Mấy ý kiến với tác giả của một bài văn học sử được mở đầu bằng những lời phê bình


Phùng Gia Thế

Đọc bài viết “Tiến trình tiểu thuyết Tạ Duy Anh (Nhìn từ lối viết)” của Đoàn Ánh Dương(1), tôi có cảm tưởng, anh chỉ lấy ý kiến của tôi (về Giã biệt bóng tối)(2) làm đà để anh tuôn văn mạch ngập tràn cảm hứng của mình về tiểu thuyết Tạ Duy Anh; sau khi có vài lời khá “cuồng nộ” với tôi, để gây không khí. Tất nhiên thế rồi.

Trong bài viết của mình, Đoàn Ánh Dương nói tôi “đã quá vội vàng và thiếu cẩn trọng trong phát ngôn”, anh chất vấn tôi về vấn đề “tiêu chuẩn trong và ngoài văn chương”, vấn đề “đọc thủng văn bản”, “lối viết ám chỉ”; và, nếu tôi coi Giã biệt bóng tối là một “sự bế tắc” thì anh lại cho đó là “tín hiệu thông báo về sự thay đổi, một dấu hiệu chuyển động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại”,…

Tôi xin có mấy lời nói lại với tác giả như sau.

1. Cùng viết về Tạ Duy Anh, cụ thể hơn, là về lối viết của Tạ Duy Anh, song, bài viết của anh và của tôi khác hẳn nhau. Anh nghiêng về viết lịch sử, còn tôi viết phê bình. Tôi viết về một tác phẩm của nhà văn, trong khi anh viết về các tiểu thuyết của ông. Anh thiên về kể chuyện, còn tôi làm việc ngay với văn bản. Anh thiên về ngợi ca, tôi lại nghiêng về phê phán. Anh quan tâm đến cái mới, còn tôi quan tâm đến “cái mới gì?”. Anh trình bày một Tạ Duy Anh, tôi nói vui: “Tạ Duy Anh bản kỉ” (hay “liệt truyện”?), còn tôi thì chỉ viết một bài báo ngắn. Bài của anh tham gia Hội nghị thông báo kết quả nghiên cứu khoa học năm 2008 của Viện Văn học, còn bài của tôi viết gọn để có thể đăng báo.

Vấn đề khác nhau, thì đương nhiên thế rồi. Và như thế, thì cũng chẳng vấn đề gì.

Song, anh cho kết luận của tôi là “thiếu cơ sở khoa học”, “vội vàng”, cho tôi “thiếu cẩn trọng trong phát ngôn” và có “lối viết ám chỉ”,… thì thật buồn anh quá. Bài tôi ngắn, nhưng trình bày các ý rõ ràng, sau đó mới kết luận. Nhưng, điều tôi muốn nói trước hết, và một chút thôi, là về thái độ phê bình. Tôi hiểu, phê bình văn học luôn là vương quốc của sự tranh luận. Ở ta, từ khi văn học bước vào chuyên nghiệp, thì, các cuộc tranh luận văn học, nói giản dị hơn là các cuộc “cãi nhau văn học” diễn ra luôn. Có người gọi đó là các “vụ án văn chương”. Lớn có. Nhỏ có. Ngắn có. Dài có. Có cuộc có ý nghĩa. Có cuộc không. Có khi còn vô bổ. Tranh luận văn nghệ thường xuyên bị (hoặc tự) biến thành đấu tranh chính trị, bị/được tư tưởng hoá, hợp tác hoá, công nghiệp hoá, xã hội hoá, thậm chí còn: thoá mạ hoá. Chuyện văn chương, nhiều khi trở thành chuyện cãi vã, yêu ghét cá nhân. Nhìn chung, rất ít vấn đề lí luận được giải quyết cho triệt để. Chiến tranh: thì thôi. Bận công chuyện làm ăn: thì thôi. Tự thấy chán rồi: thì thôi. Mỏi tay, hết hứng, thậm chí, bút hết mực: cũng thôi nốt. Nói chung là buồn. Nhưng tôi chán nhất là lối tranh luận văn chương kiểu suy diễn từ ngữ hoặc “quá khích”, cứ muốn ăn tươi người khác. Lối tranh luận này, khiến người ta không muốn trao đổi lại. Tôi và anh, sau này, nếu có tranh luận với nhau, thì hãy tránh xa những điều đó ra, anh nhé. Bởi, sẽ có lúc, biết đâu, nghĩ về những lời lẽ thái quá của mình, với đồng nghiệp mình, lại không tránh khỏi sự bẽ bàng.

