Mạn đàm văn học đương đại Trung Quốc


Diêm Liên Khoa[1]

  

Diêm Liên Khoa – tác giả của Phong Nhã Tụng, Người tình của phu nhân sư trưởng đã được dịch ra tiếng Việt- là một trong những tiểu thuyết gia giữ vị trí quan trong trong văn học Trung Quốc 20 năm qua, ông thường xuyên được mời đi nói chuyện ở nước ngoài về sáng tác của mình cũng như văn học Trung Quốc đương đại. Sau đây là một bài viết về văn học Trung Quốc đương đại từ góc độ của một người trực tiếp cầm bút sáng tác.

1. Đứng bên lề của hôm nay, đi bàn cái gọi là văn học đương đại, thực chất là đứng trên một cây quả vẫn chưa đến tiết thu, giống như nói say sưa về một cảnh tượng vẫn chưa xác định. Cái gọi là văn học đương đại đó, kì thực chính là những sáng tác của hiện thời bây giờ. Dường như, chỉ cần có sự tồn tại hiện nay, thì tất nhiên sẽ có sự tồn tại của văn học đương đại, cho dù văn học chỉ là một đống văn tự trống rỗng hoặc là một đống rác chất đầy, bởi vì có bối cảnh thời đại, thời gian thực tại và có sự chống đỡ của bộ khung cốt lí luận văn học, văn học đương đại liền có vòng hào quang văn học và ý nghĩa văn học sử đa sắc của mình.

Con người cần phải có vận mệnh. Văn học đương đại cũng có vận mệnh của nó.  “Có người chết rồi, nhưng họ vẫn còn sống mãi.” Sống mãi là bởi vì, khi họ đang thực sự sống, họ có cá tính đặc thù mà người sau không thể nào thay thế. Mà văn học – văn học đương đại, nếu như ước vọng rằng sau khi trải qua vật đổi sao dời, còn thực sự tỏa sáng, muốn vậy, nó cần phải biểu hiện ra tính đặc thù không thể thay thế của mình. Loại tính đặc thù này, không phải là tính đặc thù của một thời gian, một địa điểm, một tác gia, mà là tính đặc thù của một thời đại, mười năm, thậm chí hơn trăm năm của một quần thể tác gia, một tập thể văn học. Chỉ có tính đặc thù này, mới đem đến tính đương đại trường tồn nhất, to lớn nhất của văn học, chứ không chỉ giản đơn là tính thời gian và tính sự kiện trong thời đại.

 Tính đặc thù của Đường Thi, tất nhiên không chỉ giản đơn là một câu năm chữ hoặc bảy chữ, không phải là sự nghiêm chỉnh và quy phạm của âm luật bằng trắc, mà là ý vị và sự phong phú của thần vận tập thể trong những câu thơ đó, là đem ý nghĩa và vần điệu của Hán tự Trung Quốc cùng đẩy lên đến một đỉnh cao không thể so sánh được. Tính đặc thù của tiểu thuyết Minh Thanh, không giản đơn là người đời sau đem những câu ngắn trở thành những lời nói dài (ý nói thay văn ngôn bằng bạch thoại – N.d), đem vần thơ ý từ trở thành những câu chuyện đan xen vấn vít, mà là men theo những câu chuyện, bắt đầu những sáng tác với những tri thức và tưởng tượng trước đây chưa từng có về con người và xã hội. Nguyên nhân của nó là sự bi phẫn của thời đại đó với hiện thực mà vĩnh viễn trở thành độc đáo đối với thế hệ sau.

Diện mạo của một thời đại văn học, là một chỉnh thể do rất nhiều cá tính độc đáo của các nhà văn tạo thành, mà không phải là phương thức hình thành cơ giới theo kiểu cá tính + cá tính = cá tính của một số nhà văn.

 Văn học đương đại nếu như vẫn muốn tiếp tục tỏa sáng ở thời đại sau thì phải có tính độc đáo của mình. Từ sau những năm chín mươi của thế kỉ trước, văn học đương đại đã hình thành thế đa nguyên hỗn loạn, nhưng sau đa nguyên hóa lại bị mất đi tính chung, tiếng nói chung. Văn học những năm 80 có tính chung nhưng lại thiếu đa nguyên hóa, mà hôm nay thì trong sự đa nguyên hóa lại thiếu đi một trung tâm chung.

