Mấy ghi nhận về tiểu thuyết Đất mặn


Lại Nguyên Ân

Các sự kiện của Đất mặn đóng khung trong những năm 1964 – 1968, tức là một giai đoạn quan trọng của cuộc chống Mỹ cứu nước diễn ra trên miền Bắc. Chu Văn không tham mở rộng diện phản ánh. Anh cắm chắc vào điểm, tập trung miêu tả cuộc sống sản xuất, chiến đấu ở một xã trong vùng công giáo miền biển quen thuộc của anh, nơi phải trực tiếp đọ sức với máy bay và tàu chiến Mỹ, nơi mà thế lực phản động lợi dụng tôn giáo vẫn không từ bỏ những hoạt động phá hoại ngấm ngầm, cách này cách khác tiếp tay cho địch. Ở một mức độ nhất định và so với khá nhiều trang truyện đây đó viết về cuộc chiến tranh phá hoại, Đất mặn đã phần nào nói được tính chất dữ dội, ác liệt của chiến tranh.

Trong Đất mặn có thể thấy một cuộc chiến đấu tập trung nhiều loại sự kiện tiêu biểu của thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của địch, đồng thời, trong khi tái hiện một cuộc chiến đấu cụ thể của những con người cụ thể, người viết đã cố gắng chỉ ra sự chuyển động xã hội trong bề sâu các quan hệ của nó, do tác động của cuộc chiến đấu tại chỗ cũng như của toàn bộ cuộc chiến tranh. Chính ở chỗ này, cuốn tiểu thuyết về đời sống chiến tranh có được cái chất của tiểu thuyết tâm lý-xã hội. Dường như người viết đi tìm lời đáp cho câu hỏi: cuộc chiến tranh này đã làm biến chuyển xã hội và con người như thế nào, theo những hướng nào? Anh đã cố dàn lên sân khấu tiểu thuyết những nhân vật đại diện cho các lớp người khác nhau ở nông thôn, có thể tiếp thu tác động của cuộc chiến tranh ở những hướng khác nhau: những gia đình các mạng trung kiên bên cạnh những kẻ từng bị đào thải khỏi hàng ngũ kháng chiến và đang sống lạc lõng giữa một nông thôn mới, những người tu hành và quần chúng tin đạo, lớp cán bộ lâu năm và lớp thanh niên trẻ, vị nữ chúa lục lâm ngoài vòng pháp luật ba bốn chục năm trước và những anh hùng trẻ tuổi xuất hiện trng cuộc thử lửa hôm nay… Nếu như cuộc chống Mỹ cứu nước đã huy động đến mức cao nhất sức mạnh và tiềm năng dân tộc, thì chính nó lại cũng tạo nên những đổi thay rất sâu xa trong đời sống và các quan hệ xã hội. Thực tế chống Mỹ cứu nước là hòn đá thử vàng cho sự trưởng thành và hoàn thiện của nhân cách con người, cho sự củng cố và bồi đắp các quan hệ xã hội, gia đình, tình cảm… theo hướng tiến bộ, cách mạng.

Đứng về mặt miêu tả cuộc chống Mỹ cứu nước, tác giả Đất mặn có ý thức nâng sự phản ánh lên tầm nhận thức, tuy chưa phải lúc nào cũng thành công. Bộ mặt xã hội của cuộc chiến tranh, chiều sâu của nhiều vấn đề đời sống phức tạp và đa dạng (ví dụ vấn đề nhà trường và giáo dục thời chiến, vấn đề tình yêu và hạnh phúc gia đình, tình cảm con cái… là những vấn đề có khả năng nói được ở đây) đã bị lược đi hoặc bỏ qua một cách đáng tiếc. Tính quần chúng, tính tập thể của cuộc chiến đấu − vai trò của “đám đông” − chưa được chú trọng biểu hiện đúng mức bằng hình tượng nghệ thuật đã làm cho cuốn truyện hầu như thiếu hẳn cái hơi thở sử thi cần thiết… So với Bão biểnđầy sức hấp dẫn của chất sống thực, ngồn ngộn, ngổn ngang trên từng trang một thì Đất mặn quả có sút kém. Trong Đất mặn vẫn có thể thấy những hoạt cảnh sinh động về cuộc chiến đấu hiện tại, dấu hiệu của một sự quan sát, tích lũy nghiêm túc, một cách viết có bản sắc (ví dụ trận chiến đấu trên biển cuối tập I, lễ truy điệm sống Ngô  Chiếu tình nguyện hy sinh phá bom từ trường ở tập II…), nhưng những đoạn như thế thường hiếm hoi và dễ bị chìm đi giữa những đoạn kể vắn tắt. Có khi người viết như muốn nhờ vào cái chất ngồ ngộ nửa giai thoại để tạo nên sức hấp dẫn của câu chuyện (chuyện nghe nhầm tiếng địa phương của hai anh kỹ sư nông nghiệp xuống xã) hơn là nhờ vào việc tái hiện chân xác các sự kiện, soi tỏ tâm trạng và hành vi của nhân vật. Những đoạn “tiền sử” nhân vật, những mẩu chuyện quá khứ được nhắc lại thường lại trội hơn, đậm nét hơn so với mảng sống hiện tại…