2. Còn về “tiêu chuẩn” đánh giá văn học ư? Thì đó. Tôi đi vào cái nhìn, điểm nhìn, kết cấu, ngôn từ, giọng điệu, còn anh kể chuyện tác giả ở công trường thuỷ điện Hoà Bình, rồi về trường viết văn Nguyễn Du, trăn trở của nhà văn, sự tự “làm sạch” mình của ông… Tôi nhận xét trực diện những đặc điểm nghệ thuật của văn bản, còn anh thì tường thuật chuyện hơi nhiều. Tất nhiên, tôi không nói là anh không phân tích văn bản. Cũng xin nói luôn, tôi yêu quí Tạ Duy Anh chắc không ít hơn anh. Tôi thích Bước qua lời nguyền của ông. Nhưng Giã biệt bóng tối của ông thì dở. Tôi thất vọng. Thì điều đó cũng chẳng sao. Có điều: tôi đẩy văn bản ra để đánh giá cho khách quan, trong khi anh lại kéo nó lại quá gần. Làm thế, theo tôi, văn bản dễ trở thành một “điểm nhoè” đối với sự cảm thụ. Ca ngợi sẽ nhiều. Phê phán đương nhiên ít hơn. Và, không tránh khỏi có phần chung chung chiếu lệ đâu. Rồi nữa, phân tích Lão Khổ, anh cho Lão Khổ là “một thành công rất đáng kể của Tạ Duy Anh, nhất là việc nó chỉ xuất hiện sau Khúc dạo đầu có một năm trời”. Anh ghi nhận ý thức thay đổi lối viết của nhà văn bằng cả tiêu chí: nó xuất hiện sau tác phẩm trước đó một năm, thì tôi chịu.

Đó, ai nhìn văn chương thiên về những tiêu chuẩn nào, chắc tôi không phải nói thêm nữa.

3. Điều tiếp theo anh nói, về tên cuộc toạ đàm, là với Tạp chí Văn nghệ quân đội (xem LTS trước bài viết của tôi), nơi tôi đăng bài, và với người đọc, chứ không phải với tôi. Việc với tôi thật giản dị. Tạ Duy Anh là cây bút đã nổi tiếng. Giã biệt bóng tối ra đời. Tôi “search” trên mạng, thấy nhiều người khen quá. Tôi không quen “nói ngược”. Nhưng, đọc Giã biệt bóng tối của ông, tôi thấy thất vọng. Thế thôi. Tôi không “ám chỉ” ai làm gì. Anh lên mạng mà xem. Các bài ngợi ca, nhiều lắm. Tôi không đùa. Còn, phát ngôn của tôi về Giã biệt bóng tối, là phát ngôn của tôi. Xin nói luôn, tình yêu văn chương và trách nhiệm với phát ngôn của mình, ở tôi, chắc cũng không ít hơn anh.

4. Tôi tự hỏi, với cách đọc, cách viết, cách khen chê… như anh, thì không hiểu: là anh, hay tôi không đọc thủng văn bản tác phẩm đây? Tôi lấy ví dụ nhé.

Khi đánh giá Lão Khổ, để so với Khúc dạo đầu (như tôi đã nêu trên), anh viết: “Tuy nhiên, chính ở chỗ này, nếu xét riêng về ý thức thay đổi lối viết thì Lão Khổ lại là một thành công rất đáng kể của Tạ Duy Anh, nhất là việc nó chỉ xuất hiện sau Khúc dạo đầu có một năm trời”…

Còn đây là một vài đoạn anh phân tích Đi tìm nhân vật: “Đi tìm nhân vật là một tiểu thuyết phức tạp, vì vậy, trước khi đi vào tìm hiểu lối viết (mà tôi vẫn khẳng định là chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây), tôi muốn lược lại ở đây vài nét gợi lại sự kết dính của câu chuyện. Tiểu thuyết xoay quanh nhân vật Chu Quý, một nhà báo luôn quan tâm đến những vấn đề về cái chết”…; “Xác tín ở sự vong bản, tác giả để cho các nhân vật của mình không rơi vào lạc lõng thì cũng buộc phải chấp nhận cái chết (vợ tiến sĩ N, nhà văn Bân, Thảo Miên,…). Điều đó khẳng định rằng nếu chấp nhận không còn cá tính, cuộc sống sẽ đơn điệu rồi tự diệt; nếu cố gắng xác lập một vài giá trị cá nhân riêng lẻ, thì y rằng hành vi đó sẽ bị nhân quần vụ lợi, trở thành kẻ cô đơn, thậm chí dị thường, đối địch và cuối cùng vẫn là tự diệt. Đó là mai hậu của sự sống phi lý này. Song không hẳn vì thế mà tiểu thuyết gieo vào lòng người đọc nỗi bi lụy, trái lại là một khích động: can đảm lên, đừng sợ!”…