Diem Lien Khoa

Nhà văn Diêm Liên Khoa

2. Trong tương quan với đương đại, trong sự so sánh với hiện đại, ba mươi năm của thế kỉ trước (chỉ ba mươi mấy năm trước 1949 – trước khi Trung Quốc mới thành lập N.d), dường như tác gia muốn viết gì là có thể viết đó, muốn viết thế nào là có thể viết thế đó. Đến mười mấy năm sau khi Trung Quốc mới thành lập, quan hệ giữa tác gia và thời đại, là tác gia quá biết mình có thể viết gì, không thể viết gì. Đến hôm nay, tác gia đương đại lại không biết nên viết gì, cũng không hiểu nên viết như thế nào. Nhìn bề mặt, mối liên hệ văn học của chúng ta hôm nay với xã hội, với lòng người là một sự hỗn loạn, bất hòa. Nhưng chúng ta dần dần đi vào, đọc một cách kĩ lưỡng, sẽ phát hiện ra một việc khác. Vốn dĩ từ sau những năm 90, những tác phẩm tiêu biểu của các tác gia xuất sắc mà chúng ta nhiều lần xưng tụng, kì thực đều không có mối liên hệ trực tiếp với hiện thực đương đại hiện nay của chúng ta. Ví dụ như “Bạch lộc tuyền” của Trần Trung Thực, “Tâm linh sử” của Trương Thừa Chí, “Từ điển Mã Kiều” của Hàn Thiếu Công, “Địa chỉ cũ” của Lý Nhuệ, “Phong nhũ phì đồn”, “Đàn hương hình” của Mạc Ngôn, “Phải sống”, “Hứa Tam Quan bán máu” của Dư Hoa, “Trường hận ca”, “Kí thực và hư cấu” của Vương An Ức, “Cổ thuyền” của Trương Vỹ, “Bút ký thảo luận” của Sử Thiết Sinh, “Gạo” của Tô Đồng, “Nhân diện đào hoa” của Cách Phi, “Trần ai lạc định” của A Lai, sau đó là “Hoa xoang” của Lý Nhị, “Ngọc mễ” của Tất Phi Vũ, …những tác phẩm liên tục được các nhà phê bình khen ngợi này, kì thực không có quan hệ nhân quả và tưởng tượng trực tiếp gì với kinh nghiệm và hiện thực Trung Quốc thời hiện tại. Điều đó không có nghĩa là nói những tác phẩm văn học đương đại có liên quan đến hiện thực và lòng người là những tác phẩm tốt, mà là nói, những tác phẩm tiêu biểu của các tác giả xuất sắc, hữu ý hoặc là vô tình có sự xa cách và tách rời thực tại, luôn làm người ta cảm thấy văn học đương đại thiếu đi thực lực mà thiên về kĩ xảo. Chúng ta không thể nói, văn học đương đại xa rời hiện thực đương đại chính là đặc thù của nó, không thể nói, những tác phẩm chủ yếu của các tác giả đương đại quan trọng không đi sâu tìm tòi linh hồn của con người hiện đại là tính chung của nó. Nhưng từ những tác phẩm quan trọng của các tác giả quan trọng, chúng ta không nhìn thấy quan hệ đối ứng và tinh thần của tác gia với hiện thực đương đại, không nhìn thấy lập trường và thái độ của tác gia khi đối diện với hiện thực, không nghe thấy thời hiện đại Trung Quốc hôm nay phong phú, hoang đường, phức tạp đến thế nào, …