Nhưng đấy vẫn chỉ là một phần.

Có thể nói, bên cạnh cảm xúc anh hùng về cuộc chiến đấu nói trên, sáng tác Đất mặn, Chu Văn còn bị hấp dẫn bởi một vấn đề quan trọng khá mà anh muốn đặt ra như là một chủ đề trung tâm của tác phẩm: vấn đề đội ngũ cán bộ, hay nói rõ hơn, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng như thế nào lực lượng trẻ để họ trở thành người kế tục đáng tin cậy sự nghiệp cách mạng của Đảng. Thực tiễn những năm tháng ác liệt của cuộc chống Mỹ cứu nước đã đặt ra vấn đề đó. Đây cũng là một mặt của thực tế và chính trên vấn đề này, Chu Văn đã phát huy khả năng của một cán bộ phong trào từng nhiều năm sống gần cơ sở. Cũng chính là trên vấn đề này tính chiến đấu của ngòi bút Chu Văn được thể hiện trong một phạm vi mới so với Bão biển: phạm vi đấu tranh trong nội bộ hàng ngũ chúng ta trên những vấn đề nguyên tắc, vì lợi ích lâu dài của sự nghiệp cách mạng.

Chu Văn hết lòng ca ngợi chủ nghĩa anh hùng trong chiến đấu của cán bộ và quần chúng cách mạng, nhưng không quên phê phán những mặt trái, những nhân tố tiêu cực nảy sinh trong hàng ngũ chúng ta. Ở Đất mặn, sắc thái trữ tình ấm nóng hay phân tích lạnh lùng, màu sắc bi hùng hay châm biếm đả kích đều gắn bó với thái độ tư tưởng rạch ròi của người viết. Anh phê phán những tư tưởng cục bộ, bản vị, thành tích chủ nghĩa. Anh phê phán một số không ít những cán bộ thoát ly đã biến chất, trở nên một thứ “công chức nửa nông nghiệp” dửng dưng với phong trào, hoài nghi vai trò của quần chúng, sống ký sinh ở cơ quan đoạn tháng tháng qua ngày để lo toan những lợi ích vụn vặt cá nhân. Những đoạn như thế có khi tách khỏi câu chuyện, nhưng không phải là không có tác dụng.

Trong Đất mặn, Chu Văn tập trung khá nhiều suy nghĩ về năng lực, phẩm chất của người cán bộ cách mạng. Anh khẳng định vai trò lãnh đạo hoặc cốt cán của những cán bộ lâu năm như Hà Vân, Cội, Thụ. Anh không quên một số nhược điểm và hạn chế của họ trước thực tế mới để nhấn mạnh sự cần thiết phải đào tạo lớp trẻ thành những người thay thế. Và lớp thanh niên trẻ, những người lớn lên từ lòng nôi chế độ, đã chiếm vị trí quan trọng trong cuốn truyện, mặc dù Chu Văn ít hiểu, ít thông thuộc về họ hơn là lớp cán bộ trưởng thành từ cuộc kháng chiến lần trước.