Anh gọi Tạ Duy Anh là “tài năng Tạ Duy Anh”, “tài năng tiểu thuyết Tạ Duy Anh”, “Nhưng tại sao lại là Tạ Duy Anh?”,… Và anh đánh giá: “Vì vậy, nhìn từ lối viết, những trăn trở với thời cuộc luôn là vấn đề xuyên suốt hành trình tiểu thuyết Tạ Duy Anh. Từ đời sống công trường thủy điện Hòa Bình những năm 80, quá khứ gần của cải cách ruộng đất 52 – 54 đến quá khứ xa của một tập tính nông thôn như một bản sắc cá tính dân tộc, những khát khao đời sống trần tục hằng ngày đến cái bóng phủ trùm của một “quyền lực tuyệt đối vắng mặt”,… tất cả hiện diện trong từng sáng tác của Tạ Duy Anh. Có thể khẳng định ý thức trực diện với đời sống là một đặc điểm nổi bật trong sáng tác của nhà văn. Ngay cả khi tiếp cận đời sống từ cái nhìn phi lý, ở chiều sâu bản thể, Tạ Duy Anh vẫn ít nhiều “cấy ghép” vào thế giới nghệ thuật của mình những vấn đề bức thiết mà đời sống đương đại đặt ra”…

Tôi đọc Giã biệt bóng tối, theo cách của tôi (xoáy vào ba ý, bốn điểm), thủng hay chưa, hãy để những người quan tâm nhận xét.

5. Bàn về lối viết, song tác giả lại nói quá nhiều về “cái được viết”. Nhiều khi không khỏi lan man. Nhưng chuyện đó không nói ở đây. Ta hãy trở lại với nhận định ban đầu của anh, rằng Giã biệt bóng tối là “tín hiệu thông báo về sự thay đổi, một dấu hiệu chuyển động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại”.

Trước hết, hãy xem lại chính những lời anh “chê” Tạ Duy Anh.

Ta bỏ qua Khúc dạo đầu, vì nó là “khúc dạo đầu”. Về Lão Khổ, anh viết: “Song có điều, nếu soi các tiêu chí này vào tiểu thuyết Lão Khổ thì một điều rất dễ thấy là Tạ Duy Anh mới chỉ làm được ở những dấu hiệu hình thức, trong khi cái chiều sâu của bản chất thể loại lại không giản đơn nằm ở những vấn đề hình thức đơn thuần, những tuyên ngôn bộc bạch đến thế. Hình thức của Lão Khổ, vì vậy, đã không tương thích với khát vọng thẩm mỹ bên trong. Cái áo ấy tỏ ra lỡ cỡ với “thân thể nghịch dị” ở cả hai phía, do anh thợ may chưa lành nghề là một nhẽ, nhưng quan trọng hơn, do cái thân xác kia đã quá ư phức tạp”; “Mặc dầu vậy, nếu đánh giá một cách khắt khe, Lão Khổ là một bài “tập việc” tốt, ở cả khả năng tư duy với cái mới, cả khát khao đổi mới và tài năng “ứng dụng” cái khác lạ vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam; còn ở góc độ một sáng tác, tiểu thuyết chỉ đáng giá một tiểu thuyết trung bình dù hiện thực xã hội Việt Nam mà nó đề cập đến ở nhiều chỗ là đã sâu sắc. Nó trung bình ngay ở chỗ không nói mới được một cái đã có, là truyện ngắn Bước qua lời nguyền”.