Văn học đương đại không thể đều có quan hệ với hiện thực đương đại, nhưng những tác phẩm chủ yếu của những tác gia quan trọng nhất cũng không nên phần lớn đều cách xa hiện thực. Xa rời hiện thực đương đại, cũng có nghĩa là tự nhiên tách rời khỏi tính chung và tính đặc thù mà văn học đương đại nên có. Một trào lưu văn học đương đại của bất kỳ quốc gia, bất kì thời đại nào, kì thực đều có sự xoắn bện với hiện thực thời gian và không gian của nó. Vấn vít, quấn bện, ngàn tơ vạn mối, như thể mỗi cây cỏ đều nhất thiết phải gắn bó với đất đai của mình. Sự vĩ đại và huy hoàng của văn học Nga, là bởi vì tập thể các tác gia Nga thời kì đó đã quan tâm đến vận mệnh dân tộc và sự khổ nạn của nước Nga rộng lớn khi ấy. Sau này sự phồn vinh của văn học Mỹ, là bởi vì khi đó dường như tất cả các tác gia Mỹ đều tìm kiếm vị trí và chỗ đứng của bản ngã trong xã hội hiện đại. Tiếp đến sự nổi dậy của văn học Mỹ La Tinh, là bởi vì các tác giả Mỹ La Tinh đều dùng phương thức văn học Nam Mỹ nghiên cứu lịch sử và hiện trạng của dân tộc và quốc gia của họ. Tập thể tác gia xa rời thời hiện thực đương đại, có thể sẽ sản sinh ra những tác phẩm xuất sắc, nhưng không thể sáng tạo ra một thời đại văn học vĩ đại. Một thời đại văn học vĩ đại, có thể sản sinh ra một loạt những tác gia và tác phẩm, ngược lại, sự ra đời của một tác phẩm vĩ đại chỉ có thể là một cá biệt và dị số. Thời hiện đại của văn học Trung Quốc đương đại, có lẽ là, đang ở chỗ còn cách xa với thời đại văn học vĩ đại, mọi người còn đang trong cái ý vị đẹp đẽ say say tỉnh tỉnh…, chúng ta không thể không thừa nhận, những tác gia xuất sắc của văn học Trung Quốc hôm nay, đều xa rời hiện thực Trung Quốc đương đại và lịch sử Trung Quốc đương đại một cách vô tình. Chính từ cái góc độ này mà nói, những năm gần đây, ‘Tần xoang” của Giả Bình Ao, “Thời đại khai sáng” của Vương An Ức, “Huynh đệ” của Dư Hoa, “Sống đọa thác đầy” của Mạc Ngôn, “Bài ca con nhím” của Trương Vỹ, “Non Nam nước Bắc” của Hàn Thiếu Công và “Hàng loạt nông cụ” của Lý Nhuệ,… đã đem đến cho văn học Trung Quốc đương đại một tín hiệu mới, đó chính là, có lẽ những tác gia xuất sắc này, đã từ chính diện hiện thực quan tâm đến hiện thực và lịch sử Trung Quốc, tuy rằng chưa viết ra tác phẩm mang thực lực nhất và thể hiện cá tính sáng tác của họ nhất, nhưng mọi người đều dần dần tỉnh ngộ từ trong sự xa cách của tập thể, bắt đầu đối diện với tiếng nói và sự bộc lộ chính mình, bắt đầu có đường hướng tác phẩm và lối viết rõ ràng.

 Tính đặc thù chung của văn học đương đại Trung Quốc, là do cá tính sáng tác của mỗi tác giả tổ thành. Nhưng trong cá tính của tác giả, không thể bài trừ lập trường và thái độ của mỗi tác giả đối diện với hiện thực. Đối diện với hiện thực và lịch sử chung, thể hiện ra lập trường và thái độ riêng của mình, mới có thể có những tác phẩm và âm thanh khác nhau trên cùng một mảnh đất, mới có thể có trăm ngàn hoa cỏ và cây cối khác nhau trên cùng trên một cánh rừng. Loại tính đặc thù chung này được nói đến khi đối diện với dòng chảy dài của lịch sử và văn học, và cũng là khi đối diện với thế giới văn học rộng lớn. Tính đặc thù chung, không chỉ cần cách viết và kinh nghiệm khác biệt của mỗi tác gia, mà còn cần lập trường và thái độ khác nhau của tác gia khi đối mặt với cùng một hiện thực.