Trên những quan sát và nhận thức khái quát, Chu Văn dễ nhận ra những ưu điểm và nhược điểm của tầng lớp trẻ, lớn lên ở nông thôn mới, trong lòng xã hội mới. Cuộc sống mới với bản chất tốt đẹp dễ dàng thu hút họ vào quỹ đạo của nó, dù rằng mỗi người trong số họ cũng phải đi qua những bước đầu nhanh chậm, dài ngắn, quanh co khác nhau. Trong thử thách của cuộc sống sản xuất và chiến đấu, cả về nhân cách lẫn sự nghiệp, họ đã trưởng thành, đã được tôi luyện và lớn lên rõ rệt. Nhưng khó khăn không phải ở chỗ nhìn thấy được những đóng góp hiển nhiên ngày một lớn của tuổi trẻ ở tiền phương hay ở hậu phương. Điều có ý nghĩa hơn là đánh giá họ cho đúng và tận tình đào tạo họ thành những cán bộ lãnh đạo phong trào, quản lý xã hội, những người thừa kế xây dựng đất nước. Chỉ có xuất phát từ lập trường vô sản, từ lợi ích lâu dài của sự nghiệp cách mạng thì mới có cách nhìn, cách giải quyết đúng đắn vấn đề này. Mượn những lời lẽ và suy nghĩ của bác Hiệp, một công nhân già về hưu, và Hà Vân, bí thư huyện ủy − Chu Văn đã dừng lại ở khá nhiều chỗ để trình bày trực tiếp một quan điểm nhất quán về vấn đề này, đối lập với những tư tưởng so bì công lao, địa vị, thủ cựu, những lề thói sống lâu lên lão làng, những chủ trương muốn khống chế lớp trẻ ở mãi vị trí thừa hành.

Nhân vật Lê Thị Thảo, được xây dựng với khá nhiều công phu, khá nhiều yêu thương và tin cậy, chính là nhằm thể hiện vấn đề tư tưởng trung tâm ấy. Nếu bác Hiệp và bí thư Hà Vân đại diện cho lớp cốt cán trung kiên, hiện thân của những quan điểm sáng suốt và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ở địa phương, thì bên cạnh lớp cha chú ấy, Thảo đại diện cho lớp cán bộ trẻ, những người kế tục xứng đáng. Đặt bên cạnh Đản, Hoài, những người vừa có chút ít đóng góp đã tỏ ra địa vị, công thần, muốn khống chế, muốn lớp trẻ chịu “thần phục” mình, thì Thảo là biểu hiện của một thái độ, một lối sống trung thực, đúng đắn, “ngẩng cao đầu đi đến với Đảng”, cự tuyệt mọi hành vi cơ hội, luồn lọt. Bên cạnh các bạn cùng lứa tuổi, Thảo là đại diện tiêu biểu của họ. Anh kỹ sư Hà Đài thì tìm thấy ở Thảo “mẫu người quản lý” khi chợt nhận ra mình là “kiểu người thừa hành”, còn những Bích Lợi, Chu Thị Mai… thì tìm thấy ở Thảo những kết tinh về năng lực, trí tuệ và tâm hồn của mình.

Chu Văn đã chú ý đến sự lớn lên của nhân vật qua một số cái mốc trưởng thành (từ cô Thảo chưa chuẩn bị gì đột nhiên định gõ cửa chất vấn linh mục Bùi Văn Tứ đến cô Thảo ung dung khi đã tìm ra cách gặt lúa ở cánh đồng có bom từ trường; từ cô Thảo vừa nghe Đản đề xuất một biện pháp không lấy gì làm thích hợp đã vội thán phục đến cô Thảo chủ động đặt ra kế hoạch táo bạo sơ tán dân, lập làng chiến đấu…). Nhưng sự trưởng thành đúng là mới chỉ thấy rõ ở những điểm mốc, chưa phải một sự trưởng thành được làm sống lại qua cả một tiến trình sinh động. Sự phấn đấu của Thảo gian nan như thế, nhưng nhận thức tư tưởng của cô lại như “đủ sẵn” từ đầu. Dường như cô chỉ cần hành động để “buộc” người ta thừa nhận hơn là thực sự biến đổi, thực sự trưởng thành để được thừa nhận. Tâm trạng, nhận thức, hành động của nhân vật chưa thật ăn ý, chưa được phối hợp trong tính biện chứng của nó. Mặc dù còn những hạn chế trên đây trong miêu tả, mặc dù một số đặc điểm tính cách, diện mạo tâm lý chưa thật rõ do hiểu biết về lớp trẻ còn có hạn của người viết, nhân vật Thảo − theo tôi − vẫn là nhân vật thanh niên khỏe khoắn nhất trong truyện dài những năm gần đây, mang được khá nhiều nét điển hình của thế hệ trẻ lớn lên với sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, sản phẩm của chế độ, giàu khí phách và nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão cao đẹp, sống gắn bó giữa tình thương yêu của bạn bè, đồng chí, được lớp cán bộ cha anh dẫn dắt, ngày càng làm được những chiến công thần kỳ và ngày càng tỏ rõ khả năng xứng đáng kế tục cha anh. “Đây là những con người do chế độ ta sinh ra. Chúng ta đào tạo họ, xây dựng họ và một ngày sau đây, ta phải học họ, chịu sự lãnh đạo của họ” − Kết luận của bí thư huyện ủy Hà Vân chính là tư tưởng chủ đạo của tiểu thuyết Đất mặn.