Anh đánh giá cao Đi tìm nhân vật của tác giả và coi đó là tác phẩm khẳng định “độ “chín” thực sự của tài năng tiểu thuyết Tạ Duy Anh” (cách đặt vấn đề, nỗ lực đổi mới ngòi bút). Đến Thiên thần sám hối, anh viết: “Nếu xét về các câu chuyện được kể thì tác phẩm chẳng mấy khác tập bút ký Vượt cạn của bà Mộng Sơn được nhà Thế giới in từ những năm 50: tập bút ký của một người mẹ viết về những ngày sống trong viện phụ sản những năm Hà Nội tạm chiếm. Cái khác biệt của Tạ Duy Anh trong tiểu thuyết này chính là lối viết, thái độ của tác giả đối với hiện thực và cách thể hiện cái hiện thực ấy lên trang giấy. Nếu trước kia Mộng Sơn viết trong tình cảm chia sẻ nồng hậu thì nay Tạ Duy Anh viết bằng giọng khách quan lạnh lùng. Chính giọng điệu ấy đã khiến nhiều người đọc cảm thấy Thiên thần sám hối vượt quá ngưỡng cảm xúc của mình”.

Và đây, anh nhận xét về Giã biệt bóng tối: “Vấn đề cần tạo một lối viết mới cho riêng mình, vô thức hay hữu thức, đã khiến Tạ Duy Anh xây dựng một thế giới nghệ thuật mà mọi yếu tố, mọi cấp độ đều sử dụng triệt để giọng điệu giễu  nhại. Nếu đọc một cách hệ thống, sẽ thấy biểu hiện đó từ cấp độ nhại từ vựng (hiện tượng “iếchóa”), nhại phong cách ngôn ngữ (nhân vật không nói như vai xã hội của mình), nhại phong cách thể loại (5 cái chết là 5 câu chuyện cổ tích kết thúc không có hậu), và nhại lối viết (cố tình “giật tít” để chỉ rõ chỗ nào là thay đổi điểm nhìn, đổi ngôi kể,… tức những kĩ thuật tiểu thuyết hiện đại mà khi không cần những tiêu đề này tác phẩm vẫn có thể đọc hiểu một cách khá thuận lợi, tức không cần có sự hỗ trợ đó). Bởi khi đã cười nhạo vào một hiện tượng thì chí ít trong tiếng cười đó cũng đã lấp ló một thuộc tính nhận thức, một ý thức phản tỉnh. Điều này làm nảy ra trong suy nghĩ người đọc một niềm hoài nghi, một cảm giác như tiểu thuyết muốn giễu cợt sự ù lì của nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại”…

Anh lại mâu thuẫn với chính mình. “Vấn đề cần tạo một lối viết mới cho riêng mình”, thì sao lại là “vô thức hay hữu thức, đã khiến Tạ Duy Anh…”?

Tôi nghĩ, đó phải là ý thức tự giác triệt để chứ.

Giã biệt bóng tối, nếu chỉ có thế (“mọi yếu tố, mọi cấp độ đều sử dụng triệt để giọng điệu giễu nhại”), thì làm sao trở thành “tín hiệu thông báo về sự thay đổi, một dấu hiệu chuyển động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, như anh nhận xét được. Nếu thế thì, trước Tạ Duy Anh, chúng ta có đến hàng chục “tín hiệu thông báo” rồi. Ta hãy thử với một thôi: Khải huyền muộn (2005) của Nguyễn Việt Hà, chẳng hạn. Anh xem, trong đây đâu đâu cũng là những hình tượng giễu – nhại: giễu nhại quan chức: “Dãy ghế hạng nhất nhan nhản những khuôn mặt nhờn tanh căng mỡ của các quan chức cấp huyện”, “Sếp ngồi quay lưng lại cửa ra vào vì mải chơi game trên computer”; “Quan chức thì bao giờ cho hết lầm lẫn…; giễu nhại người mẫu: “người mẫu đang là đề tài thời thượng chỉ sau cave”; giễu nhại báo chí: “Báo chí ở ta thường tự tin là có dân trí thấp nên đầy ngạo mạn trịch thượng”; giễu nhại đạo diễn: “Các đạo diễn với mặc cảm mình đã là thằng mất dậy, nên luôn luôn nhồi vào mồm đám diễn viên những câu đẫm đầy đạo đức”; giễu nhại bà văn sĩ Bỉ trong một buổi toạ đàm văn học của ta đã“đọc Truyện Kiều tóm tắt bằng văn xuôi và khẳng định một nữ tác gia như Nguyễn Du xứng đáng là một nữ thi sĩ”;…