 3.Về văn học đương đại, có hai loại tình huống vừa thú vị vừa căng thẳng: một là sau khi một tác phẩm ra đời, sẽ bị các loại truyền thông dán đầy các chủng loại nhãn mác; sẽ bị các nhà phê bình kiến thức uyên thâm cho rằng tác phẩm của bạn và các nhà văn nước ngoài có quan hệ, rút tơ bóc kén, tìm hiểu ngọn nguồn, cuối cùng phát hiện ra nguồn gốc sáng tác của bạn là từ tác phẩm hoặc tác gia nào đó của phương Tây hoặc Mỹ La Tinh, phát hiện ra bạn và tác phẩm tác gia nào đó ở nước ngoài có mối tương đồng gì, có quan hệ gì với các loại chủ nghĩa. Ví dụ như “Trăm năm cô đơn” của Marquez, có đến ít nhất hơn mười bộ tiểu thuyết của hơn mười người bị đội lên cái mũ “Trăm năm cô đơn” của Trung Quốc. Còn có Faulkner, Hemingwei, Jorge Luis Borges, Kafka, “tiểu thuyết mới” nước Pháp,…, đều thường bị truyền thông và các nhà phê bình chọn làm đối tượng và ngọn nguồn có liên quan. Năm đó “Từ điển Mã Kiều” của Hàn Thiếu Công và “Từ điển Khazars” của nhà văn Serbia Pavic cũng gây sóng gió và kiện cáo, chính là kết tinh và thành quả luận chiến của những cuộc phê bình và phản phê bình như thế này. Sau này Mạc Ngôn, Dư Hoa, Tô Đồng, Cách Phi, Lưu Chấn Vân, …và các tác giả sau này nữa như Tất Phi Vũ, Đông Tây, Quỷ Tử, Lý Nhị, Mạch Gia, Vệ Tuệ, Miên Miên, Ngụy Vy, Đới Lai, Kim Nhân Thuận,…lúc tác phẩm của họ được tranh luận, được nói đến, đều tất nhiên sẽ đem tác phẩm của họ liên đới với một chủ nghĩa nào đó, một tác gia nào đó của nước ngoài, dường như các phê bình gia của Trung Quốc đương đại, không kéo vấn đề đi đến chỗ văn học nước ngoài, thì sẽ không thể nhấc bút lên viết phê bình được vậy. Và dường như, tác gia Trung Quốc quả thực là nếu không có tác gia nước ngoài gợi ý và khai ngộ, thì sẽ không nghĩ ra tiểu thuyết của mình. Gì mà chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại, thế hệ vứt đi, tiểu thuyết mới, cảm giác mới, chủ nghĩa tồn tại, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa thần bí, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, …như vậy, tám cửa năm hoa, lóng la lóng lánh, làm người ta hoa mắt chóng mặt, trăng sao không rõ, hơn nữa bầu khí quyển và thói quen này, hai mươi năm bất biến, vững như thành vàng hào nóng, làm người ta cảm thấy tác gia Trung Quốc thực sự ngốc quá thể, vụng về cực độ. Văn học thời kì mới chớp mắt đã qua ba mươi năm, đến hôm nay, họ vẫn tập ta tập tễnh đi sau mông người khác, viết không ra một tiểu thuyết “của mình”, viết không ra văn học đương đại chỉ thuộc về tác gia Trung Quốc mà thôi.

Một cảnh huống khác nữa, đó là, nếu không đem sáng tác của bạn và sáng tác của tác giả nước ngoài móc nối với nhau, thì cũng đem tác phẩm của bạn và tác phẩm kinh điển của truyền thống liên hệ lại. Ví dụ như tác phẩm của Giả Bình Ao và tiểu thuyết Minh Thanh, “Trường hận ca” và Trương Ái Linh, những tác phẩm thuộc loại duy mỹ đẫm chất thơ, ưu sầu bi thương và Thẩm Tùng Văn. Có quan hệ với nước ngoài cũng tốt, có quan hệ với truyền thống cũng không sao, bây giờ những điều muốn nói là mấy điểm dưới đây:

1.1.Tác gia Trung Quốc tách rời tác phẩm nước ngoài có còn sáng tác nữa không?

2.2. Phê bình gia Trung Quốc rời bỏ lí luận nước ngoài có còn lên tiếng nữa không?

3.3. Văn học đương đại Trung Quốc ngoài ảnh hưởng của phương Tây ra, nét riêng, giá trị đặc thù của nó là gì?

4.4. So với văn học truyền thống và văn học phương Tây, văn học đương đại vốn dĩ không có tính đặc thù, hay là đã có tính đặc thù nhưng lại không được các nhà phê bình phát hiện ra và dùng lí luận, chủ nghĩa mệnh danh và lí luận phân tích của mình chỉ ra? Xét đến cùng là tác gia quá ngốc, hay là nhà phê bình vốn dĩ không có trí huệ và năng lực viết phê bình đặc thù của mình?