Đất mặn mới là cuốn tiểu thuyết thứ hai, nhưng kể từ những truyện ngắn đầu tay thì Chu Văn cũng đã có ngót hai chục năm cầm bút. Nghĩa là những mặt mạnh và mặt yếu của anh cũng đã bộc lộ khá rõ ràng.

Bão biển dựa trên vốn hiểu biết khá kỹ lưỡng về một thực tế đã lắng lại, còn Đất mặn thì lại nhằm vào một thực tế vẫn đang cuộn chảy mà người viết còn chưa nắm chặt đến chi li, ngành ngọn. Thiếu một chất liệu sống cần thiết, anh đã không đào sâu được vấn đề trong các quan hệ nhân vật; xu hướng lấy những mảng sống quá khứ bù đắp cho sự thiếu hụt về mảng sống hiện tại, xu hướng lấy những đoạn bình luận ngoại đề “trợ giúp” cho hình tượng nhân vật… là những xu hướng đã có từ Bão biển, nay lại tăng thêm ở Đất mặn.

Ngòi bút Chu Văn có khả năng thích ứng với nhiều sắc thái, nhiều cung bậc tình cảm khác nhau. Ở Đất mặn có những trang bừng lên xúc động mãnh liệt, những tình cảm cao cả trước cuộc đời một bà mẹ cách mạng, có những trang phơi phới cái chất bốc, chất hăng say xốc nổi của tuổi trẻ háo hức lập công, có những trang trầm hùng, tràn ngập lòng mến phục trước một hành động cảm tử cao đẹp, có những trang âm thầm day dứt về những quằn quại của lương tri ở một kẻ  lầm lạc đang hối hận giày vò… Nhưng đặc sắc ở Chu Văn (mà có lẽ anh chưa phát huy nhiều) là chất hài, là tiếng cười với khá nhiều giai điệu, từ bông đùa hài hước, châm chích nhẹ nhàng độ lượng đến châm biếm đả kích sâu đậm… Anh biết giữ cho tiếng cười có chừng mực, thích hợp với đối tượng của nó, (trừ trường hợp nói về hai kỹ sư chữa lúa vàng lụi bằng hai cách làm, hai lập luận và đều có hiệu quả, tiếng cười đặt vào một tình huống kỹ thuật buông lửng ấy quả là không đúng chỗ !)

Kết cấu Đất mặn bị chi phối bởi hai mạch: cảm xúc anh hùng về cuộc sống sản xuất chiến đấu và nhiệt tình khẳng định việc đào tạo bồi dưỡng thế hệ trẻ. Nhiệm vụ người viết là thực hiện được sự gắn bó hai mạch cảm hứng chủ đạo đó bằng một cơ cấu hình tượng duy nhất. Thực tế tác phẩm cho thấy là, nếu để phác ra một bức tranh về cuộc chiến đấu thì ở đây còn thiếu khá nhiều khuôn mặt, nhiều cảnh ngộ; nhưng nếu để tập trung làm rõ “vấn đề cán bộ” thì nhiều nhân vật lại như chơi vơi, lơ lửng. Đất mặncàng lộ rõ nhược điểm lỏng lẻo trong kết cấu vốn có từ Bão biển.

Đọc Chu Văn, nhất là ở Đất mặn, người ta luôn có cảm giác về một cái gì tinh chất, thuần khiết bị trộn vào một cái gì thô tạp, cát sạn; nói khác đi, cảm giác về tính chất không hoàn hảo thường là rất rõ, như lọc ra được, qua từng chương từng đoạn. Tôi muốn nói là ở anh còn thiếu một sự gia công nghệ thuật cần thiết để hoàn chỉnh tác phẩm.

Đất mặn chưa phải là một bước tiến rõ rệt của Chu Văn sau Bão biển, nhưng không vì thế mà nó không nằm trong bước đi mạnh bạo của anh, đưa tiểu thuyết của mình tới gần những mảng nóng hổi của đời sống hiện tại.

1976

Nguồn: Lại Nguyên Ân, Văn học và phê bình, Nxb. Tác phẩm mới, 1984

Leave a Reply