa dạng. Điểm nhìn nghệ thuật và sự khai thác đời sống từ đây trở nên rất phức tạp. Rất nhiều khi, tác phẩm lại không có một phát ngôn chính thống theo kiểu “ngọn đèn soi”. Sự hỗn loạn của thế giới được miêu tả làm bạn đọc hoang mang, bối rối. Thế giới hỗn loạn của tiểu thuyết mâu thuẫn với khao khát vươn tới cái hài hoà, trật tự của con người.

Thứ sáu, sự pha trộn thể loại hay những biến đổi tự sự nhiều khi làm lệch tâm thế tiếp nhận của bạn đọc, khiến họ không điều chỉnh kịp hoặc “hồ nghi” bản chất của thể loại. Nhiều khi nhân vật tiểu thuyết được tác giả giới thiệu như trong kịch. Nhiều khi đọc tiểu thuyết như đọc thơ. Nhiều khi người ta viết tiểu thuyết như quay phim, làm xiếc, vẽ tranh, sắp đặt,… Rồi hiện tượng thơ trong tiểu thuyết, sự lấn lướt của yếu tố trữ tình, kịch hoá,… khiến nhiều giới hạn truyền thống của tiểu thuyết bị đứt tung. Ai cũng biết, để khắc phục những “giới hạn” của chất liệu ngôn từ, của thể loại, nhà văn phải tìm đủ mọi thủ pháp để tác phẩm của mình thể hiện được nhiều hơn những chiều kích phức tạp của đời sống. Tuy nhiên, sự khai thác này không phải lúc nào cũng nhận được sự chia sẻ và ủng hộ, đặc biệt là với kiểu bạn đọc “bảo thủ” như bạn đọc nước mình!…

Và chắc là còn một số nguyên nhân khác nữa.

Tiểu thuyết viết cho nhà phê bình?

Những khó khăn mà người đọc tiểu thuyết hôm nay dễ gặp phải dẫn tới một hệ quả là: người ta đi xem phim, nghe ca nhạc, đọc truyện tranh, bỏ mặc tiểu thuyết cho… nhà phê bình. Nhà phê bình, với một ít sắc sảo và tinh tế hiển nhiên vẫn có thể nhận ra và giải thích (theo cách này hay khác) ý nghĩa của những biến động này trong mô hình tiểu thuyết. Tuy nhiên, vẫn phải thú thực rằng tiểu thuyết hôm nay khó đọc, nhiều khi đọc rất mệt. Nếu bảo thích không thì nhiều người sẽ nói là không. Nếu bảo có mới không thì có thể khẳng định là mới, rất mới, đặc biệt là về kĩ thuật. Nhưng vấn đề của tiểu thuyết đâu chỉ là kĩ thuật. Hình như tiểu thuyết ở ta hôm nay vẫn thiếu những tư tưởng lớn (và những bàn tay thực sự khéo léo, tinh vi). Nói chung, với chúng ta, đấy vẫn là một cuộc chơi khó.

Hiển nhiên chẳng ai khuyến khích việc “bình dân hoá” tiểu thuyết để tạo ra các tác phẩm dễ dãi, và cũng không thể giữ mãi mô hình cấu trúc truyền thống. Tiểu thuyết muốn phát triển thì nó phải vận động, đổi thay. Bước đi nào của nó mà chả gắn với những tìm tòi, sáng tạo nhọc nhằn. Thực tế văn chương cho thấy, tác phẩm lớn có thể làm thay đổi cách đọc của công chúng, thậm chí tạo ra được cả một lớp độc giả mới, có trình độ thị hiếu thẩm mĩ cao hơn. Tuy nhiên, tác phẩm không xuất sắc thì chúng ta cũng chẳng nên chạy theo nó làm gì! Ông Viên Mai xưa kia cho rằng, tác phẩm thi ca phải có một phẩm chất: “ý thâm, từ thiển, tứ khổ, ngôn cam” (ý sâu nhưng lời dung dị, cái suy nghĩ dù khổ đắng nhưng lời nói ra phải ngọt ngào). Đó chẳng phải là một đòi hỏi rất cao (và rất khó) đối với sáng tác văn học đó sao?

Bài viết này không phê phán xu hướng “đặc tuyển hoá” người đọc mà chỉ xác nhận nó như một đặc điểm của tiểu thuyết đương đại. Trong phê bình hôm nay, việc ủng hộ những tìm tòi thử nghiệm của các cây bút tiểu thuyết là rất cần thiết. Song nhà phê bình cũng cần cảnh giác với những “trò ú tim” của nhà văn, kẻo lại ăn “quả lừa”. Cứ say sưa bình phẩm bộ “quần áo của ông vua cởi truồng” thì chẳng phải là buồn cười lắm sao! Nhiều khi văn bản có chỗ “rỗng nghĩa” chứ chẳng phải thủ pháp kĩ thuật gì. Việc “bắt quả tang” những chỗ “rỗng nghĩa” của văn bản hứa hẹn nhiều điều thú vị. Xin được trở lại trong các bài viết khác.

Nguồn: Báo Văn nghệ, số 48 – 2008

Leave a Reply