Luận về văn học đương đại, tác gia xuẩn ngốc hay nhà phê bình xuẩn ngốc là không có ý nghĩa. Sự thực trải ra là, khi tác phẩm của nhà văn và tác phẩm bị truyền thông và các nhà phê bình đội cho các loại mũ “Gì gì gì của Trung Quốc” và “chủ nghĩa gì gì”, truyền thông và phê bình gia tán dương rất nhiều tác phẩm, mà bản thân tác gia cũng vui vẻ tiếp nhận mà không hề đỏ mặt; khi nhà phê bình nói sáng tác của bạn và một tác phẩm vĩ đại trong truyền thống của Trung Quốc có nét tương đồng, tác gia cũng cảm thấy tự đắc vui vẻ, hơn nữa còn cảm thấy vinh dự – đương nhiên, việc này trừ hai tác phẩm “Từ điển Mã Kiều” và “Trường hận ca” ra, Hàn Thiếu Công không hề thừa nhận sự liên quan của “Từ điển Mã Kiều” và “Từ điển Khazar”; Vương An Ức cũng không cho rằng sáng tác của mình có liên quan đến Trương Ái Linh. Họ nói sáng tác của họ là của chính họ, mà không phải của người khác. Còn những tác gia khác, khi đối diện với sự mệnh danh và liên hệ của phê bình gia, lại như là nhận được ân huệ. Người trao vui cái vui của người trao, người nhận vui cái nhận của người nhận.

 Từ đây vấn đề đã xuất hiện rồi. Sáng tác của văn học đương đại chúng ta, khi bàn luận tương quan với văn học truyền thống và văn học thế giới, xét đến cùng có hay không tính đặc thù của mình. Có bao nhiêu tính riêng của mình. Có thì tốt, không có thì thôi; nhiều thì tốt, ít thì đành, điều mà sáng tác đương đại phải hiểu rõ đó là, cho dù nói như thế nào, sự đặc thù này vẫn chưa nồng đậm đến mức làm người khác vừa nhìn là thấy, một thửa ruộng không thể bỏ qua, giống như một dãy núi sừng sững nổi lên giữa bình nguyên, làm người ta không thể nhìn mà không thấy, không thể đi vòng mà qua. Phân tích giá trị độc đáo của văn học đương đại khi bỏ qua duyên do, chúng ta không thể không trở về với giai đoạn khởi đầu của văn học đầu những năm 80, các loại chủ nghĩa và trào lưu đến một cách nhanh chóng, phồn thịnh, sau khi cái được gọi là “thời đại hoàng kim của văn học” qua đi, cái đáng nhìn lại và khen ngợi nhất, có lẽ là hai loại sáng tác bắt đầu vào thời đó, chính là: “văn học tầm căn” và tiểu thuyết “tìm kiếm mới”. Tình hình, cục diện của văn học hôm nay và hành trình của đại đa số tác gia, kì thực đều có quan hệ với hai loại văn học thời kì đó. Thứ mà văn học tầm căn tìm tòi chính là cội nguồn truyền thống, cái mà văn học “tìm kiếm mới” tìm tòi chính là nguồn gốc ngoại lai của văn học. Nên trao bổ sung cho hai loại sáng tác này “giải thưởng cống hiến” ngoài rất nhiều loại giải thưởng văn học của Trung Quốc ra. Bởi vì, hai loại sáng tác này giống như là tĩnh mạch và động mạch của huyết quản vậy, làm cho sáng tác hôm nay có quan hệ trục tung với truyền thống, trục hoành có quan hệ với hải ngoại. Nhưng mà, chúng ta cũng nhất thiết phải ý thức đến, sáng tác hôm nay đã đi xa so với sự cơ giới, giản đơn của văn học “tầm căn” và “tìm tòi mới” rồi, tác gia đã sớm đem rất nhiều loại kinh nghiệm sáng tác bao gồm hai loại đó tiến hành cách tân và sáng tạo sau khi chỉnh lí, đã có phương thức và men rượu mới của mình, chỉ là loại men mới này luôn bị luận thuyết của các phê bình gia đặt vào trong những bình rượu cũ một cách theo quán tính. Có tác gia đã bắt đầu ý thức rõ ràng đến, văn học đương đại đã hấp thu quá nhiều, quá thừa các kinh nghiệm và dưỡng chất của sáng tác ngoại lai, nếu cứ một mực đi hấp thu như vậy, mà không tiến hành lên men và sáng tạo sau khi hấp thụ, các sáng tác dưới ngòi bút của họ, sẽ không phải là hình hài của Trung Quốc, mà một anh mập nước ngoài.