Hình như, không giống với giọng nhại ở các nhà tiên phong thời đầu đổi mới, thường có phần xót xa bi đát, cay độc, nhại trong văn Nguyễn Việt Hà gắn nhiều hơn với sự bỡn cợt, với cái giễu. Và, với lối tự nhại, văn chương chẳng những là sự hoài nghi về các trật tự đời sống mà còn là sự nghi ngờ chính những khả năng, sứ mệnh mà người ta thường đặt ra cho nó. “Văn chương muốn nó tươi nó thật thì phải được đùa, mà đã run rẩy rồi thì bố ai dám đùa nữa”. Đấy là ý thức nhại của Nguyễn Việt Hà.

Trở lại với Giã biệt bóng tối. Về buổi toạ đàm “Tiểu thuyết Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Đoàn Ánh Dương tường thuật và nhận xét: “Tại buổi tọa đàm, nhiều ý kiến tán đồng ở chỗ Giã biệt bóng tối là một tiểu thuyết đọc được, có vấn đề nhưng xét trong mạch tiểu thuyết Tạ Duy Anh thì có thua sút so với Đi tìm nhân vật. Nhưng theo tôi đó mới chỉ là xét ở mặt chất lượng nghệ thuật còn xét về mặt tư duy nghệ thuật, rõ ràng Giã biệt bóng tối là một bước chuyển về mặt lối viết, đúng hơn là một câu hỏi về lối viết: tiểu thuyết bây giờ cần phải được viết như thế nào?”

Thật lạ! Viết thế, khác nào anh coi tư duy nghệ thuật của nhà văn (dù là về mặt lối viết, như anh nói!) chả có quan hệ gì với chất lượng nghệ thuật của tác phẩm. Tôi thì nghĩ khác: trình độ tư duy nghệ thuật của nhà văn sẽ quyết định đến chất lượng của tiểu thuyết. Rồi nữa, đến cái nhan đề anh đặt cho phần này là “Giã biệt… lối viết”, thì quả tình tôi không hiểu gì cả.

Với một “tiến trình tiểu thuyết” như vậy, không thể coi là bế tắc được sao?

Các đề mục trong bài của anh là: “Khúc dạo đầu…”, “Viết…”, “Đi tìm… lối viết”, “Viết…”, “Giã biệt… lối viết”,… há chẳng phải là sự phản ánh “sự bế tắc của một lối viết” hay sao?

Mà thôi, dẫn chứng như vậy là đủ rồi. Để tiện theo dõi, lại tránh hiểu lầm tôi cắt xén văn bản, phân tích xuyên tạc, xin bạn đọc quan tâm hãy đọc cả bài của anh, theo tài liệu đã dẫn trên…

Hẳn là, tiến trình tiểu thuyết Tạ Duy Anh chưa dừng lại ở đây. Trên bìa cuốn Giã biệt bóng tối, tôi thấy người ta ghi: “Nhà văn Tạ Duy Anh – tác giả của tiểu thuyết Sinh ra để chết (chưa công bố)”.

Chúng ta hãy cùng chờ xem, và hi vọng…

Bài viết này của anh, như đã nói, không (hẳn) để tranh luận với tôi, nhưng có nhắc đến ý kiến của tôi, nên tôi xin có vài lời nói lại. Còn, đọc bài của anh, tôi thấy: đấy là cách đọc của anh. Tôi tôn trọng cách đọc ấy. Bởi, tôi hiểu, phê bình, suy cho cùng, dù là phê bình “khoa học” (có chăng?), thì vẫn chỉ là những “sự diễn dịch” văn bản, theo cách này hay khác mà thôi.

Còn, ý kiến của tôi về Giã biệt bóng tối, sau khi đọc bài của anh?

Là điều tôi đã nói rồi.


(1) http://vannghequandoi.com.vn/binh-lun-vn-ngh/tieu-m-vn-ngh/10–tieu-m-vn-ngh/4143-tin-trinh-tiu-thuyt-t-duy-anh-nhin-t-li-vit.html

(2) Sự bế tắc của một lối viết, Văn nghệ quân đội, số 696, 3 – 2009; hoặc xem trên: http://vannghequandoi.com.vn/binh-lun-vn-ngh/tieu-m-vn-ngh/10–tieu-m-vn-ngh/4086-s-b-tc-ca-mt-li-vit.html

Leave a Reply