Vì sao tác phẩm của Vương Tằng Kỳ lại được các tác gia Trung Quốc đương đại yêu thích và sùng bái như vậy? Ngoài việc ông ta thực sự viết một cách thanh tú về những bút pháp cổ điển ra, cái quan trọng hơn là các tác gia đương đại ý thức đến việc dấu ấn ngoại lai quá nặng. Mạc Ngôn trong phần hậu ký của “Đàn hương hình” gọi sáng tác của mình là một loại “đại rút lui”, trong “Sống đọa thách đầy” không chỉ sử dụng kết cấu câu chuyện “lục đạo luân hồi” thuần túy theo phương thức Trung Quốc, mà còn dùng thể chương hồi tiến hành sáng tác văn học. Những nỗ lực chính xác này, chính là một loại trí huệ lớn của Mạc Ngôn, là sự thức tỉnh và thâu suốt của ông, chỉ tiếc là độc giả và phê bình gia đã bỏ qua điểm này. Vương An Ức liên tục được vinh dự gọi là “hòn đá sống” của văn học thời kỳ mới, với mỗi loại trào lưu và chủ nghĩa, bà đều có những sáng tác tiêu biểu mới, nhưng sau “Trường hận ca”, bà lại dường như hoàn toàn bó buộc mình trong sáng tác theo “kinh nghiệm Trung Quốc”. “Tần xoang” là bộ sách làm cho người đọc khó có thể đọc một mạch là hết, trong đó ngay cả giáo sư Trần Tư Hòa (Giáo sư Đại học Phúc Đán Trung Quốc – N.d) ca ngợi “Tần xoang”, cũng chia ra mấy lần để đọc hết nó, nhưng điều này không hề ảnh hưởng đến việc yêu thích và khen ngợi của mọi người với “Tần xoang”, vì sao lại như vậy? Đa số trong đó bao hàm mọi người đã quen với việc yêu thích và cổ vũ những vần điệu cổ văn tràn ngập trong sáng tác của Giả Bình Ao.

Trong sáng tác đương đại, “kinh nghiệm Trung Quốc” là phải có phương pháp biểu đạt “theo lối Trung Quốc.”

Sáng tác đương đại đã đến giai đoạn hình thành tính đặc thù của mình.

“Tính đặc thù của sáng tác đương đại” này, vừa không thể đơn điệu, miệt thị kinh nghiệm sáng tác nước ngoài, cũng không thể cắm đầu vào con đường sáng tác của phương pháp truyền thống Trung Quốc; vừa phải dũng cảm có ý thức vứt bỏ ảnh hưởng ngoại lai, vừa phải đem ảnh hưởng của sáng tác ngoại lai nuôi dưỡng thành một loại dưỡng chất sáng tác; vừa phải đẩy kinh nghiệm truyền thống sang một bên, lại vừa phải uyển chuyển đem truyền thống vào huyết quản của mình.

Tính đặc thù của sáng tác đương đại, là biết vứt bỏ và đẩy đi một cách dứt khoát tác phẩm của người khác, biết quan tâm và hấp thụ sáng tác của người khác. Đẩy đi bao nhiêu, hấp thụ bao nhiêu, dựa sát vào truyền thống bao nhiêu, đi ngược lại truyền thống bao xa, đây là chuyện của mỗi tác giả, cũng là chuyện chung của văn học đương đại. Có thể vứt bỏ ngoại lai như đã vứt bỏ truyền thống không? Văn học đương đại Trung Quốc kì thực đang trong sự do dự và lựa chọn, đang trong nỗ lực và thử nghiệm.

Có lẽ mọi người nên nghỉ ngơi chỉnh đốn một chút, nghiền ngẫm tìm tòi một chút.

Sau khi nghỉ ngơi, suy ngẫm, mới có thể lên đường đi đến phương hướng, mục tiêu chung tiếp theo.

Đỗ Văn Hiểu – Minh Thương lược dịch

 Bài viết đã đăng trong Tạp chí khoa học Đại học Nhân Dân Trung Quốc năm 2009


[1] Diêm Liên khoa, nhà văn nổi tiếng, sinh năm 1958 tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Từng đạt giải thưởng Lỗ Tấn lần thứ nhất và lần thứ 2; giải thưởng Lão Xá lần thứ 3, hơn 20 lần đoạt các giải thưởng văn học khác nhau trong nước và nước ngoài. Tác phẩm được dịch ra hơn 10 thứ tiếng, bao gồm tiếng Nhật, Hàn, Việt, Pháp, Anh, Đức, Ý, Hà Lan, Israel, Tây Ban Nha, Serbia…., xuất bản ở trên 20 quốc gia và khu vực.

Nguồn: Bản đăng trên Phê bình văn học do dịch giả gửi.

Leave a Reply